1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRIẾT lý PHẬT GIÁO, NHO GIÁO và NHỮNG ẢNH HƯỞNG đến đời SỐNG của NGƯỜI dân VIỆT NAM HIỆN NAY

40 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 81,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do bản chất từ bi hỉ xả phù hợp với những giá trị vănhóa truyền thống dân tộc, Phật giáo đã nhanh chóng tìm được chỗ đứng vững chắc trên đấtnước ta và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÁO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO

NGƯỜI THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ THÚY

Tp.Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2019

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

I Lý do chọn đề tài 3

II Đối tượng nghiên cứu của đề tài 4

III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

IV Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4

PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG I: TRIẾT LÝ PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 5

I TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO 5

1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Phật giáo 5

2 Nội dung tư tưởng triết học Phật giáo 7

2.1 Thế giới quan Phật giáo 7

2.2 Nhận thức luận Phật giáo 9

2.3 Nhân sinh quan Phật giáo 13

II ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM 15

1 Sơ lược sự hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam 15

2 Những ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam 17 2.1 Những ảnh hưởng tích cực 17

2.2 Những ảnh hưởng tiêu cực 21

2.3 Kế thừa những gia trị tích cực của Phật giáo trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam 23

CHƯƠNG II: TRIẾT LÝ NHO GIÁO VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 25

1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Nho giáo 25

1.1 Nho giáo nguyên thủy 25

1.2 Hán Nho 25

1.3 Tống Nho 26

1.4 Lịch sử triết học nho gia ở nước ta 26

2 Nội dung triết học Nho giáo 27

2.1 Tu thân 28

2.2 Hành đạo 29

2.3 Một số Triết Gia tiêu biểu: 30

II ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM 34

1 Những tác động tích cự của Nho giáo 34

1.1 Nho giáo ảnh hưởng đến cá nhân 34

Trang 3

1.2 Nho giáo ảnh hưởng đến tập thể 34

1.3 Nho giáo ảnh hưởng đến xã hội 35

1.4 Nho giáo trong trường học 35

1.5 Nho giáo có tính quốc gia 35

2 Hạn chế của nho giáo 36

KẾT LUẬN 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Phật giáo và Nho giáo là những hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng đối với nền vănminh nhân loại nói chung và nền văn minh Á Đông nói riêng, trong đó có Việt Nam Lịch sửdân tộc Việt Nam kể từ khi có sự giao lưu, tiếp xúc với bên ngoài đã gắn liền với quá trìnhtiếp biến những ý thức hệ tư tưởng từ các nền văn minh khác, mà trước hết là Phật giáo vàNho giáo Dân tộc Việt Nam đã trải qua một quá trình lâu dài tiếp thu có chọn lọc những giátrị cốt lõi của Phật giáo và Nho giáo để từ đó kết hợp với những bản sắc riêng của cư dân bảnđịa hình thành nên một nền văn hóa riêng, mang đậm bản sắc Việt Nam

Phật giáo xuất hiện từ miền Bắc Ấn Độ vào cuối thế kỉ thứ VI trước Công nguyên, làmột tôn giáo với nội dung cơ bản đề cập đến việc lý giải căn nguyên của nỗi khổ và tìm conđường giải thoát con người khỏi nổi khổ triền miên đó Phật giáo khởi thủy ở Ấn Độ sau đótruyền đi khắp các xứ lân cận Trước hết sang các nước Trung Á rồi sang Trung Hoa, NhậtBản, Việt Nam và các nước miền Nam Châu Á Phật giáo đến với người Việt Nam từ rất lâuđời, vào khoảng nửa cuối thế kỉ thứ I Do bản chất từ bi hỉ xả phù hợp với những giá trị vănhóa truyền thống dân tộc, Phật giáo đã nhanh chóng tìm được chỗ đứng vững chắc trên đấtnước ta và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam không chỉ

từ trong giai đoạn đầu của lịch sử dân tộc mà còn kéo dài đến ngày nay Vì vậy việc tìm hiểu

về Phật giáo và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa tinh thần của người ViệtNam là hết sức cần thiết

Nho giáo do Khổng Tử sáng lập thời Xuân Thu và được tiếp tục bổ sung, hoàn thiệnsuốt chiều dài của chế độ phong kiến Trung Hoa, từ khi xuất hiện đến cuối thời phong kiến,Nho Giáo luôn là một trong những trường phái triết học đóng vai trò quan trọng và có ảnhhưởng không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở nhiều nước Châu Á khác, trong đó có Việt Nam.Triết học Nho giáo chủ yếu bàn về các vấn đề chính trị, đạo đức luân lý Người Việt đã kếthừa và tiếp biến quá trình truyền bá Nho giáo của người Trung Hoa vào Việt Nam theo tinhthần thực tiễn của dân tộc Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Nhogiáo đã góp phần to lớn trong việc kiến tạo bộ mặt văn hoá, xây dựng đời sống tinh thần ViệtNam Đặc biệt, chúng ta lại không thể không nói tới con người Việt với phương châm sống

có phép tắc, khuôn mẫu đạo đức nhất định theo tinh thần “Nho giáo”, đồng thời còn là biểutưởng tự hào về truyền thống văn hoá dân tộc, là nguyên khí tinh thần độc lập, tự cường củamột dân tộc, đó chính là bản sắc riêng của con người Việt Nam

Trang 5

Với những ảnh hưởng và tác động to lớn của Phật giáo và Nho giáo trong tiến trình lịch

sử dân tộc Để có nhận thức đầy đủ về nội dung triết lý và có những đánh giá đúng đắn vềnhững đóng góp và ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo đối với đời sống con người Việt Namtrong quá khứ và hiện tại, tôi quyết định chọn đề tài “Triết lý Phật giáo, Nho giáo và nhữngảnh hưởng đến đời sống của người dân Việt Nam hiện nay” làm tiểu luận kết thúc môn họcTriết học Mac – Lenin

II Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong tư tưởng triết học Phật giáo, triếthọc Nho giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam hiệnnay

III Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

- Làm sáng tỏ những luận điểm cơ bản trong nội dung triết lý Phật giáo và Nho giáo

- Đánh giá những tác động, ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo đối với đời sống vănhóa tinh thần của người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và đề xuất những giải pháp để pháthuy hơn nữa những mặt tích cực và khắc phục những mặt tác động tiêu cực của Phật giáo vàNho giáo đối với sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

IV Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để làm rõ nội dung nghiên cứu đã đề ra, đề tài dựa trên cơ sở thế giới quan và phương phápluận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời kết hợp với một sốphương pháp nghiên cứu khoa học khác như phương pháp: Phân tích - tổng hợp, đối chiếu - sosánh, hệ thống hoá, diễn dịch, quy nạp để nghiên cứu, phân tích và trình bày đề tài

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I

TRIẾT LÝ PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

I TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO

1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Phật giáo

Phật giáo là một trào lưu triết học xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Côngnguyên khởi nguồn từ miền Bắc ẤN Độ Người sáng lập ra Phật giáo tên là Siddharta - TấtĐạt Đa Ông là thái tử của một nước nhỏ ở Bắc Ấn Độ lúc đó (nay thuộc đất Nepal)

