1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu ỨNG DỤNG các bài tập của IAAF vào CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG dạy GIÁO dục THỂ CHẤT NHẰM NÂNG CAO TRÌNH độ THỂ lực của học SINH KHỐI 8 – 9 TRƯỜNG THCS NGUYỄN TRƯỜNG tộ, THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

139 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN NHẤT LINH NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÁC BÀI TẬP CỦA IAAF VÀO CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY G

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN NHẤT LINH

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÁC BÀI TẬP CỦA IAAF VÀO CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY GIÁO DỤC THỂ CHẤT NHẰM NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC CỦA HỌC SINH KHỐI 8 – 9 TRƯỜNG THCS

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ, THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ,

TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

TP Hồ Chí Minh, 11/2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN NHẤT LINH

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÁC BÀI TẬP CỦA IAAF VÀO CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY GIÁO DỤC THỂ CHẤT NHẰM NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC CỦA HỌC SINH KHỐI 8 – 9 TRƯỜNG THCS

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ, THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ,

TỈNH KIÊN GIANG

Ngành: Giáo dục thể chất

Mã số: 60.14.01.03 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

TS Lưu Trí Dũng

TP Hồ Chí Minh, 11/2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ đề tài khoa học nào trước đây.

Người cam đoan

Nguyễn Nhất Linh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Lời cảm ơn

Danh mục những từ, thuật ngữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ và hình vẽ

Chương 1 - TỔNG QUAN 4

1.1 CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, CÁC VĂN KIỆN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC GDTC: 5

1.2 Điền kinh trong việc giáo dục thể chất học sinh 6

1.2.1 Vài nét về điền kinh Việt Nam 7

1.2.2 Điền kinh là biện pháp giáo dục thể chất cho học sinh ở các trường phổ thông 7 1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THCS: 7

1.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi: 7

1.3.2 Đặc điểm sinh lý học sinh 8

1.4 Đặc điểm chương trình điền kinh của IAAF 12

1.5 Các chất vận động và hệ phương pháp rèn luyện 13

1.5.1 Tố chất mạnh và hệ phương pháp rèn luyện 13

1.5.2 Tố chất nhanh và hê phương pháp rèn luyện 15

1.5.3 Tố chất bền và hệ phương pháp rèn luyện 17

1.5.4 Tố chất khéo léo và hệ phương pháp rèn luyện 20

1.5.5 Tố chất mềm dẻo và hệ phương pháp rèn luyện 21

Chương 2 - PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 23

2.1 Phương pháp nghiên cứu 23

2.1.1 Phương pháp tham khảo tài liệu 23

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn 23

2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 26

2.1.4 Phương pháp thực nghiệm 29

2.1.5 Phương pháp toán thống kê 30

2.2 Tổ chức nghiên cứu 33

2.2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 33

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 33

2.2.3 Tiến độ nghiên cứu 33

2.2.4 Dự trù kinh phí, trang thiết bị, dụng cụ 34

Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 35

3.1 Đánh giá thực trạng trình độ thể lực của học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

35 3.1.1 Đánh giá thực trạng trình độ thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm đối

Trang 5

Giá, tỉnh Kiên Giang

3.1.1.1 Xác định test đánh giá thể thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 35

3.1.1.2 Thực trạng thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang trước thực nghiệm 36

3.1.2 Đánh giá thực trạng thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo:

44 3.2 Lựa chọn và ứng dụng một số bài của IAAF vào chương trình giảng dạy giáo dục thể chất của học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 50

3.2.1 Lựa chọn một số bài tập của IAAF 50

3.2.1.1 Tổng hợp các bài tập của IAAF 51

3.2.1.2 Kết quả phiếu phỏng vấn để xác định các bài tập của IAAF được vận dụng 52

3.2.2 Xây dựng chương trình giảng dạy các bài tập của IAAF vào chương trình giảng dạy giáo dục thể chất của học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 55

3.3 Đánh giá hiệu quả ứng dụng các bài tập của IAAF vào chương trình giảng dạy giáo dục thể chất của học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 59

3.3.1 Đánh giá trình độ thể lực của của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang sau 16 tuần 59

3.3.1.1 Trình độ thể lực của nam học sinh khối 8 hai nhóm nghiên cứu sau thực nghiệm 70

3.3.1.2 Đánh giá nhịp tăng trưởng các chỉ tiêu nghiên cứu 72

3.3.2 Đánh giá trình độ thể lực của của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang so với quyết định 53 của Bộ giáo dục và đào tạo sau 16 tuần 74

3.3.3 Đánh giá mức độ ham thích của học sinh với giờ học giáo dục thể chất ứng dụng các bài tập IAAF 87

3.3.3.1 Cách thức thự hiện 87

3.3.3.2 Mức độ ham thích của học sinh 87

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 90

KẾT LUẬN 90 KIẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Để bày tỏ lòng biết ơn! Tôi xin chân thành cảm ơn:

Trường Đại học Sư phạm TDTT Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Lãnh đạotrường THCS Nguyễn Trường Tộ , thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã tạođiều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt khóa họcnày

Quý Thầy, Cô giảng dạy lớp cao học khóa 5 đợt 2, đã dành nhiều thời gian,truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức quý báu về công tác giáo dục thể chất,công tác tuyển chọn, huấn luyện và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao

Thầy TS Lưu Trí Dũng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốtthời gian thực hiện đề tài

Quý Thầy, Cô bộ môn thể dục hiện đang công tác tại trường THCS NguyễnTrường Tô, cùng toàn thể các em học sinh khối 8, khối 9 của Trường đã nhiệt tìnhgiúp đỡ và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Tác giả

Nguyễn Nhất Linh

Trang 7

DANH MỤC NHỮNG TỪ, THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang 10

Một đất nước phát triển, một dân tộc văn minh có nền kinh tế vững mạnh luônđược đánh giá cao trên nền TDTT tiến bộ vì con người là chủ thể của mọi sự sángtạo, của mọi của cải vật chất và văn hóa Để xây dựng một xã hội công bằng, nhân

ái, con người cần được phát triển toàn diện: phát triển cao về trí tuệ, cường tráng vềthể chất, phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức

Khi đất nước Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập WTO luôn cần cónhững con người đủ lực đủ trí để góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triểnhơn

Theo lời dạy của Bác Hồ: “Một trí óc minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”nên Đảng và nhà nước ta thể hiện sự quan tâm đó bằng nhiều chủ trương chínhsách, nhằm khuyến khích việc nâng cao sức khỏe cho mọi công dân, đặc biệt làtrong các trường phổ thông

Chỉ thị 36-CT/TWT ngày 24/03/1994 của Ban Chấp Hành TW Đảng CộngSản Việt nam về công tác giáo dục thể dục thể thao đã nêu rõ: “Mục tiêu cơ bản, lâudài của công tác giáo dục thể dục thể thao là hình thành nền thể dục thể thao pháttriển, tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hoá, tinh

Trang 11

thần của nhân dân Phấn đấu đạt được vị trí xứng đáng trong hoạt động thể thao

quốc tế, trước hết là khu vực Đông Nam Á”.(Chỉ thị 36-CT/TWT ngày 24/03/1994 của Ban Chấp Hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam về công tác giáo dục thể dục thể thao trong giai đoạn mới)

Chính vì thế mà trong những năm gần đây Bộ Giáo Dục và Đào Tạo khôngngừng nghiên cứu cải tiến nội dung đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạytrong trường học các cấp Đồng thời tổ chức các khóa học nâng cao trình độ giảngdạy cho các giáo viên giảng dạy cũng như các nhà huấn luyện chuyên môn TDTT

để phù hợp với xu hướng phát triển chung Đây là một trong những nội dung cơ bảnkhông thể thiếu của hầu hết chương trình giảng dạy thể dục ở các trường phổ thôngcũng như ở bậc Đại Học, Cao Đẳng và Trung học Chuyên Nghiệp

Là những giáo viên ngành TDTT được học tập tại trường ĐHSP TDTT vớinhững kiến thức được truyền đạt để nâng cao năng lực chuyên môn cùng với chínhsách, chủ trương của ngành chúng tôi ý thức được yêu cầu đặt ra cho các em họcsinh trường trung học cơ sở phải có thể lực tốt trên cơ sở học tập rèn luyện thườngxuyên Và để duy trì được thói quen tích cực tập luyện thường xuyên đó và tránh sựnhàm chán cho học sinh trong giờ học thể dục thì ngoài chương trình giảng dạy theoqui định của bộ giáo dục, bên cạnh đó chúng tôi không ngừng nghiên cứu tìm tòi cảitiến nội dung giảng dạy để tăng cường tính hứng thú và tích cực tập luyện cho sinhtrong giờ giáo dục thể chất

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài:

“Nghiên cứu ứng dụng các bài tập của IAAF vào chương trình giảng dạy giáo dục thể chất Nhằm nâng cao trình độ thể lực của học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang”

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Đề tài này được thực hiện với mục đích: nhằm tìm hiểu hiệu quả các bài tậpcủa IAAF vào chương trình giảng dạy giáo dục thể chất Nhằm nâng cao trình độthể lực của học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố RạchGiá, tỉnh Kiên Giang Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các giáo viên,

Trang 12

nhà chuyên môn; góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất trongnhà trường.

