1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Dòng chảy dinh dưỡng nitơ trong hệ thống canh tác cây trồng - vật nuôi của các nông hộ nhỏ tại Tây Nguyên

4 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 117,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này đã định lượng dòng chảy dinh dưỡng Nitơ trong các hệ thống canh tác (HTCT) cây trồng - vật nuôi tại các nông hộ nhỏ ở Tây Nguyên.

Trang 1

(Meloidogyne incognita and Pratylenchus coffeae) damaging coffee trees was conducted in a trial with 5 treatments

at different concentrations: 0, 1, 2, 3 and 4% The trial was repeated for 4 times in laboratory conditions The results showed that the best treatments applied for wood vinegar at 3% and 4% of concentrations could kill 83,33% and

95,49% of Pratylenchus coffeae, respectively; 91,59% and 100% of Meloidogyne incognita, respectively after 48 hours

of application Therefore, wood vinegar is good potential for control of nematodes damaging coffee

Keywords: Wood vinegar, Meloidogyne incognita, Pratylenchus coffeae

DÒNG CHẢY DINH DƯỠNG NITƠ TRONG HỆ THỐNG CANH TÁC

CÂY TRỒNG - VẬT NUÔI CỦA CÁC NÔNG HỘ NHỎ TẠI TÂY NGUYÊN

Châu Thị Minh Long1 và Đậu Thế Năm1

TÓM TẮT

Nghiên cứu này đã định lượng dòng chảy dinh dưỡng Nitơ trong các hệ thống canh tác (HTCT) cây trồng - vật nuôi tại các nông hộ nhỏ ở Tây Nguyên Bốn loại nông trại bao gồm HTCT có mức độ đa dạng thấp của người dân tộc thiểu số (DTTS) (LE), HTCT có mức độ đa dạng thấp của người Kinh (LK), HTCT có mức độ đa dạng cao của người DTTS (HE) và HTCT có mức độ đa dạng cao của người Kinh (HK) đã được lựa chọn để thu thập số liệu về các hoạt động nông nghiệp và đầu vào, đầu ra của dòng chảy dinh dưỡng Nitơ tại nông trại Sự cân bằng dinh dưỡng Nitơ được phân tích bằng cách sử dụng mô hình Farm DESIGN Kết quả cho thấy cả bốn loại HTCT trên đều có có lượng Nitơ dư thừa (45 - 79 kg N /ha/năm), thấp nhất ở hệ thống HE và cao nhất ở hệ thống HK Cân bằng Nitơ lớn hơn 0 cho thấy rằng mặc dù dinh dưỡng của đất sẽ được duy trì nhưng lại có nguy cơ ô nhiễm môi trường

Từ khóa: Dòng chảy dinh dưỡng, hệ thống canh tác cây trồng - vật nuôi, Tây Nguyên, Việt Nam

Ngày nhận bài: 21/11/2018

Ngày phản biện: 27/11/2018 Người phản biện: TS Nguyễn Thị NhungNgày duyệt đăng: 10/12/2018

1 Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những thập kỷ qua, cùng với sự phát triển

của nền kinh tế thị trường, áp lực gia tăng dân số và

các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nhiều nông hộ

đã sản xuất thâm canh và độc canh một mặt hàng

nông sản trong nông hộ như tiêu, cà phê, Điều

này đã dẫn đến việc phụ thuộc nhiều vào hóa chất

đầu vào như phân bón và thuốc hóa học Từ đó,

môi trường đất bị suy thoái và dịch hại phát triển

(Long, 2010)

Từ tháng 5/2017 đến tháng 12/2018, trong khuôn

khổ hợp tác với CIAT, Viện KHKT Nông Lâm

nghiệp Tây nguyên đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu

hệ thống canh tác cây trồng - vật nuôi nhằm tăng

hiệu quả sinh thái theo cách tiếp cận có sự tham gia

ở các nông hộ nhỏ tại Tây Nguyên”, trong đó nghiên

cứu dòng chảy dinh dưỡng Nitơ trong HTCT nông

hộ là một trong những nội dung nghiên cứu của đề

tài Nghiên cứu nhằm mô tả hiện trạng quản lý chất

dinh dưỡng Nitơ trong HTCT cây trồng - vật nuôi

của các nông hộ nhỏ tại Tây Nguyên, từ đó làm cơ sở

cho việc mô hình hóa các HTCT nông hộ và khuyến

nghị phát triển HTCT nông hộ bền vững

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các nông hộ nhỏ ở Tây Nguyên, được điều tra thông qua bộ phiếu điều tra

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp chọn mẫu điều tra

Danh sách hộ điều tra được kế thừa từ kết quả nghiên cứu điều tra nông hộ RHoMIS (Rural Households Multi-Indicator Survey) 310 hộ dân tại hai xã Ea Tyh, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk và xã Đắk Dro, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông năm 2016 và nghiên cứu điều tra PGIS (Participatory Geographic Information System) 93 nông hộ được lựa chọn

từ danh sách điều tra ban đầu được thực hiện vào tháng 6/2017 của CIAT Các điều tra này đã tính toán chỉ số đa dạng của HTCT (DI) dựa vào tổng

số loại cây trồng và vật nuôi trong nông hộ Hai loại HTCT được chọn lựa cho nghiên cứu này là: mức