Ông sống trong cung điện suốt thời thơ ấu, nhưng khi trưởng thành ông đã bắt đầukhám phá những sự việc bên ngoài cung thành Trên đường phố nọ, ông thấy một ngườibệnh, một lão già, và một xác chết, khiến cho ông suy nghĩ về bản chất khổ đau của cuộc đời.Khi nhìn thấy một vị khất sĩ thong dong tự tại, ông nhận thức đến khả tính giải thoát khỏivòng luân hồi Và vì vậy, năm hai mươi chín tuổi, ông rời hoàng cung, rũ bỏ trang phụchoàng gia, và thực hành đời sống của một vị khất sĩ thong dong

Ông đã tham học với các vị đạo sư lớn của thời đại ông và thông đạt những kỹ thuậtthiền định của họ nhưng khám phá ra rằng chúng không đưa tới giải thoát Trải qua 6 nămông thực hành khổ hạnh nghiêm khắc trong rừng, nhưng rồi nhận thấy rằng sự hành hạ thânxác không thuần hóa được tâm, nên ông tu theo con đường trung đạo giữ gìn thân thể khỏemạnh cho lợi ích của việc tu tập tâm linh mà không phóng túng chạy theo các tiện nghi khôngcần thiết

Ngồi dưới gốc cây Bồ đề nơi mà ngày nay là Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) tại Ấn Độ,ông nguyện không đứng dậy cho đến khi đạt thành giác ngộ viên mãn Vào đêm trăng tròntháng tư âm lịch, ông đã hoàn thành tiến trình tẩy trừ tất cả vô minh và phát triển tất cả thiệnpháp, và ông đã trở thành đức Phật giác ngộ hoàn toàn Lúc đó ông đã 35 tuổi, và 45 năm kếtiếp ông đi giảng dạy giáo pháp mà ông đã chứng ngộ qua kinh nghiệm tự thân cho nhữngngười đến để nghe

Đạo Phật có hai nhánh chính Tiểu thừa (Hinayana), hay Cỗ Xe Nhỏ, nhấn mạnh đến sựgiải thoát cá nhân, trong khi Đại thừa (Mahayana), hay Cỗ Xe Lớn, chú trọng đến việc tu tậpthành một vị Phật toàn giác để phổ độ chúng sinh một cách hoàn hảo nhất Mỗi nhánh lại cónhiều phân nhánh Tuy nhiên, hiện nay, ba hình thức chính còn tồn tại: một là Tiểu thừa,được biết như Theravada, ở Đông Nam Á, và hai nhánh Đại thừa, đó là các truyền thống Phật

Trang 7

Truyền thống Tiểu thừa lan rộng từ Ấn Độ đến Tích Lan (Sri Lanka) và Miến Điện(Mianmar) vào thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, và từ đó đến Vân Nam (Yunnan), phía TâyNam Trung quốc, Thái Lan, Lào, Cao Miên (Cambodia), miền Nam Việt Nam và NamDương (Indonesia) Không lâu sau đó, những chiếc túi của các thương nhân người Ấn Độtheo đạo Phật đã được tìm thấy ở vùng duyên hải Bán Đảo Ả Rập, và thậm chí xa hơn nhưAlexandria, Ai Cập Các hình thức khác của Tiểu thừa cũng lan đi từ thời đó đến Pakistan,Kashmir, Afghanistan, vùng phía Đông và duyên hải của Iran, Uzbekistan, Turkmenistan vàTajikistan ngày nay Đây là những tiểu bang cổ xưa của Gandhara, Bactria, Parthia vàSogdia Từ căn cứ này ở vùng Trung Á, các hình thức đạo Phật Tiểu thừa này lan rộng hơnvào thế kỷ thứ hai sau công nguyên đến phía Đông Turkistan và xa hơn vào Trung Quốc, rồiđến Kyrgyzstan và Kazakhstan vào cuối thế kỷ thứ bảy Các hình thức Tiểu thừa sau đó đượckết hợp với những nét đặc trưng của Đại thừa cũng đến từ Ấn Độ, để cuối cùng truyền thốngĐại thừa trở thành hình thức chiếm ưu thế của Phật giáo tại hầu hết vùng Trung Á.

Hình thức Đại thừa của Trung Quốc sau này lan đến Hàn Quốc, Nhật Bản và Bắc ViệtNam Một làn sóng khác sớm hơn của Đại thừa, kết hợp với các hình thức Shaivite của Ấn

Độ giáo, lan truyền từ Ấn Độ đến Nepal, Nam Dương, Mã Lai và các vùng ở Đông Nam Á,bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ năm Truyền thống Đại thừa Tây Tạng, bắt đầu từ thế kỷ thứbảy, kế thừa toàn bộ lịch sử phát triển của Phật giáo Ấn Độ, trải rộng khắp các vùng Hy MãLạp Sơn và đến Mông Cổ, Đông Turkistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan, phía Bắc Nội TrungHoa, Mãn Châu, Siberia và vùng Kalmyk thuộc Mông Cổ gần biển Caspian, thuộc phần Châu

Âu của nước Nga

Sự lan rộng của đạo Phật ở hầu hết Châu Á đã diễn ra một cách an hòa, theo nhiều cách.Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã lập ra tiền lệ Trước tiên, là một vị thầy, ông đã đến các vươngquốc lân cận để chia sẻ sự hiểu biết sâu sắc của mình với những ai có lòng quan tâm và muốnhọc hỏi Tương tự như thế, ông chỉ thị các tăng sĩ của ông đi khắp nơi để giải thích nhữnggiáo huấn của mình Ông không kêu gọi người khác chỉ trích và từ bỏ tôn giáo của họ hay cảiđạo theo đạo mới, vì ông không tìm cách thiết lập tôn giáo riêng của mình Ông chỉ cố gắnggiúp người khác vượt qua sự bất hạnh và khổ đau mà họ đang tạo ra cho chính mình, vì thiếu

sự hiểu biết Các thế hệ môn đồ sau này nhận nguồn cảm hứng từ tấm gương của đức Phật và

họ chia sẻ với người khác các phương pháp của ông mà họ thấy mang lại lợi lạc cho đời sốngcủa họ Đây là cách mà cái được gọi là “đạo Phật” hiện nay đã lan rộng và xa như thế nào

Trang 8

2 Nội dung tư tưởng triết học Phật giáo

2.1 Thế giới quan Phật giáo

Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo được thể hiện tập trung ở nội dung của baphạm trù là: vô thường, duyên và vô ngã

Vô thường, tiếng Phạn là Anitya, hàm nghĩa sự biến chuyển, thay đổi, không cố

định Tất cả mọi sự vật, hiện tượng trên thế gian đều vô thường Nói cách khác, sự vật khôngbao giờ đứng yên hoặc mang tính đồng nhất bất biến mà luôn vận động, lưu chuyển Từ sơn

hà, đại địa cho đến cỏ cây, hạt bụi và cả thân tâm con người luôn biến đổi, không bao giờ cốđịnh và phải chịu sự tác động của vô thường Không chỉ trong thế giới vật chất mà ngay cảtrong thế giới tâm thức, vô thường vẫn luôn hiện hữu

Con người, theo Phật giáo, là hợp thể của năm uẩn Trong đó, phần thân thể vật chất tứđại (sắc uẩn) thuộc về Sắc và phần tinh thần gồm cảm thọ, tri giác, tư duy và nhận thức thuộc

về Danh Năm uẩn hay danh-sắc này luôn ở trong trạng thái biến đổi như một dòng sông chảymãi không ngừng trong đời sống con người