Để giải quyết mục đích nghiên cứu trên, đề tài đã đề ra các mục tiêu sau:

1.3 Mục tiêu nghiên cứu:

1.3.1 Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng trình độ thể lực của học sinh khối 8 – 9

trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

+ Đánh giá thực trạng trình độ thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm đốichứng học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá,tỉnh Kiên Giang

+ Đánh giá thực trạng trình độ thể lực của nhóm thực nghiệm và nhóm đốichứng học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá,tỉnh Kiên Giang theo qui định của Bộ giáo dục và đào tạo

1.3.2 Mục tiêu 2: Lựa chọn và ứng dụng một số bài của IAAF vào chương

trình giảng dạy giáo dục thể chất của học sinh khối 8 – 9 trường THCS NguyễnTrường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

+ Lựa chọn một số bài tập của IAAF vào chương trình giảng dạy giáo dục thểchất của học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố RạchGiá, tỉnh Kiên Giang

+ Xây dựng chương trình giảng dạy các bài của IAAF vào chương trình giảngdạy giáo dục thể chất của học sinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ,thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

1.3.3 Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả ứng dụng các bài tập của IAAF vào chương

trình giảng dạy giáo dục thể chất của học sinh khối 8 – 9 trường THCS NguyễnTrường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

+ Đánh giá trình độ thể lực của của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng họcsinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh KiênGiang sau 16 tuần

Trang 13

+ Đánh giá trình độ thể lực của của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng họcsinh khối 8 – 9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh KiênGiang so với quyết định 53 của Bộ giáo dục và đào tạo sau 16 tuần.

Trang 14

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, CÁC VĂN KIỆN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

VỀ CÔNG TÁC GDTC:

Với tấm lòng vì nước, vì dân, lo cho dân, coi con người là vốn quý nhất của xãhội, do đó khi nước nhà mới độc lập, chính quyền đã về tay nhân dân, trên cương vịchủ tịch nước, Hồ Chí Minh dạy: “Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếudân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi… Vìvậy, cán bộ Đảng viên và chính quyền từ trên xuống dưới đều phải hết lòng quantâm đến đời sống nhân dân” (Bài nói chuyện tại hội nghị sản xuất tháng 7-1955,

HỒ CHÍ MINH tuyển tập) Một trong những vấn đề mà HỒ CHÍ MINH quan tâmchăm sóc là sức khỏe Người dạy: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đờisống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công Mỗi một người dân yếu ớt,tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân khỏe mạnh, tức là gópphần cho cả nước mạnh khỏe” Bác còn chỉ bảo cụ thể hơn: “Muốn giữ gìn sức khoẻthì nên thường xuyên tập thể dục thể thao”

Việc luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ được Bác Hồ xác định đó lạ quyền lợi, làtrách nhiệm, là bổn phận của mỗi một người dân yêu nước: “Việc đó không tốnkém, khó khăn gì” Dân cường thì nước thịnh Tôi mong đồng bào ta ai cũng gắngtập thể dục Tự tôi ngày nào cũng tập [4]

Ngày 03/12/2010 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 2198/QĐ-TTg Banhành Chiến lược Phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020 Phần mở đầucủa Quyết định ghi rõ: “Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân đượccoi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ Nhiệm vụ xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng…Vận động TDTT là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lựclượng quốc phòng của nhà nước, đó chính là quan điểm của Đảng ta về phát triển sựnghiệp TDTT Việt Nam”

Trang 15

Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 28-4-2011 của Thủ tướng Chính phủ về việcphê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn2011-2030 [19]

Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT

về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên [17]

Quyết định số 72/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hànhngày 23/12/2008 về việc ban hành Quy định tổ chức hoạt động thể thao ngoại khóacho học sinh sinh viên [18]

Nghị định số: 11/2015/NĐ-CP Hà Nội, ngày 31/01/2015 của Thủ tướng Chínhphủ Quy định về giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường [13]Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tại số 14/2001/QĐ-BGDĐT ngày 03 thánh 05 năm 2001 về việc ban hành quy chế Giáo dục thể chất và

Y Tế trường học [16]

Tháng 12/2011, Bộ Chính trị ban hành NQ số 08/NQ-TW về công tác TDTT,trong đó xác định mục tiêu và giải pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC và thểthao trong nhà trường đến năm 2020: “ phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêuchuẩn rèn luyện thân thể Cần quan tâm đầu tư đúng mức TDTT trường học, với vịtrí là bộ phận quan trọng của phong trào TDTT; là một mặt của giáo dục toàn diệnnhân cách học sinh, sinh viên Xây dựng và thực hiện Đề án tổng thể phát triểngiáo dục thể chất và thể thao trường học Thực hiện tốt giáo dục thể chất theochương trình nội khoá; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinhviên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản củahọc sinh, sinh viên, góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao Đổi mớichương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn giáo dục thể chất với giáo dục

ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khoẻ và kỹ năng sống của họcsinh, sinh viên Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục hiệncó; mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướngdẫn viên thể dục cho trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâmsinh lý lứa tuổi và TDTT trường học ” [14]

Trang 16

Quyết định số 1076/QĐ-TTg, Hà Nội, ngày 17 thánh 06 năm 2016 của Thủtường Chính Phủ về Phê duyệt đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thểthao trường học giai đoạn 2016- 2020 định hướng đến năm 2025 [20]

Trên đây là những văn bản, văn kiện của Đảng nói về TDTT trường học Hệthống các văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ cũng quy định rất rõ ràng

về GDTC và Thể thao trong nhà trường

1.2 ĐIỀN KINH TRONG VIỆC GIÁO DỤC THỂ CHẤT HỌC SINH.

1.2.1 Vài nét về điền kinh Việt Nam.

Nguồn gốc môn điền kinh nước ta đã được các nhà nghiên cứu xác định là đã

có từ lâu đời Trong lịch sử đấu tranh hàng ngàn năm sinh tồn dựng nước và giữnước của dân tộc việt nam, tổ tiên ta đã rất quen thuộc với các hoạt động đi bộ,chạy, nhảy, ném đẩy Lịch sử đã ghi nhện chiến công dưới sự lãnh đạo của vị anhhùng dân tộc Quang Trung, hàng chục vạn quân tây sơn đã hành quân thần tốc từPhú Xuân (Bình Định) đến Thăng Long để đánh tan quân Thanh xâm lược giàngđộc lập cho đất nước Động lực phát triển môn điền kinh đã tiềm ẩn trong lịch sửsinh tồn dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Trong thời gian dài thực dânPháp đã đô hộ nước ta môn điền kinh phát triển rất chậm và yếu ở cả 3 miền Bắc,Trung, Nam Theo tờ báo tương lai Bắc Kỳ (bằng tiếng Pháp) tại cuộc thi đấu điềnkinh tại Hà Nội vào tháng 4 năm 1925 bao gồm 9 môn: chạy 100 mét, 100 mét rào,

400 mét, nhảy cao, nhảy sào, đẩy tạ, ném đĩa, ném lao, thành tích còn rất thấp như:chạy 100 mét nam 11”3, chạy 1500 mét là 4’56”4 Sau Cách mạng tháng 8 thắng lợi

và nhất là ngày hòa bình lập lại môn điền kinh được khôi phục và phát triển hơntrước song không đồng đều giữa hai miền Nam, Bắc

Từ tháng 5 năm 1975 môn điền kinh được phát triển mạnh hơn so với giaiđoạn trước đây, nhiều người sẵn sàng tự rèn luyện thân thể bằng đi bộ tập chạychậm Chương trình giáo dục thể thao nói chung và điền kinh nói riêng đã được cảitiến trong các trường học Sau Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần VI đất nước tabước vào công cuộc đổi mới thực hiện chính sách mở cửa muốn làm bạn với tất cảcác nước vì hòa bình và sự tiến bộ của nhân loại Trong công cuộc đổi mới chúng ta

Trang 17

đã đạt được những thắng lợi to lớn về kinh tế - xã hội, ngoại giao từ đó môn điềnkinh có thêm điều kiện phát triền Điền kinh Việt Nam đã mở rộng giao lưu thi đấuvới các nước trong khu vực Đông Nam Á, Châu Á và Thế Giới đạt nhiều thành tíchkhích lệ [5]

1.2.2 Điền kinh là biện pháp giáo dục thể chất cho học sinh ở các trường phổ thông.