độ đa dạng thấp (DI ≤ 4) và mức độ đa dạng cao (DI ≥ 8) cho hai đối tượng người DTTS và người Kinh Trên cơ sở đó, 4 nông hộ được lựa chọn điều tra cho nghiên cứu này và đại diện cho 4 loại hình canh tác nông hộ tại địa bàn nghiên cứu (Bảng 1)

Trang 2

Bảng 1 Các loại hình HTCT

được chọn lựa trong nghiên cứu

Chỉ số đa

dạng Thấp (DI ≤ 4) Thấp (DI ≤ 4) Cao (DI ≥ 8) Cao (DI ≥ 8)

Địa điểm

(xã) Đắk Dro Ea Tyh Đắk Dro Ea Tyh

2.2.2 Phương pháp điều tra

Dựa vào mẫu phiếu IPACTLite (Integrated

modeling Platform for Mixed Animal Crop Systems

survey) Các thông tin thu thập bao gồm thông tin

nông hộ, đất đai, cây trồng, vật nuôi, phân bón và

việc quản lý HTCT nông hộ

2.2.3 Một số công thức được sử dụng để tính toán

- Đơn vị chăn nuôi nhiệt đới TLU (Tropical

Livestock Unit)

Bảng 2 Đơn vị chăn nuôi quy đổi của các loại vật nuôi

Nguồn: Chilonda and Otte (2006).

- Cân bằng dinh dưỡng Nitơ tại nông trại (kg N/

ha/năm)

N-FG balance= ∑(CPimp ,Mimp ,Bio Nfix ,NDep) –

∑(CPexp , CPHH , V, CRburn, AP exp, APHH, M exp)

Trong đó: FG: tại nông trại; CP imp : đầu vào từ sản phẩm cây trồng; M imp : đầu vào từ phân bón; BioN fix :

cố định đạm sinh học; N Dep : cố định đạm từ đất; CP exp : đầu ra từ sản phẩm cây trồng; CP HH : sản phẩm cây trồng tiêu thụ trong nông hộ; V: sự bay hơi; CR burn : phụ phẩm đốt bỏ trên đồng ruộng; AP exp : sản phẩm vật nuôi xuất ra khỏi nông hộ; AP HH : sản phẩm chăn nuôi được tiêu thụ tại nông hộ; M exp : phân chuồng xuất ra khỏi nông hộ.

- Số liệu thu thập được phân tích bằng phần mềm

Farm DESIGN (Groot et al., 2012) và Excel.

2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5 đến tháng

12 năm 2017 tại xã Ea Tyh, Huyện Ea Kar, Tỉnh Đắk Lắk và xã Đắk Dro, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm của các loại hình canh tác nông hộ lựa chọn cho nghiên cứu

Bốn hộ nghiên cứu đại diện cho các mức độ đa dạng HTCT khác nhau của người Kinh và DTTS HTCT đa dạng thấp chủ yếu chỉ có cà phê, lúa và chăn nuôi gia cầm như gà và vịt; trong khi đó HTCT

đa dạng cao có thêm nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác như cây điều, tiêu, cỏ VA06, chăn nuôi bò và ao

cá Diện tích, số lượng và số loại cây trồng, vật nuôi của các HTCT được miêu tả chi tiết ở Bảng 3

Bảng 3 Một số đặc điểm chính của các HTCT

Cây trồng chính Cà phê (1,0) Cà phê (1,0) Điều (0,8) Cà phê - Tiêu (1,5)

Cà phê (0,3) Cỏ VA06 (0,25)

Cỏ VA06 (0,03) Ao cá (0,13)

Ao cá (0,07)

Bò mẹ (1) Bò mẹ (1)

Ghi chú: Số liệu trong ngoặc là diện tích canh tác đối với cây trồng (ha) và số lượng vật nuôi đối với gia súc, gia cầm.

Trang 3

3.2 Dòng chảy dinh dưỡng Nitơ tại nông trại của

các HTCT nông hộ

Dòng chảy dinh dưỡng Nitơ tại nông trại bao

gồm lượng Nitơ được đưa từ bên ngoài vào hệ thống

và lượng Nitơ xuất ra bên ngoài từ HTCT Nitơ đầu

vào tại nông trại bao gồm từ sản phẩm cây trồng

như cám cám gạo, bắp được mua thêm làm thức ăn

gia súc hoặc vật nuôi tự tìm được trong quá trình

chăn thả; từ phân bón; từ việc cố định đạm của các

cây trồng họ đậu, các loại vi sinh vật khác và từ đất

Nitơ đầu ra bao gồm lượng Nitơ mất đi từ những sản phẩm cây trồng, vật nuôi được xuất ra bên ngoài (do bán đi); sản phẩm vật nuôi, cây trồng cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ của nông hộ; lượng Nitơ mất đi