Thân thể con người nếu nhìn thật sâu vào bản chất, nó chỉ là một trạm trung chuyển củacác yếu tố tứ đại Đất, nước, gió, lửa từ bên ngoài đi vào thân, sau đó lại đi ra và vòng tròn đóluân chuyển bất tận Nhờ sự vận hành ấy, thân này được nuôi dưỡng, lớn lên, già đi rồi hoàntrả về cho tứ đại Vì thế, khi các yếu tố tứ đại bị mất quân bình, bệnh tật xảy ra và khi dòngchảy tứ đại ngừng luân chuyển, cái chết ập đến Quá trình này, con người chỉ điều khiển đượcmột phần, còn đa phần là mất tự chủ Vì thế, chuyện sống chết, còn mất, có không của thânnày như gió thoảng, mây bay

Về tâm lý của con người cũng vậy, các trạng thái tâm lý luôn thay đổi, chuyển biếntrong từng sát na Tâm thức con người với muôn ngàn ý niệm tuôn trào, trôi chảy nhưthác lũ Tất cả vui buồn, thương ghét, tha thứ hay hận thù v.v , luôn hiện khởi và vận hànhtrong tâm thức

Tuy vậy, chúng ta cần phải cám ơn vô thường Bởi thực tế, nếu không có vô thường thì

sẽ không có sự sống và phát triển Nếu hạt lúa thường tại thì nó không bao giờ nảy mầm đểtrở thành cây lúa cho ra những hạt gạo trắng được Nếu sự vật không vô thường thì lịch sửtiến hóa của nhân loại sẽ không phát triển Nếu thân thể không vô thường thì con người sinh

ra không thể lớn lên Và nếu không có sự tác động của vô thường thì chúng ta sẽ không baogiờ có hy vọng chuyển hóa, đoạn tận các tập khí tham ái phiền não đang tiềm ẩn sâu kín trongnội tâm chúng ta Giáo lý vô thường đem lại tuệ giác, nhận thức đúng về bản chất của cácpháp đồng thời mang lại niềm tin cho mọi nỗ lực chuyển hóa, sáng tạo và phát triển của con

Trang 9

người Vì thế, vô thường là một khuôn dấu của Chánh pháp; những giáo lý nào không mangđặc tính của ấn pháp này thì không phải là Phật pháp.

Quan điểm về “duyên” (là điều kiện) giúp cho nguyên nhân trở thành kết quả Phật giáocho rằng, mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất đều không thoátkhỏi sự chi phối của nhân duyên: cái nhân(hetu) nhờ có cái duyên (prattiya) mới sinh ra màthành quả (phla) Qủa lại do cái duyên mà thành ra nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên màthành ra quả mới… Cứ thế, nối tiếp nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật muôn loài cứsinh sinh hóa hóa mãi theo quy luật nhân quả Nhân là năng lực phát sinh, duyên là lực hỗ trợcho nhân phát sinh Như cây lúa thì hạt lúa là nhân, nước, ánh sáng mặt trời, công cày bừagieo trồng là duyên Nhân duyên đó hội họp sinh ra cây lúa Tất cả mọi hiện tượng đều nươngnhau mà hành động Nói nương nhau có nghĩa là sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnhhưởng lẫn nhau mà thành Đó là nhân duyên Nhân nào quả ấy Con người do nhân duyên kếthợp và được tạo thành bởi hai thành phần: thể xác và tinh thần Hai thành phần ấy là kết quảhợp tan của Ngũ Uẩn Hai thành phần tạo nên Ngũ Uẩn, do nhân duyên hợp thành Mỗi conngười cụ thể có danh sắc(nâma-suna), Duyên hợp Ngũ Uẩn thì là ta, duyên tan Ngũ Uẩn thìkhông còn ta, là diệt Nhưng không phải là mất đi mà trở lại với ngũ uẩn.Ngay các yếu tố củangũ uẩn cũng luôn biến hóa theo quy luât nhân quả không ngừng

Vô ngã (Anatma) là giáo lý đặc thù của Phật giáo Giáo lý này là hệ quả của quá trìnhquan sát một cách sâu sắc nguyên lý duyên khởi Với quan điểm vô thường, chúng ta thấyđược sự vận động trong tự thân của sự vật và toàn thể Nếu nhìn sâu hơn qua lăng kính duyênkhởi, ngoài sự vận động thì bản chất của sự vật luôn mang tính không đồng nhất Mỗi sự vật,hiện tượng đều do các điều kiện, nhân duyên kết hợp, tương tác lẫn nhau mà tạo thành, dovậy tuyệt nhiên không có tính chủ thể, đồng nhất, bất biến trong nó Vì thế, Phật dạy: “Cácpháp vô ngã”

Khi thấy một chiếc lá vàng rơi, bình thường ta chỉ biết đó là chiếc lá vàng nhưng nếunhìn sâu thì trong chiếc lá kia có những khoáng chất của đất, có ánh sáng mặt trời, có nước từnhững đám mây, có gió của bầu trời… và có cả một chút bâng khuâng của lòng người Nhưthế, chiếc lá kia được tạo thành từ những yếu tố không phải là chiếc lá, trong nó có đầy đủ cả

vũ trụ Từ chiếc lá xanh, theo thời gian chuyển qua lá vàng, đó là sự vận động vô thường,nhưng dù là lá xanh hay vàng thì trong bản chất của chúng cũng do những yếu tố không phải

lá tạo thành (duyên khởi), chiếc lá vốn Vô ngã

Con người cũng vậy, là hợp thể ngũ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành và thức Bản chất của ngũuẩn là Không, không chủ thể, Vô ngã Tuy nhiên, vì nghiệp lực con người luôn lầm chấp thân

Trang 10

năm uẩn này là một hữu thể đồng nhất, có một “linh hồn” trường cửu, bất biến, không thayđổi Từ mê mờ về một cái “ngã, tôi” giả tạo ấy nên con người dễ dàng sanh ra tâm lý thamđắm, say mê, ôm ấp, bảo thủ và chấp chặt vào những gì thuộc về năm uẩn (cái của tôi) Thếnhưng, mọi sự vật hiện tượng luôn sinh diệt, chuyển biến trong từng sát na Sự sinh thành vàhoại diệt của năm uẩn là kết quả của các điều kiện nhân duyên và quá trình sanh già bệnhchết, hay hình thành, tồn tại-thay đổi, hoại diệt, tiêu hủy luôn là một sự thật cho mọi conngười, mọi loài và mọi vật.