Nhiệm vụ cụ thể của các giờ học thể dục thể thao ở trường phổ thông là giáodục cho học sinh những hiểu biết và những kỷ năng cần thiết về thể dục thể thao vànhững môn thể thao quần chúng trên cơ sở này đảm bảo phát triển thể lực toàn diện,củng cố sức khỏe cho các em Những bài tập phát triển thể lực toàn diện điền kinhđóng vai trò chủ yếu những hình thức tập luyện như: chạy, nhảy, ném luôn đượcđưa vào nội dung trong từng giờ tập thể dục thể thao ngay cả trong các buổi tập củalớp thể thao ở trường học và trong các trại thiếu niên, những bài tập điền kinh vẫnchiếm vị trí quan trọng rõ ràng rằng tập luyện điền kinh tốt sẽ tạo điều kiện chohọc sinh đạt được thành tích cao cả trong những môn thể thao khác Học tập tốtmôn điền kinh giúp cho học sinh phát triển đều đặn những nhóm cơ chủ yếu, tạođiều kiện hình thành tư thế đúng, điều chỉnh trọng lượng cơ thể Trong quá trình họctập các bài tập điền kinh kích thích việc tăng độ dài xương làm chiều cao các emtăng lên, Ngoài ra việc tập luyện các môn điền kinh còn góp phần rèn luyện ý chí,giáo dục ý thức khắc phục khó khăn cho học sinh

1.3 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH THCS:

1.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi:

Ở lứa tuổi này các em có bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần,các em đang tách khỏi thời kì thơ ấu để chuyển sang giai đoạn trưởng thành Các

em không còn là trẻ em nữa nhưng cũng chưa phải là người lớn Do đó, các nhà tâm

lý học thường gọi thời kỳ này là thời kỳ quá độ chuyển từ trẻ con lên người lớn.Trong giai đoạn này trẻ em được hình thành những phẩm chất mới về trí tuệ, tìnhcảm, ý chí, … tạo những điều kiện thuận lợi để trẻ chuẩn bị thành người lớn Nhưng

ở giai đoạn này sự phát triển của trẻ diễn ra tương đối phức tạp, đời sống tâm lý có

Trang 18

nhiều mâu thuẫn, nhiều thay đổi đột biến khiến các bật cha mẹ, những nhà giáo dụcphải ngạc nhiên và cảm thấy khó xử

Đặc trưng của giai đoạn này là sự phát dục hay gọi là dậy thì, nó còn ảnhhưởng không nhỏ đến cá tính của các em Tuổi dậy thì đã đem lại cho các em nhiềucảm xúc, ý nghĩa, hứng thú, tính cách mới mẻ mà thường bản thân thiếu niên cũngkhông ý thức được

Ở tuổi thiếu niên, thân thể trẻ em lớn một cách đột ngột về chiều cao, hệxương đang tiếp tục cốt hóa và phát triển mạnh Hệ thần kinh cũng tiếp tục pháttriển và hoàn thiện Do ảnh hưởng của giáo dục và học tập, vai trò của hệ thống tínhhiệu thứ hai được nâng cao rõ rệt, những kích thích bằng lời giữ vai trò tín hiệu có ýnghĩa càng lớn lao

Do vậy công tác giáo dục và huấn luyện vận động viên ở tuổi dậy thì hết sứcphức tạp Thầy giáo - huấn luyện viên cần nắm vững các đặc điểm phát triển tâmsinh lý lứa tuổi để điều chỉnh khối lượng, cường độ vận động và phương pháp giáodục để bảo đảm cho thành tích thể thao phát triển bình thường trước, trong và sauthời kì của tuổi đậy thì

Động cơ và hứng thú học tập, lao động, tập luyện thể thao của thiếu niên cósắc thái riêng và có ý nghĩa xã hội, sự hứng thú, say mê và sáng tạo trong các hoạtđộng của mình đã đem lại cho các em các kết quả đáng kể trong các cuộc thi đấuhọc sinh giỏi trong và ngoài quốc tế, cả thi đấu thể thao trong và ngoài nước

Thực tế trong hoạt động thể thao hiện đại đã có nhưng khẳng định mang tínhchân lý: Thể thao là của tuổi trẻ Điều đó nói lên sự hứng thú có nhận thức về hoạtđộng tập luyện và thi đấu thể thao ở thiếu niên và chiếm ưu thế hơn bất kì lứa tuổinào khác

Tóm lại sự phát triển của trẻ em ở tuổi thiếu niên mang tính độc đáo, nổi bậtnhất là tính chất quá độ “vừa trẻ con vừa người lớn” vì lẽ đó nên trong giáo dục vàđối xử với thiếu niên phải hết sức tế nhị và tôn trọng tính độc lập của các em nhưngphải hướng dẫn theo dõi kịp thời từng bước phát triển của chúng

1.3.2 Đặc điểm sinh lý học sinh:

Trang 19

Đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này là quá trình phát dục mạnh mẽ Các tuyếnnội tiết (tuyến hạ não, tuyến giáp trạng) tăng cường hoạt động, kích thích cơ thể lớnlên nhanh mà chủ yếu do chân tay dài ra, đồng thời kích thích tuyến sinh dục (buồntrứng ở con gái, tinh hoàn ở con trai) bắt đầu hoạt động mạnh theo kiểu cách củasinh lí người trường thành.

Hàng năm các em cao thêm 7 – 10 cm, chân tay lều nghều, động tác vụng về,tăng trao đổi chất, xuất hiện các giới tính phụ (trai mọc râu, mọc lông, vỡ tiếng, …;gái nhiều mỡ dưới da, vũ nỡ, tóc dài thêm và mượt, chậu hông nở rộng …) Các emmuốn làm người lớn, biết lo lắng trách nhiệm, hăng hái nhiệt tình, hăm hở đi tìm cáimới nhưng chưa có kinh nghiệm, tự lượng sức mình, thường đánh giá cao khả năng,

dễ lẫn lộn giữa dũng cảm với liều lĩnh, giữa khiêm tốn với nhu nhược, giữa tìnhcảm đúng với tình cảm sai

Khi tuyến sinh dục đã hoạt động đủ mạnh, đủ làm xuất hiện giới tính chính(gái hành kinh, trai xuất tinh trùng) thì trở lại kìm hãm sự hoạt động của hai tuyến

hạ não và giáp trạng Bởi thế, chiều cao phát triển chậm dần, ít năm nữa sẽ dừnghẳn, có cao thêm thì cũng chủ yếu do thân mình dài ra ưu thế hơn tay chân, trái lạicác chiều ngang, các vòng cơ thể cùng với sức lực tăng lên rất rõ

Các em gái khi hành kinh, huyết ra ngoài, hồng cầu trong máu giảm tạm thời,bạch cầu tăng lên, người mệt, nhứt đầu, buồn nôn, dễ cáu gắt, dễ bị nhiễm trùng quađường sinh dục, cho nên hết sức chú ý hướng dẫn vệ sinh

Nói chung, cơ thể học sinh trung học cơ sở đang trên đà phát triển mạnh.Những sự mất cân đối sâu sắc giữa các mặt đặt yêu cầu cho các nhà giáo dục phảibiết chăm sóc các em thật chu đáo Thiếu thể dục, vệ sinh, nghỉ ngơi, vui chơi, giảitrí hợp lí sẽ đưa đến những nguy hại không nhỏ Học tập, lao động quá sức sẽ dễdàng gây bệnh Nhưng nếu hiểu rõ đặc điểm và sử dụng đúng năng lực các em thìtuổi này có nhiều đóng góp tốt, có nhiều tài năng đang độ nảy nở, kể cả tài năng vềthể dục thể thao

Để hiểu rõ hơn đặc điểm nói trên, cần biết thêm một số hệ thống cơ quan dướiđây:

Trang 20

* Hệ thần kinh:

Đã hoàn thiện về cơ cấu tế bào, nhưng chức năng sinh lí vẫn đang phát triểnmạnh Hưng phấn vẫn chiếm ưu thế, khả năng phân tích tổng hợp mặc dù còn thấpnhưng sâu sắc hơn tuổi nhi đồng Dễ thành lập phản xạ, song cũng dễ phai mờ, chonên tiếp thu nhanh nhưng cũng chóng quên Thần kinh thực vật yếu ớt ở mức độnhất định, các dấu hiệu về kích thích cảm giác tăng lên, các biểu hiện chủ quan, lolắng rất hay gặp, 14% trai và 26% gái xuất hiện trạng thái đau đầu vô cớ, chống mệthồi hộp, đôi khi có biểu hiện đau ở vùng dạ dày, dễ bị chấn thương tinh thần khi rốiloạn giấc ngủ, hoặc khi giáo dục sai phương pháp, khi công việc nặng nhọc, tậpluyện quá sức

* Hệ vận động:

Phát triển đáng chú ý cả về số lượng và chất lượng Xương đang cốt hóamạnh mẽ, dài ra rất nhanh Các xương nhỏ ở cổ tay, cổ chân đã thành xương nhưng

15 – 16 tuổi cột sống mới tương đối ổn định các đường cong sinh lý Nếu đi, đứng,ngồi sai tư thế vẫn có thể bị cong vẹo cột sống Đặt biệt, đối với nữ do các xươngchậu chưa cốt hóa đầy đủ nên nếu tập luyện không đúng sẽ bị méo, lệch, ảnh hướngđến chức năng sinh đẻ sau này Bắp thịt của các em phát triển chậm hơn sự pháttriển của xương, chủ yếu phát triển mạnh về chiều dài, từ 15 – 16 tuổi bắt thịt dầndần phát triển theo chiều ngang Mặt khác, các cơ co và cơ to phát triển nhanh hơncác cơ duỗi và nhỏ

Do sự phát triển cơ bắp không nhịp nhàng, thiếu cân đối đó khiến các em khôngphát huy được khả năng sức mạnh của mình, đồng thời xuất hiện mệt mỏi Vì vậy,việc tập luyện thể dục thể thao cho các em phải mang tính chất phong phú, hấp dẫn

và đảm bảo sự phát triển toàn diện các tố chất thể lực, chú ý tăng cường phát triểnsức mạnh cơ bắp bằng những bài tập có cường độ trung bình

* Hệ tuần hoàn:

Trang 21

Cơ năng hoạt động của tim còn chưa được vững vàng, cơ năng điều tiếthoạt động của tim chưa được ổn định, sức co bóp còn yếu, hoạt động quá nhiều, quácăng thẳng sẽ chóng mệt mỏi.

Tập thể dục thường xuyên ảnh hưởng đến hệ thống tuần hoàn, quả tim dầndần thích ứng và có khả năng chịu đựng với khối lượng làm việc nặng nhọc sau này.Nhưng trong quá trình tập luyện cần tôn trọng nguyên tắc tăng dần từ nhẹ đến nặng,không nên để các em hoạt động quá sức và quá đột ngột Trong giáo dục cần chú ýtheo dõi hoạt động của tim mạch để có căn cứ định ra kế hoạch rèn luyện và chăm

lo sức khoẻ cho học sinh, vì lứa tuổi này hệ tuần hoàn có nhiều đột biến, diễn ra rấtphức tạp nhưng vẫn không theo kịp tốc độ phát triển quá mạnh mẽ của toàn bộ cơthể

* Hệ hô hấp:

Phổi các em phát triển chưa hoàn chỉnh, các ngăn buồng túi phổi đang cònnhỏ, các cơ hô hấp phát triển còn yếu, dung lượng khí mỗi lần thở nhỏ, sự điều tiếtcủa hệ thần kinh trung ương đối với việc thở chưa được bền vững và nhịp nhàng Vìvậy khi hoạt động khẩn trương nhịp thở nhanh, không giữa được nhịp thở tự nhiên,không kết hợp với động tác, làm cho cơ thể chóng mệt mõi Cho nên trong tập luyệnthể dục thể thao cần hướng dẫn cho các em về thở; biết cách thở sâu, thở nhịp nhàng

tự nhiên, nhất là việc kết hợp thở với động tác, giữ vững nhịp thở trong các hoạtđộng khẩn trương, cần tránh những bài tập tĩnh lực với thời gian dài, vệ sinh trongkhi thở, biết tìm chọn nơi không khí trong lành để tập luyện, biết cách bảo vệ đường

hô hấp

Mặt khác, quan trọng hơn là cần tập luyện những bài tập phát triển mạnh

mẽ, cân đối toàn diện các cơ hô hấp, phát triển nhanh chóng lông ngực cả ba chiều(trên dưới, trước sau, phải trái) nhằm đáp ứng tốt yêu cầu vận động

Căn cứ và đặc điểm nêu trên, ở lứa tuổi này cần chú ý giáo dục giới tínhđồng thời tạo tạo môi trường sống thật thuận lợi cho các em

Thể dục thể thao đã phân môn và nâng cao kĩ thuật, trai gái tập theo nhữnghình thức và khối lượng khác nhau Cần bồi dưỡng năng khiếu thể thao đang bộc lộ

Trang 22

Trên cơ sở tập luyện toàn thân, toàn diện mà ưu tiên phát triển các chiều dài trong

cơ thể (ở tuổi tiền dây thì) hoặc ưu tiên phát triển chiều ngang và chiều vòng (từ khihết tiền dậy thì) ưu tiên phát triển sức nhanh, sức khéo léo và sức mạnh, có chú ýphát triển sức bền chung (ở cả tiền dậy thì và dậy thì, đặc biệt từ khi dậy thì chínhthức) [6]

1.4 Đặc điểm chương trình điền kinh của IAAF.

Mục đích của chương trình Điền kinh của IAAF là khiến trẻ thích thủ với việctập luyện thể thao Hình thức luyện tập đó được sửa đổi hay sáng tạo thêm sẽ giúpcho trẻ nhận thấy chúng có thể tham gia các hoạt động như chạy nước rút, chạy bền,nhảy, ném ở mọi nơi (sân vận động, sân trường, phòng tập thể dục, hay trung tâmthể thao, ) Các hoạt động này sẽ tạo điều kiện cho trẻ phát huy hết tác dụng củaluyện tập thể thao về mặt sức khoẻ, giáo dục cũng như mức độ phát triển thể chấtcủa trẻ em

Mục tiêu về tố chức thực hiện chương trình Điền kinh của IAAF Có nhiều trẻ

em tham gia cùng một lúc; Giới thiệu các bài tập trò chơi vận động từ cơ bản đến đadạng; Tạo điều kiện cho mọi trẻ em có cơ hội đóng góp vào thành công; Đưa ra yêucầu về kỹ năng phụ thuộc vào độ tuổi và khả năng phối hợp; Đưa ra phương phápluyện tập phù họp với trẻ em; Yêu cầu “mixed team” - đội hình gồm cả nam và nữ;Tính điểm đơn giản, dựa vào thang điểm để xếp hạng Đưa các nội dung tập luyện

và thi đấu vào chương trình học của tất cả các trường trên thế giới; giúp trẻ em làmquen với các bài tập có hiệu quả nhất, qua đó phát hiện, phát triển nhân tài thể thao.Nâng cao sức khỏe: Chương trình tập luyện được thiết kế riêng đề đáp ứngyêu cầu phát triển thể chất bên cạnh nhu cầu được vui chơi của trẻ Yêu câu đặt ratrong việc xây dựng các trò chơi là hướng tới sự phát triển hoà hợp và toàn diện củatrẻ

Liên kết công đồng: Xây dựng tinh thần đồng đội và quan hệ xã hội là mụctiêu của chương trình Các trò chơi tập thể mà trong đó mọi trẻ em đều có thể thamgia là cơ hội cho chúng được tiếp xúc, gặp gỡ nhau cũng như chấp nhận nhữngđiểm khác biệt của nhau Luật chơi đơn giản cho phép trẻ có thể đảm nhận vai trò là

Trang 23

huấn luyện viên hay trọng tài, Trách nhiệm mà trẻ gánh vác sẽ có tác dụng tích cựcđối với sự trường thành của trẻ sau này.