Vì không nhận thức được tính vô ngã của vạn sự, vạn vật (vô minh) nên chấp thủ,tham ái phát sanh và đó cũng chính là cội nguồn của mọi tà kiến, khổ đau Quan điểm vô ngãkhông những xác quyết tính pháp định của Chánh pháp mà còn mang tính đặc thù của giáo lýđạo Phật

Như vậy thông qua các phạm trù vô thường, duyên và vô ngã triết học Phật giáo đã bác

bỏ quan điểm duy tâm cho rằng thần Braham sáng tạo ra con người và thế giới Phật giáo chorằng con người và sự vật được cấu thành từ các yếu tố vật chất và tinh thần , các sự vật củathế giới nằm trong quá trình biến đổi không ngừng

2.2 Nhận thức luận Phật giáo

Phật giáo cho rằng, sự nhận thức của con người được hình thành từ sự kết hợp giữa chủthể nhận thức và đối tượng nhận thức, thiếu một trong hai thứ này thì sự nhận thức không thể

có được Trong đó, Phật giáo cho rằng con người có sáu năng lực nhận biết về đối tượng, gọi

là Lục căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý Tương ứng với Lục căn là đối tượng trong khách thểnhận thức (gọi là Cảnh) gồm Lục trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp Khi Lục căn gặp Lụctrần trong quá trình nhận biết thì Phật giáo gọi là Lục nhập Sự gặp gỡ của Lục căn và Lụctrần trong quá trình nhận biết sinh ra cái biết, gọi là Thức, mà trước hết gồm có Lục thức:Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức Theo đó:

Nhãn căn lấy sắc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhãn thức

Nhĩ căn lấy thính trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Nhĩ thức

Tỷ căn lấy hương trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Tỷ thức

Thiệt căn lấy vị trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thiệt thức

Thân căn lấy xúc trần làm đối tượng, có thể phát sinh ra Thân thức

Mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi , tác dụng thấy, nghe, ngửi ấy là Thức Mỗi thức có mộttác dụng riêng, thức là một tác dụng vô hình, vô tướng Thức ở đâu cũng có và ở đâu có căn

và có cảnh thì tác dụng ấy có thể được biểu hiện

Trang 11

Phân biệt thuần tuý của năm thức ấy là một phân biệt bằng trực giác, nên không phải làmột phân biệt có tính cách suy tầm, đắn đo Phân biệt suy tầm đắn đo là phân biệt của thứcthứ sáu tức ý thức rộng lớn vô cùng Đối tượng của ý thức là Pháp trần sinh ra các tư tưởng.Khi thức này hợp tác cùng năm thức trước thì đối tượng tổng hợp của nó là ngũ trần (sắc,thanh, hương, vị, xúc).

Nếu năm căn trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) có quan năng phát sinh mang hình chất thìnăng lực thứ sáu (ý) có quan năng phát sinh không mang hình chất gọi là Mạt na (Mạt nathức) Phân tích các tác dụng của Mạt na, Phật giáo chia ra, Mạt na sinh ra cái biết (phân biệt)mang tính gián đoạn (biết khi tỉnh, không biết khi ngủ) gọi là Ý thức, Mạt na có tác dụngchấp ngã, tức chấp có Mạt na chấp cái biết của bảy năng lực trên đây và trở thành kho chứacủa bảy thức gọi là Alaya thức (Tàng thức)

Cái mà thức thứ bảy (Mạt na) chấp làm bản ngã là một phần của thức Alaya Thức này

là tất cả, là chỗ chứa đựng tất cả các hình ảnh do bảy thức trước khảm nhập vào, do đó dườngnhư không để mất đi một hình ảnh nào

Như vậy, khi bàn về lý tám thức sẽ là những căn cứ xuất phát để đi vào làm rõ các quan

điểm trong nhận thức luận của triết học Phật giáo Cụ thể thuyết Tam lượng hình thức cơ bản

của nhận thức luận Phật giáo

Lượng là lượng tính, là tính toán và so lường và cũng là sự phân biệt, cân nhắc vạn phápcủa Tâm thức để hiểu biết Lượng còn gọi là năng phân biệt Năng phân biệt có nghĩa là tâmthức có sức, có lực phân biệt vạn pháp Nói cách khác, lượng ở đây là chỉ cho Tâm thức thuộc

về chủ thể, có khả năng phân biệt vạn pháp và Tâm thức phân biệt có tính cách so lường thiệthơn, cân nhắc lợi hại, phân tích đúng sai để chọn lựa tinh tường, sâu sắc cho sự hiểu biết.Tâm thức nhờ phân biệt mới có thể hiểu biết rõ tính chất, giá trị và ý nghĩa của mọi vật nêngọi là Lượng

Trong triết học Phật giáo Hiện lượng được xem là hình thái đầu tiên của quá trình nhậnthức Hiện lượng nghĩa là hiểu biết trực tiếp những cảnh vật, đối tượng đã được hiện bày đầutiên và sự hiểu biết hiện lượng hoàn toàn không có ý niệm diễn dịch và suy luận Tác dụngnhận thức ở đây chỉ thuần tuý trực cảm, trực quan mà chưa có tính cách phán đoán và suyluận Năm thức đầu và ALaya thức là hai loại tâm thức luôn luôn nhận biết bằng Hiện lượng.Hình thái nhận thức thứ hai là Tỷ lượng Trong tiếng Hán, “tỷ” là so sánh, “tỷ lượng” lànhận thức thông qua sự so sánh Tỷ lượng cũng là xét đoán, tính toán theo sự so sánh đúngsai, cân nhắc lợi hại, phân biệt phải quấy, lựa chọn hơn kém của tâm thức để hiểu biết Đây

là sự hiểu biết của ý thức (thức thứ sáu) Ý thức hiểu biết vạn pháp qua ảnh tử do năm tâm

Trang 12

thức cung cấp Không giống như sự hiểu biết trực tiếp của năm tâm thức trước, ý thức hiểubiết vạn pháp qua sự suy luận, diễn giải, nghĩa là ý thức luôn luôn phân biệt được danh xưng,

ý nghĩa và tướng trạng từng sự vật một để nhận biết tính chất cũng như giá trị mỗi loại

Vậy, Tỷ lượng và Hiện lượng có hai đối tượng nhận thức khác nhau Đối tượng củaHiện lượng là Tự tướng với tính cách là cái riêng, cái đặc thù; trong khi đối tượng của Tỷlượng là Cộng tướng với tính cách là cái chung, cái phổ biến, toàn thể Cộng tướng có sự ngộchấp chủ quan của chủ thể, sự phản ánh của Tỷ lượng về cộng tướng chỉ là “giả hữu - giả có”(ước không, ước có)

Nhận thức theo Tỷ lượng có hai loại, đó là Chân tỷ lượng và Tợ tỷ lượng

Chân tỷ lượng có nghĩa là ý thức hiểu biết chính xác về tính chất, giá trị và ý nghĩa củavạn pháp hiện có mặt trong thế gian bằng sự suy luận và diễn giải Những hiện tượng ảnh tử

do năm thức đầu cung cấp đều phát sinh từ nơi những sự vật có thực chất trong thế gian nêngọi là chân và ý thức hiểu biết đúng những hiện tượng ảnh tử đó bằng sự suy luận và diễn giảinên gọi là Chân tỷ lượng

Nếu Chân tỷ lượng là sự hiểu biết chính xác về tính chất, giá trị và ý nghĩa của ý thứcthứ sáu về vạn pháp hiện có mặt trong thế gian bằng sự suy luận và diễn dịch thì Tợ tỷ lượng

là việc ý thức nhớ lại (hồi tưởng) và so sánh những quá trình nghiệm sống của mình để hiểubiết tính chất, ý nghĩa và giá trị từng loại trong cuộc đời Những quá trình nghiệm sống nóitrên đã được đúc kết lại thành những hạt giống và cũng đã được tàng trữ trong thể thứcAlaya Khi muốn nhớ lại thì ý thức phải nhờ thức Mạt na mang những hình ảnh của hạt giốngnày từ trong thể thức Alaya đưa lên để trình diện cho ý thức thứ sáu so sánh Sự so sánh nàycủa ý thức để hiểu biết được gọi là Tợ tỷ lượng, vì những hình ảnh đem so sánh này có phầnkhông thực chất và cũng không giống những sự vật hiện tượng có mặt trong thế gian

Hình thái nhận thức thứ ba trong triết học Phật giáo gọi là Phi lượng Thực ra, đâykhông phải là một hình thái nhận thức độc lập với hai hình thái nhận thức trước Hiện lượng

và Tỷ lượng có khi đúng và cũng có khi sai, mà mỗi khi sai thì đều là Phi lượng Hiện lượng

mà sai thì không phải là Chân hiện lượng mà là Tợ hiện lượng Tỷ lượng mà sai thì khôngphải là Chân tỷ lượng mà là Tợ tỷ lượng Tợ ở đây là có vẻ giống như cái đó nhưng thực rakhông phải là cái đó Chẳng hạn, khi ta đi trong đêm tối mà nhận lầm sợi dây làm con rắn thì

đó là Tợ hiện lượng; còn khi suy diễn sai một điều gì chẳng hạn thì đó là Tợ tỷ lượng

Như vậy, Phi lượng là sự xét đoán của Tỷ lượng và Hiện lượng nhưng sai lầm, khôngđúng sự thật Đây thường là sự hiểu biết của thức Mạt na, một sự nhận thức bằng tưởngtượng, nhận biết mang tính chất so đo, chấp trước Sự xét đoán, so lường của Mạt na thức

Trang 13

thường chấp trước những điều không đúng chân giá trị của hiện tượng thực tại nên gọi là Philượng Thức Mạt na luôn chấp trước nên khống chế và điều khiển ý thức nhận xét mọi việc vàthường bóp méo sự thật Sự hiểu biết vạn pháp của Mạt na thức không được vô tư mà lại haysai lệch nên gọi là Phi lượng.

Việc nêu ra và làm rõ các hình thái của quá trình nhận thức, có thể xem là một trongnhững đóng góp có ý nghĩa tích cực của triết học Phật giáo đối với sự phát triển của nhậnthức luận nói chung Với ba hình thái của quá trình nhận thức bao gồm: Hiện lượng, Tỷlượng và Phi lượng; trong đó Hiện lượng đã có phần nào giống với các hình thức nhận thứcđầu tiên (cảm giác và tri giác) của nhận thức cảm tính, còn Tỷ lượng lại bao hàm các hìnhthức nhận thức lý tính (biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy luận), trong đó biểu tượng làhình thức giao thoa giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Còn Phi lượng, không có gìkhác hơn, đó chính là sự sai lầm của Hiện lượng và Tỷ lượng, tức sai lầm của cả nhận thứccảm tính và nhận thức lý tính

Mỗi hình thái nhận thức nói trên cũng mang những sắc thái và những chức năng riêng.Hiện lượng nhận thức một cách trực tiếp, đúng thật; Tỷ lượng nhận thức một cách so đo, tínhtoán, suy diễn, phân biệt; Phi lượng thường mang đến những sự nhận thức sai biệt làm chokhác đi so với sự thật Nếu cái đích mà nhận thức luận Phật giáo hướng tới ở đối tượng là thếgiới Tánh cảnh thì ở các hình thái nhận thức đó phải là Hiện lượng Bởi chỉ với Hiện lượngthì con người mới có thể nhận thức được thế giới Tánh cảnh

Với sự ra đời của nhận thức luận là một kết quả tất yếu, do nhu cầu phát triển nội tại củabản thân triết học Nó không những có vai trò khá lớn đối với sự phát triển của triết học Phậtgiáo nói riêng mà nó còn có ảnh hưởng đến sự phát triển của tư tưởng nhận thức của cáctrường phái triết học khác nói chung trong lịch sử triết học

Nhận thức luận Phật giáo còn góp phần sáng tỏ và làm phong phú thêm hệ các vấn đềnhận thức nói chung, góp phần tích cực vào sự phát triển của tư tưởng loài người về nhậnthức, về hình thức và phương pháp nhận thức, về các cấp độ phát triển của nhận thức, về vaitrò của nhận thức Đặc biệt, nhận thức luận Phật giáo đã góp phần làm sáng tỏ các mục tiêucủa nhận thức, chỉ ra vai trò và giá trị của nhận thức đối với sự rèn luyện, tu dưỡng đời sốngđạo đức của con người, đời sống mà trong đó con người hoàn thiện và làm giàu sinh hoạt tinhthần của mình

Trang 14

2.3 Nhân sinh quan Phật giáo

Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sự vật duyênkhởi, chúng ta sẽ tìm hiểu về những quan niệm của đạo Phật về vấn đề nhân sinh quan Ởđây chúng ta sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi:

- Có phải cuộc sống chỉ toàn là đau khổ? Và vấn đề giải thoát trong đạo Phật là gì?

- Con người là gì? Từ đâu mà sinh ra? Chết rồi đi đâu? Vị trí của con người trong đạo Phật

- Quan niệm của Phật về các vấn đề: bình đẳng, tự do, dân chủ ?

Trước khi trả lời các câu hỏi trên chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích Tứ diệu đế vì đây làgiáo lý kinh điển của Phật giáo bao quát toàn bộ các vấn đề trên

Đầu tiên, thể hiện trong thuyết Tứ diệu đế, tư tưởng giải thoát Phật giáo có xuất phátđiểm từ nỗi khổ của cuộc sống con người Theo quan điểm của Phật giáo, thì ngay việc conngười sinh ra và tồn tại thì con người lại càng rơi vào vô minh, rơi vào những ảo tưởng giảtạo Chính vì thế nhiệm vụ và mục đích tối cao của sự giải thoát chính là xóa bỏ sự vô minhcủa con người để đạt tới sự giác ngộ với cái tâm sáng tỏ, có thể nhận ra chân bản tính củamình và thực tướng của vạn vật Có vậy mới dập tắt được ngọn lửa ái dục, thoát ra mọi khổnão của cuộc đời để đạt đến cõi Niết bàn (Nirvana) Vì vậy, mà đức Phật đã đưa Khổ đếthành chân lý thứ nhất Triết lý của đạo Phật khẳng định thực tại nhân sinh là khổ Phật đã nóitrong kinh Chuyển Pháp Luân rằng: Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ, tử là khổ, oán tănghội khổ, thụ biệt ly khổ, thụ ngũ uẩn khổ, sở cầu bất đắc khổ

1 Sinh khổ: đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chi phốinên khổ

2 Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ đến Cáigià vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, xương tủy thì da nhănnheo, xương tủy mệt mỏi Cái già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho người ta phiền não

3 Bệnh khổ: trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu, thân thể suynhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ

.4 Tử khổ: là cái khổ khi người ta chết Chứng sinh do nghiệp báo chịu cái thân nào thìgắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì phiền não vô cùng

5 Cầu bất đắc khổ (thất vọng): người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích,mong cầu hết cái này đến cái khác Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu được rồi thì phải

lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc

6 Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly

7 Oán tắng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình

Trang 15

8 Ngũ ấm xí thịnh khổ: ngũ ấm ấy là sắc ấm, thụ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức ấm Ngũ

ấm ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp

Như vậy, với Bát Khổ mà đức Phật đưa ra cũng đã khái quát rằng cuộc đời con ngườivốn đã là bể khổ