Yếu to bất ngờ: Muốn khuyến khích trẻ cần phải cho trẻ cảm giác chúng hoàn,thắng đối thủ Các chương trình luyện tập (đồng đội, môn thi, tổ chức) đều nhằmmục đích đảm bảo kết quả thi đấu không thể dự đoán cho đến phút cuối cùng Đây

là yếu tố tạo ra động lực cố gắng cho trẻ

Yếu tố đồng đội: Hoạt động theo nhóm là yêu cầu Cơ bản Tất cả thành viênđều đóng góp vào kết quả chung của đội cho dù là môn thi tập thể hay cá nhân.Thành tích cá nhân trong bảng thành tích toàn đội cho thấy sự tham gia của mỗithành viên là rất quí báu [10]

1.5 Các chất vận động và hệ phương pháp rèn luyện.

1.5.1 Tố chất mạnh và hệ phương pháp rèn luyện

Sức mạnh là năng lực chống đỡ hoặc khắc phục sức cản bên ngoài nhờ những

nỗ lực của cơ bắp Sức mạnh tạo nên do 2 lực thành phần (vận động viên và điểmtựa, vận động viên và dụng cụ) và 2 lực đó luôn thay đổi theo thòi gian Vì thê' đánhgiá về sức mạnh có thể trên 2 mặt: sức mạnh tôi đa và sức mạnh trong khoảng thờigian xác định nào đó

Đo sức mạnh tối đa có thể bằng trọng lượng vật mang theo hoặc khoảngkhông gian mà cơ thể vượt qua trong lần hoặc thời gian

Đo sức mạnh biểu hiện trong khoảng thời gian nào đấy thì phải thông qua cácphép thử hoặc máy ghi lực Tuỳ theo từng môn có cách tính khác nhau

Sức mạnh biểu hiện ra ngoài có 2 loại là sức mạnh tĩnh và sức mạnh động.Hai loại sức mạnh này có liên quan và hỗ trợ cho nhau Một số động tác thểthao còn đòi hỏi sức mạnh tốc độ hay còn gọi là sức mạnh bột phát Sức mạnh tốc

độ ở các vận động viên cấp cao so với người mới tập có ưu điểm hơn là: động viênđược cao hơn trong khoảng thời gian ngắn hơn

Sức mạnh phụ thuộc các điều kiện:

Tiết diện ngang của cơ bắp

Tính linh hoạt của hoạt động thần kinh

Trang 24

Tốc độ các phản ứng hoá học trong tế bào cơ.

Trình độ kỹ thuật của người tập

Tuỳ theo tính chất của một số môn thể thao, sức mạnh lại được xét thành 2loại: sức mạnh tuyệt đối và sức mạnh tương đối

Sức mạnh tuyệt đối là sức mạnh đo được trong khi làm một động tác nào đó.Sức mạnh tương đôi là sức mạnh trên 1 kg trọng lượng

cơ thể, tính bằng công thức:

Để phát triển sức mạnh tương đối nên dùng các phương pháp phát triển sứcmạnh tuyệt đôi mà không tăng trọng lượng cơ thể (giữ vững trọng lượng) Khôngnện dùng cách giảm trọng lượng để tăng sức mạnh tương đối, cách làm đó kém hiệuquả

Các phương phốp rèn luyện sức mạnh,

Để luyện sức mạnh, các phương pháp đều phải dùng đến sức tôi đa và đượcphân thành 3 loại động sau:

- Phương pháp dùng sức lớn nhất - mang vật nặng tới cực hạn và gần cực hạn

- Phương pháp số lần nhiều nhất - làm các bài tập lặp lại đến khi không thểthêm lần nào nữa

- Phương pháp lặp lại nhanh nhất - làm các bài tập với tốc độ nhanh nhất

* Phương pháp dùng sức lớn nhất

Áp dụng phương pháp này phải mang trọng lượng nặng tới mức khả năngngười tập chỉ có thể làm 1-2 lần tức là vào khoảng 80 - 90% mức cao nhất màngười tập có thể làm được Phương pháp tập luyện này sẽ làm cho phát triển độ lớncủa cơ và tăng sức mạnh tuyệt đối

* Phương pháp tập với số lần nhiều nhất

Là cách tập mang trọng lượng 40 - 70% so với trọng lượng tối đa mà ngườitập có thể làm được trong 1 lần Cách tập này nhờ tập lập lại nhiều lần nên quá trìnhtrao đổi chất trong cơ thể động viên đến mức cao dẫn đến tăng độ lớn của cơ bắp

Trang 25

Thực hiện phương pháp tập luyện với số lần nhiều nhất sẽ phát triển sức mạnhbền, là phương pháp có hiệu quả đối các vận động viên loại trung bình.

* Phương pháp lặp lại nhanh nhất

Có tác dụng phát triển sức mạnh tốc độ cho tất cả mọi môn Để phát triển sứcmạnh tốc độ cần xen kẽ tập luyện đúng mức với phương pháp dùng sức lớn nhất.Trong thực tế nếu dùng nhiều (lạm dụng) phương pháp mang trọng lượng gần tối đathì sẽ ảnh hưởng đến tốc độ động tác, vì vậy huấn luyện viên phải bằng kết quảnghiên cứu để định tỷ lệ phù hợp khi giảng dạy - huấn luyện cho vận động viên củamình Ngoài 3 loại phương pháp tĩnh là phương pháp tập luyện ở tư thế dừng (độdài của cơ không thay đổi)

Phương pháp tập luyện ở tư thế “tĩnh” chỉ nên xây dựng trong kế hoạch vớikhoảng thời gian từ 8 - 10 tuần, mỗi buổi 10 - 15 phút và mỗi lần khoảng 5-6 giây

Tập sức mạnh nên đưa vào phần đầu buổi tập, nhất là sức mạnh tốc độ

1.5.2 Tố chất nhanh và hê phương pháp rèn luyện.

Nhanh là năng lực thực hiện động tác với khoảng thời gian ngắn nhất

Nhanh biểu hiện ỏ hai hình thức: đơn giản và tổng hợp Theo hình thức đơngian của nhanh có:

- Thời gian tiềm phục của phản ứng

- Thời gian của một cứ động đơn

- Tẩn số động tác

Theo hình thức tổng hợp của nhanh bao giờ cũng gắn liền với các động tác thểthao toàn vẹn: nhanh của vận động viên chạy, quả đấm nhanh của vận động quyền

Trang 26

anh, bật nhanh của vận động viên thể dục Xác định nhanh tổng hợp phải bằng cácthiết bị máy móc đặc biệt.

Sức nhanh luôn mang tính chất chuyên biệt, vì vậy muốn nghiên cứu tống hợpphải xác định trên cơ sờ của hình thức đơn giản

Ví đụ: Muốn nghiên cứu sức nhanh của vận động viên bóng đá thì phải đo thờigian tiềm phục của phản ứng và thời gian đạt tới tốc độ cao

Hệ phương pháp rèn luyện sức nhanh

Để phát triển phản ứng nhanh đơn giản có thể tập các phản ứng cố định đáp lạicác tín hiệu bất ngờ

Để phát triển phản ứng nhanh phức tạp, tập thực hiện một số phản ứng khácnhau đáp lại tương ứng với các tín hiệu bất ngờ xảy ra

Các cách tập trên để tập nhanh theo thời gian tiềm phục của phản ứng

Tập nhanh của một cử động đơn và tần số động tác

Để tập nhanh loại này, người ta phải chú ý đến tốc độ thực hiện động tác vàsức mạnh cần thiết để thực hiện tốc độ đó

- Phương tiện để phát triển sức nhanh thời gian tiềm phục của phản ứng là tròchơi vận động và các môn bóng Còn phương tiện để phát triển tốc độ và tần sốđộng tác là cách tập đảm bảo 3 yêu cầu:

+ Kỹ thuật không phức tạp để có thể thực hiện với tốc độ giới hạn

+ Kỹ thuật buộc phải thực hiện với tốc độ cao

+ Thời gian vừa phải để cuối bài tập không giảm tốc độ

- Phương pháp tập để phát triển sức nhanh chủ yếu là phương pháp lặp lại Chỉbắt đầu lặp lại sau 2/3 hoặc đầy đủ thời gian hổi phục hoàn toàn

+ Cường độ tập luyện phải ở mức giới hạn tối đa hoặc gần giới hạn

+ Thời gian nghỉ giữa quãng có thể đi lại chậm hoặc ngồi tại chỗ (thả lỏng).+ Số lần lặp lại phụ thuộc đặc điểm cá nhân, chỉ lặp lại tới mức còn giữđược tốc độ cần thiết Nếu thấy giảm thì nghỉ

Trong một buổi tập, chỉ nên tập sức nhanh khi còn đang khoẻ, lúc đầu buổi tập(sau khi đã khởi động)

Trang 27

Lứa tuổi phát triển tốt sức nhanh là tuổi là 13 - 14 (Korobkov, Parpel) và đạtthành tích về nhanh cao nhất 17-25 tuổi Tập luyện phải hệ thống.

Trong luyện tập sức nhanh có hiện tượng bị chặn tốc độ, để vượt qua có thểdùng các biện pháp: giảm nhẹ lực đối kháng, tăng sức kéo, tập các cảm giác đúng

về tốc đố

1.5.3 Tố chất bền và hệ phương pháp rèn luyện.

Sức bền là năng lực thực hiện công việc cố cường độ nhất định với thời giancàng dài càng tốt Hay có thể nói cách khác, đó là năng lực của cơ thể chống mệtmỏi Sức bền phụ thuộc vào các mặt sau đây:

- Trình độ huấn luyện - kỹ thuật

- Năng lực duy trì hưng phấn của tế bào thần kinh

- Năng lực của các cơ quan tuần hoàn và hô hấp

- Quá trình trao đổi chất thực hiện được tiết kiệm

- Cơ thể có nhiều năng lượng dự trữ

- Chức năng sinh lý có tính phối hợp cao

- Ý chí cao, thắng được cảm giác mệt mỏi chủ quan

Trong thực hành thể thao không có dạng sức bền đơn thuần mà thường kếthợp với các tố chất khác, khi thực hiện loại vận động cường độ vừa phải trong thờigian dài cần sức bền chung, còn thực hiện trong thời gian dài loại cường độ xácđịnh phù hợp cho môn nào đấy cần sức bền chuyên môn

Trong vận động, khi thực hiện cường độ càng cao thì thời gian duy trì sẽ càngngắn và ngược lại thực hiện cường độ thấp thì thời gian có thể kéo dài hơn Đó làđiều chứng tỏ sự mệt mỏi trong các công việc khác nhau thì xuất hiện ở những thờiđiểm khác nhau Khi xuất hiện mệt mỏi thì khả năng hưng phấn giảm đi, không duytrì dược cường độ ấn định

Các môn vận động với cường độ cao khi mệt mỏi qua nghỉ ngơi sẽ chóng hồiphục vì các biến động tính theo lượng tuyệt đối không lớn lắm

Trang 28

Các môn chạy cự ly trung bình làm cho cơ thể biến động lớn (tích luỹ nhiều

hồi phục lâu hơn

Rèn luyện tố chất bền đòi hỏi sử dụng các phương tiện khác nhau và phải linhhoạt trong khi vận dụng các phương pháp

Hệ phương pháp rèn luyện sức bền chung

Sức bền chung là cơ sở để rèn luyện một số loại sức bền chuyên môn

Nguyên tắc chính để rèn luyện sức bền chung là nâng dần thời gian thực hiệnbài tập có cường độ vừa phải và đòi hỏi nhiều bắp thịt tham gia trong hoạt động chu

kỳ Tập trong điều kiện tự nhiên, ở những nơi “giàu” Oxy, trên đường đất Phươngpháp sử dụng chính là phương pháp ổn định để rèn luyện sức bền chung

Các phương pháp tập phát triển sức bền chung nhằm giải quyết ba mặt: phát huy hếtkhả năng và làm quen cách phối hợp để tận dụng Oxy ngay trong quá trình làmviệc, tập nhịp điệu thở để tăng cường khả năng hồi và luyện tập ý chí, để người tậptin tưởng vào khả của chính mình

Sức bền chung được nâng dần lên nhờ tâng dần cường độ tập luyện, thời giankhông nên kéo dài quá 30 phút trong các nội dung chuyên đề để phát triển sức bền.Các vận động viên cấp cao để phát triển sức bền chung thường áp dụng các phươngpháp lặp lại và phương pháp thay đổi

Theo phương pháp lặp lại cần chú ý: thời gian chạy trên một quãng đườngkhông nên kéo dài quá 1,5 phút vổ cường độ 75 - 80% so với cường độ tối đa Nghỉgiữa các lần khoảng 3 phút số lần lặp lại cho đến khi nào thấy không duy trì được ởcường độ cũ nữa thì thôi

Phương pháp thay đổi làm người tập có hứng thú táng quá trình hồi phục

Hệ phương pháp rèn luyện sức bền chuyên môn

Khi luyện tập để phát triển sức bền chuyên môn phải xem xét kỹ về: cường độ,khoảng thời gian thực hiện, thời gian nghỉ giữa quãng và số lần lặp lại cho phùhợp với chuyên môn Những môn đòi hỏi cường độ lớn thực hiện trong thời gianngắn thì không nhất thiết phải rèn luyện sức bền chung

Trang 29

Đối với các môn hoạt động chu kỳ có cường độ lớn thường thực hiện trongđiều kiện thiếu Oxy Nên tập với cường độ gần giới hạn (95%) Tập cả cự ly (khôngquá 1phút), thời gian nghỉ giữa quãng là 2 - 3 phút.

Cũng có thể các lần tập xếp thành nhóm, mỗi nhóm lặp lại 4 - 5 lần, thời giannghỉ giữa các nhóm là 7 - 10 phút

Các phương pháp được sử dụng là ổn định, thay đổi, phân đoạn, lặp lại, thiđấu v.v

Số lần lặp lại sẽ chấm dứt khi nào không thực hiện được nữa theo cường độquy định

Rèn luyện sức bền cần phải chú ý giải quyết tốt về ý chí để người tập có khảnăng thắng được các cảm giác tiêu cực khi xuất hiện “trạng thái cực điểm”

Trong “trạng thái cực điểm” người tập thấy chân nặng, tức ngực, khó thở, đau

cơ, có ý muốn bỏ cuộc

Cùng với việc vận dụng ý chí để thắng “cực điểm” cũng cần giảm nhẹ cường

độ để vượt qua Qua “cực điểm thì tới hô hấp lần thứ hai Người tập sẽ thấy dễ chịu

và tiếp tục tập luyện được dễ dàng Để giải thích hiện tượng này, các công trìnhnghiên cứu chứng minh là quá trình sinh hoá ở trong cơ đã chuyển từ yếm khí sang

ái khí (thiếu Oxy sang đủ Oxy)

Đối với các bộ môn hoạt động không lặp lại theo chu kỳ hoặc hỗn hợp (như:bóng rổ, bóng đá ) có những phương pháp khác nhau

- Các môn hoạt động không chu kỳ (như: thể dục dụng cụ, quyển anh, vật )

để phát triển sức bền chuyên môn cần tăng số lượng bài tập, tăng số lần lặp lại, rútngắn thời gian nghỉ giữa, tăng số buổi tập trong tuần v.v

- Các môn hoạt động hỗn hợp (như bóng rổ, bóng đá ) lúc đầu tăng khốilượng tập luyện, sau đó tăng cường độ - mật độ tập luyện Cụ thể là lúc đầu tăngthời gian tập, sau đó tăng cường độ tập luyện (cường độ căn cứ vào yêu cầu củacuộc thi đấu để xác định cụ thể cho từng đối tượng và từng đội)

Trong một số môn đòi hỏi phải phát triển sức y mạnh, nên tập theo phươngpháp lặp lại với số lần cao nhất là lượng đôi kháng trung bình (50%)

Trang 30

Kết hợp với phương pháp liên hoàn vòng thì tác dụng của phương pháp lặp lại

số lần nhiều nhất mới phù hợp với các môn có tính chất hoạt động hỗn hợp

Phát triển sức bền chuyên môn rất cần thiết phải nâng cao trình độ kỹ thuật Vì

kỹ thuật càng cao người tập càng đỡ tốn sức vì những động tác và căng thẳng thừa,đồng thời tiết kiệm được sức để duy tri cường độ hoạt động cần thiết

Để rèn luyện sức bền, nên bố trí vào cuối buổi tập Lứa tuổi có thể bắt đầu tập sứcbền là 10 - 12 tuổi Song kế hoạch và chương trình tập phải có hệ thống, xây dựngphải dựa theo đặc điểm từng em cho phù hợp

1.5.4 Tố chất khéo léo và hệ phương pháp rèn luyện.

Khéo léo là năng lực tiếp thu nhanh các động tác và ứng phó kịp thời vớinhững thay đổi bất ngờ Xác định và đánh giá tố chất khéo léo là việc khó, có thểtính bằng khoảng thời gian tiếp thu động tác, hoặc bằng khoảng thời gian thực hiệnthay đổi động tác Khéo léo là một tố chất có liên quan chặt chẽ với tố chất khác vàđặc biệt là với ý chí người tập