Thứ hai, trong Tập Đế, Ông đã nêu ra và lý giải căn nguyên của nổi khổ, tứcchỉ ra nguồn gốc, nguyên nhân của mọi nổi khổ Cũng như ở thuyết “Nhân – Duyên khởi”,nguyên nhân chính để gây nên nổi khổ của con người chính là lòng ái dục Nhưng sở dĩ có áidục là vì sự vô minh, từ cái mê lầm của con người do không nhận thức được bản chất của thếgiới Con người muốn tồn tại mãi nhưng thực tại lại cứ luôn biến dịch, con người muốntrường tồn nhưng cuộc đời cứ luân chuyển không ngừng nghĩ theo quy trình: sinh – lão –bệnh – tử; thành – trụ – hoại – không; sinh – trụ – dị – diệt Vì thế, con người mới sinh ralòng tham, lòng sân, lòng si, chiếm đoạt để rồi gây nên những nỗi khổ triền miên trong đời.Cùng với “Nhân duyên khởi”, đức Phật đưa ra thuyết “Thập nhị nhân duyên” để giải thíchcăn nguyên nổi khổ ấy, cùng với đó cũng vạch ra mối liên hệ của nghiệp từ quá khứ tới hiệntại, rồi từ hiện tại tới tương lai Mười hai duyên đó là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lụcnhập, xúc, thụ, aí, thủ, hữu, sinh, lão tử Mười hai duyên này nối tiếp nhau, chúng liên hệ vàchuyển hoá cho nhau, chúng vừa là “nhân” vừa lại là “quả” của nhân

Thứ ba, để con người có thể được giải thoát khỏi bể khổ thì phải diệt khổ, đóchính là mục đích tối cao của sự giải thoát Chân lý tối cao mà đức Phật đưa ra đó là diệt đế.Phật Tổ nói rằng: “Đó là sự xa lánh trọn vẹn, là sự tận diệt chính cái ái dục ấy Đó là sự rời

bỏ, sự khước từ, sự thoát ly và sự tách rời ra khỏi tâm ái dục Đó là chân lý cao thượng về sựdiệt khổ” , để đạt tới trạng thái Niết bàn; Niết bàn được xem là trạng thái tuyệt đối: trạng tháikhông tịch, diệt trừ mọi danh sắc, cảm giác, ý thức, trạng thái diệt mọi ái dục, vô vi, thanhtịnh, là hoàn thiện, vĩnh hằng, bất tử… Chính vì thế mà Long Thọ Bồ Tát đã viết: “Niết bàn

là ngừng định, ngừng hết tư tưởng vô và hữu, sắc và không”

Thứ tư, để thực hiện được mục đích và lý tưởng giải thoát, để đạt tới trí tuệ bátnhã, Phật giáo đưa ra thuyết về Đạo Đế Đạo đế là quan điểm về con đường, cách thức hayphương pháp giải thoát của đạo Phật Trong đó, con đường trung đạo như đã nói ở trên vớithuyết tiêu biểu là “Bát chính đạo” Tám con đường đó là:

1 Hiểu biết nhận thức đúng đắn (Chính kiến)

2 Suy nghĩ chân chính (Chính tư duy)

3 Hành động , làm việc chân chính (Chính nghiệp)

4 Chỉ nói những điều hay, đúng (Chính ngữ)

Trang 16

5 Sống một cách trung thực (Chính mệnh).

6 Cố gắng vươn lên theo con đường chân chính (Chính tịnh tiến)

7 Suy nghĩ chính pháp, gạt mọi tà niệm (Chính niệm)

8 Chuyên chú vào con đường chân chính để giác ngộ (Chính định)

Cùng với tám con đường này, đức Phật đưa ra những phương pháp thực hành tu luyệncho các phật tử để chủ động thực hiện điều tốt cho người và cho mình, ví như “Ngũ giới”,

“Lục độ” và “Thập thiện” Nói một cách khái quát, trong thuyết Tứ diệu đế, thì Khổ Đế vàTập Đế trình bày về sự khổ và nguyên nhân của nổi khổ Đây chính là điểm xuất phát của tưtưởng giải thoát trong triết lý Phật giáo Diệt Đế là quan điểm của Phật giáo về mục đích vànhiệm vụ tối cao của sự giải thoát, mục đích và nhiệm vụ ấy là xóa bỏ mọi vọng tưởng, thoátkhỏi mọi sự ràng buộc của thế giới vật dục, diệt ái dục để có thể giác ngộ, đến với Niết bàn.Còn Đạo Đế là con đường và cách thức giải thoát, đó là “Bát chính đạo”

Như vậy, với tư tưởng giải thoát mà đức Phật đưa ra đã thể hiện rất sâu sắc tính chấtnhân bản, nó quan tâm đến thân phận và đời sống của mỗi con người, giúp con người thoátkhỏi những nổi khổ của cuộc đời, tìm cho họ một niềm tin trong cuộc sống, một chỗ dựavững chắc và chỗ dựa vững chắc ấy không ở đâu xa lạ mà chính ngay trong tâm mỗi người.Theo đó, con đường và cách thức giải thoát trong triết lý Phật giáo rất giản dị, có ý nghĩa hếtsức thiết thực và phù hợp với đời sống hiện thực khách quan Nó chủ trương tu luyện toàndiện trên mọi lĩnh vực từ đời sống đạo đức luân lý đến tâm linh, trí tuệ

II ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT NAM

1 Sơ lược sự hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam

Theo đường biển, các nhà sư Ấn Độ đã đến Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên LuyLâu, trụ sở quận Giao Chỉ, đã sớm trở thành một trung tâm phật giáo quan trọng Từ đây, cónhững người như Khương Tăng Hội (gốc Trung Á) hoặc Ma-ha-kì-vực (Mahajivaka, nhà sư

Ấn Độ), đã đi sâu vào Trung Hoa truyền đạo Sau này, khi trả lời vua Tùy Văn Đế về tìnhhình Phật giáo Giao Châu, nhà sư Đàm Thiên đã nói rằng: “Xứ Giao Châu có đường thôngsang Thiên Trúc Phật giáo truyền vào Trung Hoa chưa phổ cập đến Giang Đông, mà xứ ấy

đã xây ở Luy Lâu hơn 20 bảo tháp, độ được hơn 500 tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi Thế là

xứ ấy theo đạo Phật trước ta”

Cũng do Phật giáo đã được truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam ngay từ đầu côngnguyên nên từ Buddha tiếng Phạn đã được phiên âm trực tiếp sang tiếng Việt thành Bụt Phậtgiáo lúc này mang màu sắc Tiểu thừa Nam tông Và trong con mắt của người Việt Nam nông

Trang 17

nghiệp, Bụt như một vị thần luôn có mặt ở khắp nơi, sẵn sàng xuất hiện cứu giúp người tốt vàtrừng trị kẻ xấu Sau này, sang thế kỷ IV – V, lại có thêm luồng Phật giáo Đại thừa Bắc tông

từ Trung Hoa tràn vào Chẳng mấy chốc, nó đã lấn át và thay thế luồng Nam tông có từ trước

đó Từ Buddha vào tiếng Hán phiên âm thành Phật; từ đây từ Phật dần dần thay thế cho từBụt: Bụt chỉ còn trong các quán ngữ với nghĩa ban đầu (ví dụ: Gần chùa gọi Bụt bằng anh),hoặc chuyển thành nghĩa ông tiên trong các truyện dân gian (như Tấm Cám)