Khéo léo cũng là một tố chất đặc biệt, có những vận động viên rất khéo léo khichơi phối hợp đồng đội nhưng kĩ thuật cá nhân lại kém, hoặc ngược lại

Hệ phương pháp rèn luyện khéo léo

Muốn rèn luyện khéo léo phải tập chính xác các bài tập mà người tập sẽ sửdụng trong thi đấu hoặc kiểm tra Vì tố chất khéo léo rất kém khả năng “chuyển”

Để rèn luyện khéo léo cần phải tập nhiều các loại hình động tác, càng nhiềuvốn động tác, khéo léo càng được phát triển nhờ quá trình tập để tiếp thu các độngtác đó các tố chất khác cũng phốt triển

Mặt khác, các động tác đã biết phải luôn luôn hoàn thiện vì chỉ lặp lại đơnthuần các động tốc đã biết sẽ làm cho khéo léo bị giảm đi

Luyện tập để phát triển tố chất khéo léo cũng phải gắn chặt với luyện tập chiếnthuật cho vận động viên Phải luôn luôn thay đổi các tình huống, đặt nhiều giả địnhkhác nhau để người tập quen xử lý

Quá trình rèn luyện cần bổ sung có kế hoạch và thường xuyên các cử độngmới, các biện pháp thực hiện và đặc điểm dùng sức v.v

Trang 31

Luyện tập khéo léo cần vào lúc cơ thể tỉnh táo và khoẻ mạnh, tốt nhất là vàođầu những buổi tập sau khi đã khởi động.

1.5.5 Tố chất mềm dẻo và hệ phương pháp rèn luyện.

Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn Chính vì thế nên biên

độ của các động tác trở thành tiêu chuẩn để đo về sự phát triển của tố chất mềm dẻo.Mềm dẻo cũng là tố chất đặc biệt của người tập, vì trong cùng một người cókhi bộ phận này rất dẻo mà bộ phận lại kém (ví dụ: dẻo vai mà hông thì cứng).Mềm dẻo có 2 dạng: tích cực và tiêu cực Mềm dẻo tích cực là dạng thể hiệnkhi làm động tác do chính bắp thịt tự kéo căng, mềm dẻo tiêu cực là dạng thể hiệnkết quả động tác nhờ ngoại lực có tác dụng giúp đỡ

Đo tố chất mềm dẻo có thể bằng độ góc hoặc độ dài ở mức người tập khônglàm hơn được nữa (vì đau quá)

Mềm dẻo phụ thuộc vào cấu tạo giải phẫu của khớp, vào đàn tính của cơ bắp

và dây chằng

Trong ngày, khi đo mềm dẻo thấy buổi trưa kết quả cao hơn buổi sáng Các

em nhỏ thường dẻo hơn người lớn Trời lạnh hoặc lúc mệt mỏi cũng làm giảm mềmdẻo

Hệ phương pháp rèn luyện mềm dẻo

Trong quá trình rèn luyện mềm dẻo cần xác định mức cần thiết, không nên đểphát triển đến mức giới hạn tột bực "quá dẻo” sẽ không cân đối với sự phát triển các

tố chất khác và trở ngại đến sự rèn luyện chung

Để rèn luyện mềm dẻo thường sử dụng các loại động tác và bài tập sau:

- Làm động tác tích cực đạt biên độ lớn nhất

- Làm các động tác "nhún” lặp lại căng và thả lỏng

- Làm động tác có tính chất lăng mạnh

- Làm động tác vươn tới điểm chuẩn

- Làm động tác phải khắc phục lực kéo ra

- Tập từng đôi, có lực giúp của đồng đội

- Tập dựa vào các dụng cụ v.v

Trang 32

- Tập để phát triển mềm dẻo tốt nhất là sau khi khởi động hoặc sau bài tập thểdục buổi sáng Mỗi ngày tập dẻo hai lần sáng và chiều là số buổi lặp lại tốt nhất đốivới người tập Các bài tập dẻo nên xếp thành nhóm, mỗi buổi tập lặp lại các nhóm

từ 4 - 5 lần Có cảm giác hơi đau phải ngừng tập Cần sắp xếp các bài tập dẻo tíchcực xen kẽ với các bài tập dẻo tiêu cực cho phù hợp với từng đối tương

Lứa tuổi 11-14 tuổi là tuổi phát triển mềm dẻo rất tốt Tập đểu sẽ giữ đượcmềm dẻo trong suốt thời gian tập luyện

Rèn luyện các tố chất phải coi đó là quá trình sư phạm thống nhất, định pháttriển tố chất này đến mức nào thì cũng phải rèn luyện tố chất khác đến mức cần thiếttương đương Để làm được như vậy luôn luôn xác định hai mặt cần thiết là:

- Mức độ phát triển của người tập

- Đặc điểm và lượng vận động của buổi tập

Nắm vững hai mặt đó rồi tuỳ theo trình độ của người tập mà áp dụng lượngvận động cho phù hợp với giai đoạn huấn luyện và theo sự cần thiết phải đạt về từngloại tố chất [6]

Trang 33

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu trên, chúng tôi đã tiến hành sử dụng cácphương pháp sau:

2.1.1 Phương pháp tham khảo tài liệu:

Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu.Nhằm mục đích hệ thống kiến thức, hình thành cơ sở lý luận, lựa chọn các chỉ tiêu

và tìm cứ liệu để phân tích đánh giá cho đề tài Các tài liệu liên quan được thu thậpbao gồm:

Các tài liệu giảng dạy của Liên Đoàn Điền kinh Thế giới (IAAF), sách kỹthuật, luật điền kinh, thống kê toán, lý luận và phương pháp giáo dục thể dục thểthao…

Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về TDTT trường học

Các luận án, luận văn cao học liên quan đến TDTT

Trang 34

những câu hỏi được sắp xếp theo trật tư suy luận logic (diễn dịch hoặc qui nạp) Vớitrật tự được sắp xếp đúng đắn về phương pháp luận, người nghiên cứu có thể thuđược những thông tin tương đối chính xác và thực tế về sự việc hoặc hiện tượng.Các số liệu tổng hợp thu được là một trong những cơ sở để xây dựng nội đung huấnluyện thể lực chuyên môn của nhảy cao kiểu bước qua.

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các chuyên gia về thể dục thể thao:

Trưởng bộ môn nhảy, khoa điềnkinh, trường Đại học sư phạmTDTT thành phố Hồ Chí Minh

Giáo dục thểchất và huấnluyện thể thao

Giảng viên khoa điền kinh,trường Đại học sư phạm TDTTthành phố Hồ Chí Minh

Giáo dục thểchất và huấnluyện thể thao

Giảng viên khoa điền kinh,trường Đại học sư phạm TDTTthành phố Hồ Chí Minh

Giáo dục thểchất và huấnluyện thể thao

Giảng viên khoa điền kinh,trường Đại học sư phạm TDTTthành phố Hồ Chí Minh

Giáo dục thểchất và huấnluyện thể thao

phố Hồ Chí Minh

Giáo dục thểchất và huấnluyện thể thao

Trưởng bộ khoa điền kinh,trung tâm TDTT Quận 6, thànhphố Hồ Chí Minh

Huấn luyện thểthao

Vĩnh Long

Giáo dục thểchất

Vĩnh Long

Giáo dục thểchất

Giá, Kiên Giang

Giáo dục thểchất

Các chuyên gia được phỏng vấn là những người có kinh nghiệm trong giảng

và các huấn luyện bộ môn điền kinh để thu thập các bài tập được sử dụng trong thựctiễn, qua đó làm cơ sở cho việc lựa chọn các test và các bài tập hợp lý nhằm ứng

Trang 35

dụng các bài tập thể lực chuyên môn trong huấn luyện đội tuyển Chúng tôi sẽphỏng vấn về mức độ sử dụng (gồm ba mức độ: Rất phù hợp, phù hợp, không phùhợp) của các bài tập sau đây

Quay góc: Chạy tiếp sức nước rút

Chạy vượt rào

Nhảy 3 bước trong phạm vi nhất định

Nhảy 3 bước chạy đà ngắn

Nhảy xa đòi hỏi kĩ thuật

Dùng xào nhảy qua hố cát

Trang 36

Ném luân phiên

Ném bóng ngược qua đầu ra sau

Dùng 1 tay phóng lao ra xa

 Nhóm bài tập Năng lực phối hợp vận động

Chạy luồn qua 5 cọc, cự ly 20m

Chạy ziczac qua 5 cọc, cự ly 20m

Chạy con thoi 4 x 10m

Bật nhảy vào ô quy định, cự ly 15m

Thử nghiệm Adams (nhảy 4 ô)

Nhảy lục giác

Chạy chữ T

2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm:

Phương pháp này dùng để thu thập thông tin liên quan đến các dấu hiệu khácnhau của khả năng vận động của học sinh thông qua các bài kiểm tra, các test thểlực của học sinh trước và sau thực nghiệm

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các test sau đây để tiến hành kiểm tra sưphạm:

*Chạy 30m xuất phát cao (giây)

Test này dùng để đánh giá sức nhanh

Đường chạy thẳng có chiều dài ít nhất 40m, bằng phẳng, chiều rộng ít nhất2m cho 2 người cùng chạy mỗi đợt, nếu rộng hơn có thể cho 3, 4 người chạy Kẻvạch xuất phát, vạch đích ở 2 đầu đường chạy đặt cọc tiêu Sau đích ít nhất cókhoảng trống 10m để giảm tốc độ sau khi về đích

Đối tượng điều tra chạy bằng chân không hoặc bằng giày, không chạy bằngdép, guốc, khi có hiệu lệnh “vào chỗ”, tiến vào sau vạch xuất phát, đứng chân trước,chân sau, cách nhau 30 - 40cm, trọng tâm hơi đổ về trước, hai tay thả lỏng tự nhiên,bàn chân trước đặt ngay sau vạch xuất phát, tư thế thoải mái Khi nghe hiệu lệnh

“sẵn sàng”, hạ thấp trọng tâm dồn vào chân trước, tay hơi co ở khuỷu, đưa ra ngượcchiều chân, thân người đổ về trước, đầu hơi cúi, toàn thân giữ yên, tập trung chú ý

Trang 37

đợi lệnh xuất phát Khi có lệnh “chạy”, ngay lập tức lao nhanh về trước, thẳng tiếntới đích và băng qua đích.

Đối với người bấm giờ, đứng ngang vạch đích, tay cầm đồng hồ, đặt ngóntay trỏ vào nút bấm, nhìn về vạch xuất phát, khi thấy cờ bắt đầu hạ, lập tức bấmđồng hồ Khi ngực hoặc vai của người chạy chạm mặt phẳng đích thì bấm dừng

Thành tích chạy được xác định là giây và số lẻ từng 1/100 giây

30 mét

Hình 2.1: Test chạy 30 m XPC

* Chạy con thoi 4 x l0m (giây)

Dùng test này để đánh giá năng lực khéo léo và sức mạnh

Đường chạy có kích thước 10 x l.2m, bốn góc có vật chuẩn để quay đầu.Đường chạy bằng phẳng, không trơn, tốt nhất trên nền đất khô Để an toàn, hai đầuđường chạy có khoảng trống ít nhất 2m Dụng cụ gồm đồng hồ bấm giây, thước đodài, bốn vật chuẩn đánh dấu bốn góc

Đối tượng điều tra thực hiện theo khẩu lệnh “vào chỗ - sẵn sàng - chạy”giống như thao tác đã trình bày trong chạy 30m xuất phát cao Khi chạy đến vạch10m, chỉ cần một chân chạm vạch, lập tức nhanh chóng quay ngoắt toàn thân vònglại, về vạch xuất phát, đến khi một chân chạm vạch thì quay lại Thực hiện lặp lạicho đến hết quãng đường, tổng số 2 vòng với 3 lần quay ra

Hình 2.2: Test Chạy con thoi 4 x l0m (giây)

Trang 38

* Bật xa tại chỗ (cm)

Kiểm tra bật xa tại chỗ để đánh giá sức mạnh

Đối tượng điều tra thực hiện bật xa tại chỗ trên thảm cao su Trên thảm đặtthước đo để tính độ dài bật xa Thước đo là một thanh hợp kim dài 3m, rộng 3cm

Kẻ vạch xuất phát, mốc 0 của thước chạm vạch xuất phát

Đối tượng điều tra đứng hai chân rộng bằng vai, ngón chân đặt sát mépvạch xuất phát, hai tay giơ lên cao, hạ thấp trọng tâm, gấp khớp khuỷu, gập thân,hơi lao người về phía trước, đầu hơi cúi, hai tay hạ xuống dưới, ra sau (giống tư thếxuất phát trong bơi), phối hợp duỗi thân, chân bật mạnh về trước đồng thời hai taycũng vung mạnh ra trước Khi bật nhảy và khi tiếp đất hai chân tiến hành đồng thờicùng lúc

Kết quả đo được tính bằng độ dài từ vạch xuất phát đến vệt gần nhất của gótbàn chân (vạch dấu chân trên thảm), chiều dài lần nhảy được tính bằng đơn vị cm.Thực hiện hai lần nhảy và lấy lần xa nhất

Hình 2.3: Test Bật xa tại chỗ (cm)

Trang 39

* Nằm ngửa gập bụng (lần/30 giây) (Hình 2.4)

Test này để đánh giá sức mạnh cơ bụng Tính số lần trong 30 giây

- Cách thức kiểm tra và công nhận thành tích:Khách thể điều tra ngồi trên sàn(ghế bang, trên cỏ), bằng phẳng, sạch sẽ Chân co 90 độ ở đầu gối, bàn chân áp sátsàn nhà, ngón tay đang chéo vào nhau, long bàn tay áp chặt vào đầu, khuỷu taychạm đùi Người thứ hai hỗ trợ bằng cách ngồi trên mu bàn chân, đối diện khách thểđiều tra, hai tay giữ phần dưới cẳng chân, nhằm không cho bàn chân khách thể điềutra tách khỏi sàn

Kết quả được xác định như sau: Khi có hiệu lệnh “ bắt đầu” , khách thể điềutra ngả người nằm ngửa ra, hai bả vai chạm sàn sau đó gập bụng thành ngồi, haikhuỷu tay chạm đùi, thực hiện động tác gập thân đến 90 độ Mỗi lần ngả người cobụng, được tính một lần Điều tra viên thứ nhất ra lệnh “ bắt đầu”, bấm đồng hồ,đến giây thứ 30, hô “kết thúc” , điều tra viên thứ hai đếm số lần gập bụng

Yêu cầu khách thể điều tra làm đúng kĩ thuật và cố gắn thực hiện được số lầncao nhất trong 30 giây

Hình 2.4: Test nằm ngửa gập bụng (lần/30 giây)

Trang 40

Phương pháp này có ưu điểm cơ bản là người nghiên cứu có thể chủ động tạo

ra các tình huống có thể nhanh chóng thay đổi tình huống, có thể xem xét nhiềukhía cạnh khác nhau của tiến trình Tuy nhiên nhược điểm cơ bản của thực nghiệm,

dù sao vẫn chỉ là mô phỏng (nếu thực nghiệm trên mô hình) hoặc chịu nhiều điềukiện ràng buộc (thực nghiệm trên đối tượng thực) Người nghiên cứu còn phải tiếptục đưa ra các phân tích để suy ra bản chất thực của sự vật hoặc hiện tượng

Phương pháp thực nghiệm sư phạm là phương pháp nghiên cứu nhằm tìmkiếm nguyên nhân của mối quan hệ nhân quả hoặc kiểm chứng một giả thiết nào đóbằng cách can thiệp làm thay đổi điều kiện tự nhiên của đối tượng nghiên cứu tạo ranhững trang thái mới

Mục đích của phương pháp này là nhằm đánh giá hiệu quả các bài tập củaIAAF vào chương trình giảng dạy giáo dục thể chất của học sinh khối 8 – 9 trườngTHCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Sau khi tổng hợp các phiếu phỏng vấn, chúng tôi lựa chọn một số bài tập thiếtthực của IAAF vào chương trình giảng dạy giáo dục thể chất của học sinh khối 8 –

9 trường THCS Nguyễn Trường Tộ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Sau đótiến hành thực nghiệm các bài tập IAAF trong thời gian là một năm học

2.1.5 Phương pháp toán thống kê:

Phương pháp này dùng để xử lý các số liệu thu được theo các công thứctoán học thống kê với sự hỗ trợ của chương trình Microsoft Excel Dự kiến sử dụngcác công thức tính sau:

Ngày đăng: 27/10/2020, 13:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w