Từ Trung Hoa, có ba tông phái Phật giáo được truyền vào Việt Nam: Thiền tông, Tịnh

Đồ tông, Mật tông

Thiền tông là tông phái phật giáo do nhà sư Ấn Độ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma) sánglập ra ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ VI “Thiền” (rút gọn của Thiền-na, phiên âm Hán – Việt

từ Dhiana tiếng Sanscrit nghĩa là “tĩnh tâm”) chủ trương tập trung trí tuệ suy nghĩ (thiền) để

tự mình tìm ra chân lý Thiền tông Việt Nam luôn đề cao cái Tâm Phật tại tâm, tâm là niếtbàn, là Phật Quốc sư Yên Tử nói với Trần Thái Tông: “Núi vốn không có Phật, Phật ở tạitâm, tâm lặng lẽ sáng suốt ấy là chân Phật” Tu theo Thiền tông đòi hỏi nhiều công phu vàkhả năng trí tuệ, do vậy chỉ phổ biến ở giới trí thức thượng lưu, cũng nhờ họ ghi chép lại mànay ta được biết về lịch sử Thiền tông Việt Nam khá rõ

Khác với Thiền tông, Tịnh Độ tông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ từ bên ngoài để cứuchúng sinh thoát khổ Đó là việc họ hướng đến một cõi niết-bàn cụ thể gọi là cõi Tịnh Độ(yên tĩnh, trong sáng), được hình dung như một nơi Cực Lạc do đức Phật A-di-đà (Amitabha:

vô lượng quang) cai quản Đó còn là việc bản thân họ cần thường xuyên đi chùa lễ Phật,thường xuyên tụng niệm danh hiệu Phật A-di-đà Hình dung cụ thể về niết bàn là để có đích

mà hướng tới; còn tượng Phật và niệm danh Phật là để thường xuyên nhớ đến những lời dạycủa Người mà ráng làm theo Nhờ cách tu đơn giản như vậy, Tịnh Độ tông trở thành Phậtgiáo của giới bình dân và phổ biến khắp cõi Việt Nam: đâu đâu ta cũng gặp người dân trụngniệm Nam mô A-di-đà Phật! (Nguyện quy theo đức phật A-di-đà) Tượng A-di-đà cũng thuộcloại tượng Phật lâu đời và phổ biến hơn cả (tới nay còn giữ được pho tượng A-di-đà bằng đácao khoảng 2,5 mét, tạc năm 1057 ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh), phía ngoài tượng này xưavốn dát vàng)

Mật tông là phái chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí (bí mật) như dùng linhphù, mật chú, ấn quyết… để thu hút tín đồ và mau chóng đạt đến giác ngộ và giải thoát VàoViệt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa vàodòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, dùng pháp thuật, yểm bùa trị tà

ma và chữa bệnh…

Trang 18

Do thâm nhập một cách hòa bình, ngay từ thời Bắc thuộc, Phật giáo đã phổ biến rộngkhắp Đến thời Lý – Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh Nhà nho LêQuát, học trò Chu Văn An, đã lấy làm khó chịu khi thấy toàn dân theo Phật: “Phật chỉ lấyđiều họa phúc mà động lòng người, sao mà sâu xa và bền chắc đến như vậy? Trên từ vươngcông, dưới đến thứ dân, hễ làm cái gì thuộc về việc Phật, thì hết cả gia tài cũng không tiếc.Nếu hôm nay đem tiền của để làm chùa, xây tháp thì hớn hở vui vẻ, như trong tay đã cầmđược cái biên lai để ngày sau đi nhận số tiền trả báo lại Cho nên, trong từ kinh thành ngoàiđến châu phủ, đường cùng, ngõ hẻm, chẳng khiến đã theo, chẳng thề mà tin; hễ chỗ nào cónhà thì ở đó có chùa Phật; bỏ đi tì làm lại, hư đi thì sửa lại”.

Rất nhiều chùa tháp có quy mô to lớn hoặc kiến trúc độc đáo được xây dựng trong thờigian này như chùa Phật Tích, chùa Dạm (chùa Đại Lãm), chùa Diên Hựu (Một Cột); chùaPhổ Minh, chùa Quỳnh Lâm, chùa Hương Lãng, chùa Linh Xứng, chùa Bối Khê, chùa TháiLạc, hệ thống chùa Yên Tử, tháp Bình Sơn…

Sang đời Lê, nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo làm quốc giáo, Phât giáo dần dần suythoái Đầu thế kỷ XVIII, vua Quang Trung có quan tâm chấn hưng đạo Phật, xuống chiếuchỉnh đốn việc cất chùa, cho cất các chùa lớn đẹp, chọn các tăng nhân có học thức và đạo đứccho coi chùa, song vì vua mất sớm nên việc này ít thu được kết quả

Đến thế kỷ XX, đứng trước trào lưu Âu hóa và những biến động do sự giao lưu vớiphương Tây mang lại, phong trào chấn hưng Phật giáo được dấy lên, khởi đầu từ các đô thịmiền Nam Những năm 30, các hội Phật giáo ở Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ lần lượt ra đờivới những cơ quan ngôn luận riêng Cho đến nay, Phật giáo là tôn giáo có số lượng tín đồđông nhất ở Việt Nam

2 Những ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam 2.1 Những ảnh hưởng tích cực

2.1.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến đạo đức lối sống của người Việt Nam

Đạo Phật đồng hành với dân tộc Việt Nam, từ khi du nhập vào Việt Nam đến nay đã

2000 năm lịch sử, nên có thể xem nó như một phần tài sản văn hóa dân tộc Trong quá trìnhphát triển tại Việt Nam, đạo Phật không chỉ đơn thuần chuyển tải niềm tin của con người màcòn có vai trò góp phần duy trì đạo đức xã hội nơi trần thế Ngoài những điểm phù hợp vớitình cảm đạo đức lối sống của con người, Phật giáo còn được thể hiện thông qua tình cảm, tínngưỡng, niềm tin và giáo lý Do đó, tình cảm đạo đức Phật giáo được người Việt tiếp thu, tạothành đức tin thiêng liêng bên trong và chi phối hành vi ứng xử của họ trong các quan hệcộng đồng Do tuân thủ những điều răn dạy về đạo đức của Phật giáo, người Việt đã sống và

Trang 19

ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã hội ngày thêm tốt đẹp Đạo đức Phật giáo thôngqua những giáo luật, giáo lý và các giá trị, chuẩn mực đã đi vào cuộc sống của người dân ViệtNam Sự ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống của người Việt Nam không chỉ là giáo lý quakinh kệ, sách vở mà đã trở thành phong tục, cách sống của dân tộc, của mọi gia đình Triết lýcủa Phật giáo về Từ bi, về tình thương yêu rất phù hợp với truyền thống giàu lòng nhân áivốn có của người Việt: “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”; “Một miếng khi đói bằng một góikhi no”; “Lá lành đùm lá rách”; “Thương người như thể thương thân”… sự kết hợp những nétđộc đáo trong phương pháp tư duy, trong văn học, nghệ thuật của người Việt Nam Nhữnggiá trị, khuyến thiện, hướng thiện không chỉ phát huy tác dụng trong hàng ngũ tín đồ mà cònảnh hưởng rộng rãi trong đời sống nhân dân, góp phần hình thành nên những quan niệm sốnggiàu tính nhân văn sâu sắc.

Người Việt Nam truyền thống với tinh thần yêu thương, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau,phụng dưỡng cha mẹ, tri ân những người có công với cộng đồng, làm điều thiện… đó cũngchính là những điều luân lý đạo đức cụ thể mà Phật giáo đã truyền dạy Phật giáo đã thực sự

đi vào cuộc sống, đi vào tâm linh mỗi con người Trong suốt chiều dài của lịch sử, đạo đứcPhật giáo đã có nhiều đóng góp đáng kể đối với sự phát triển của dân tộc, những nhân tốquan trọng góp phần định hình nên các quan niệm, chuẩn mực, hệ giá trị đạo đức trong xã hộiViệt Nam truyền thống và hiện đại

2.1.2 Ảnh hưởng của Phật giáo đến kinh tế trong bối cảnh thị trường hiện nay

Trong giáo lý “Bát chính đạo” đức Phật có đề cập đến “chính mệnh” sinh sống bằngnghề nghiệp chân chính Người khuyên mọi người kiếm sống bằng chính sức lao động và tiềnvốn của mình, trí tuệ của mình chứ không được buôn bán gian lận, buôn bán hàng quốc cấm

và các loại hàng hóa có hại cho sức khỏe con người và xã hội Trong cuộc sống mỗi ngườiphải lao động làm việc để tạo ra nguồn của cải vật chất nuôi sống mình và gia đình Như vậy,trong nền kinh tế thị trường ngày nay, đạo đức Phật giáo góp phần không nhỏ trong việc giáodục con người, hướng con người tới những điều thiện, từ đó giảm bớt thiệt hại cho người tiêudùng và đặc biệt là những nguy hiểm chết người Đây chính là mặt tích cực của đạo đức Phậtgiáo giúp con người và nhân loại có cuộc sống an lạc hạnh phúc

“Chính mệnh” trong Bát chính đạo của Phật giáo còn có nghĩa là biết làm chủ cuộcsống, không lãng phí, không bủn xỉn, biết làm phúc và cúng dàng Biết chăm lo cuộc sốngcủa người thân, quyến thuộc, biết tích lũy cho đời nay và chuẩn bị cho đời sau Đức Phật dạyrằng các cư sĩ sống bình thường ở gia đình có 4 điều lạc thú: Một là được hưởng cảm giác antoàn do có của cải và cơ sở kinh tế có được bằng phương pháp chính đáng; Hai là có thể

Trang 20

khảng khái sử dụng của cải ấy cho mình, cho người nhà và cho bạn hữu, đồng thời dùng nó

để làm nhiều việc từ thiện; Ba là không bị khổ sở vì nợ nần; Bốn là có thể sống cuộc đờithanh tịnh, không lỗi lầm

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, chúng ta cần coi trọng việc xây dựng hoànthiện đạo đức nhằm phát triển con người một cách toàn diện Nền đạo đức mà chúng ta đangxây dựng là sự kết tinh, kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của nhân loại, của dântộc, trong đó có những giá trị đạo đức Phật giáo

2.1.3 Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn học nghệ thuật

Thật vậy, những buổi trưa hè nóng bức, vẳng bên tai ta nghe những lời ca dao tục ngữcủa người mẹ hát ru con, cho đến các cụ già vừa ngâm thơ, vừa làm các công việc tỉ mỉ vụnvặt của vườn tược hay đồng áng “Linh đinh qua cửa thần phù, Khéo tu thì nổi, vụng tu thìchìm” (Thuyết của đạo Phật) Rồi đến các truyện dân gian xa xưa mà người Việt Nam ai nấyđều biết như truyện Tấm Cám, truyện Con Muỗi đều có nội dung Phật giáo rõ rệt: Tấm, conngười lành, dù bị hại nhưng vẫn không chết, khi thì làm trái thị, khi thì làm chim hoàng anh,

và cuối cùng nhờ sự che chở của ông Bụt từ bi, vẫn đoàn tụ được với hoàng tử người yêu, còn

bà mẹ ghẻ ác độc phải ăn mắm xác chết con mình Đó là thuyết nhân quả nghiệp báo, thuyếtluân hồi, thuyết từ bi của đạo Phật Người vợ đẹp nhưng tà dâm trong truyện Con Muỗi phảitái sanh làm con muỗi Những truyện như vậy nhiều lắm, chứng tỏ đạo Phật đã đi sâu vàotrong đời sống xa xưa

Sau này, triết lý đạo Phật được thơ ca hóa trong Truyện Kiều của Nguyễn Duđến mức độ tuyệt diệu, đến nỗi người Việt Nam, nam cũng như nữ, già cũng nhưtrẻ đều như thấy mình một phần trong cô Kiều Một thời gian dài người dân ViệtNam đã đua nhau bói Kiều Như câu: Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trờigần trời xa Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài Theo đạo Phật, conngười chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi sự việc hay hoặc dở xảy ra cho mình, không phảicầu trời mà được phúc, cũng không nên trách trời nếu mang họa Trước tiên, hãy xét mình đã

và đang làm gì đây, đã tạo nghiệp thiện hay ác Cuộc đời của mình chính là ở trong bàn taycủa mình, chứ không do một Phật hay một trời đất nào an bày cả Một triết lý như vậy thúcđẩy hành động và sáng tạo, thể hiện sự tích cực trong việc đề cao trách nhiệm của mọi người

về mọi hành động hiện tại và tương lai

Như trên đã đề cập các nhà sư Ấn Độ và Trung Quốc đến Việt Nam và dịch nkinh sáchbằng văn tự Hán và ngôn ngữ, văn tự đó được dùng để truyền bá Phật giáo Sự truyền bá Phậtgiáo trong cư dân vốn không phổ biến chữ Hán đã đưa đến sự hình thành chữ Nôm Chúng

Ngày đăng: 27/10/2020, 13:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Nghị, 2016, Tư tưởng giải thoát trong triết học Phật giáo, Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 1/2016 Khác
2. Thích Gia Quang, 2016, Giá trị của đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội hiện nay, Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 3/2016 Khác
3. Trần Huy Tạo, 2016, Vài nét về nhận thức luận trong triết học Phật giáo, Tạp chí nghiên cứu Phật học, số 7/2016 Khác
4. Sự du nhập và ảnh hưởng của Nho giáo đến giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam, Võ Thị Cẩ Vân, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 20 Tháng 5 2015 Khác
5. Về quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam (từ đầu công nguyên đến thế kỷ XIX), Doãn Chính & Nguyễn Sinh Kế, Tạp chí Triết học, số 9 (160), tháng 9 - 2004 Khác
6. Vị trí và vai trò của Nho giáo trong xã hội Việt Nam, Nguyễn Đức Sự, Tạp chí Văn hóa Nghệ An, 19/1/2011 Khác
7. Nho giáo với tư cách là một tôn giáo, Trần Đình Hượu, Những vấn đề tôn giáo hiện nay, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, trang 244 – 2628. ĐỀ CƯƠNG VỀ VĂN HOÁ VIỆT NAM, Trường Chinh, 1943, Nhà xuất bản Chính trịquốc gia, Hà Nội, 2000 Khác
9. Một số đặc trưng cơ bản của Nho giáo Việt Nam, Tạp chí Triết học, Nguyễn Tài Thư, Giáo sư, tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w