từ phụ phẩm nông nghiệp đốt bỏ trên đồng ruộng; lượng phân không thu gom được do nuôi thả rông và lượng Nitơ bay hơi từ phân bón (Bảng 4) Vì không

có hệ thống nào trong nghiên cứu này có trồng cây

họ đậu nên lượng Nitơ có được từ việc cố định đạm

từ các loại cây trồng họ đậu là bằng 0

Bảng 4 Dòng chảy dinh dưỡng Nitơ trong HTCT nông hộ tại nông trại

ĐVT: kg N/ha/năm

Lượng Nitơ đầu vào chủ yếu từ phân bón ở tất

cả các HTCT và cao nhất ở hệ thống HK (178 kg

N/ha/năm), tiếp đến là LE (172 kg N/ha/năm), LK và

HE có số lượng tương đương nhau, theo thứ tự là 107

và 108 kg N/ha/năm (Bảng 4) Lượng Nitơ đầu vào từ

sản phẩm cây trồng cao nhất ở hệ thống HE và HK

(6 kg N/ha/năm) Hai hệ thống còn lại có số lượng

bằng nhau và bằng 1 kg N/ha/năm Hệ thống HE và

HK có lượng Nitơ đầu vào này cao hơn các hệ thống

khác là do hai hệ thống này có tổng số TLU lớn hơn và

vật nuôi trong hệ thống chăn nuôi theo phương pháp

bán chăn thả Mặc dù đa dạng trong HTCT nhưng

sản phẩm của cây trồng vẫn chưa cung cấp đủ cho gia

cẩm Hộ LK phải mua thêm bắp cho chăn nuôi

Lượng Nitơ đầu ra từ sản phẩm cây trồng là

lượng Nitơ mất đi do sản lượng cây trồng đã bị

xuất ra khỏi hệ thống, không bao gồm lượng Nitơ

có trong phụ phẩm nông nghiệp được tái sử dụng

trong hệ thống như làm phân xanh hay ủ làm phân

bón cho cây trồng Nó phụ thuộc vào năng suất cây

trồng và kỹ thuật canh tác của người dân như có

sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón cho cây trồng hay không, Lượng Nitơ này chiếm phần lớn ở tất cả các HTCT và cao nhất ở hệ thống LE (100 kg N/ha/năm), tiếp đến là HK (94 kg N/ha/năm),

LK (56 kg N/ha/năm) và HE có số lượng thấp nhất (42 kg N/ha/năm) (Bảng 4) Hầu hết các HTCT đều trồng lúa để ăn, cho chăn nuôi và phần còn lại dùng

để bán Lượng Nitơ mất đi từ sản phẩm cây trồng được tiêu thụ trong nông hộ nhiều nhất là ở hộ LE, tiếp đến là HE, HK và LK với số lượng lần lượt là

14, 12, 9 và 7 kg N/năm Có sự khác biệt này chủ yếu là do số lượng nhân khẩu và mức độ tiêu thụ lúa gạo là khác nhau giữa các hộ Lượng Nitơ đầu ra từ sản phẩm vật nuôi là lượng Nitơ mất đi do bán sản phẩm vật nuôi ra ngoài Hệ thống LK, HE và HK có lượng Nitơ mất đi này từ 2 - 4 kg N/năm, trong khi

đó ở hệ thống LE số liệu này = 0 (Bảng 4) Điều này

là do trong hệ thống LE, chăn nuôi gà và vịt chỉ để tiêu thụ trong gia đình Hệ thống HE và HK còn có

Trang 4

một lượng Nitơ mất đi do việc đốt rơm rạ trên đồng

ruộng với số lượng lần lượt là 13 và 4 kg N/ha/năm

Điều này gây lãng phí nguồn dinh dưỡng Nitơ trong

hệ thống canh tác

Cân bằng Nitơ tại nông trại của 04 loại HTCT

nông hộ đều cho kết quả lớn hơn 0 (45 - 79 kg

N/ha/năm) (Bảng 4), có nghĩa là tổng lượng Nitơ

đầu vào lớn hơn tổng lượng Nitơ đầu ra Kết quả này

cũng phù hợp với nghiên cứu trước đây về cân bằng

Nitơ của các HTCT lúa - cá tại Đồng bằng sông Cửu

Long Lượng Ni tơ dư thừa là 60 - 121 kg N/ha/năm

(Phong et al., 2011) Hedlund và cộng tác viên (2003)

khi đánh giá việc quản lý Nitơ trong HTCT nông hộ

nhỏ ở xã An Sơn, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương

cũng cho kết quả tương tự Lượng Nitơ đầu vào vượt

quá nhu cầu của HTCT từ 26 - 643 kg N/ha/năm Tuy

nhiên, một nghiên cứu khác tại Xieng Khoang, Lào

cho thấy lượng Nitơ đầu vào nhỏ hơn nhu cầu của

HTCT từ 0 từ 2,2 - 123 kg N/ha/năm (Carole, 2017)

IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1 Kết luận

Dòng chảy dinh dưỡng Nitơ trong HTCT của các

nông hộ nhỏ tại Tây Nguyên đã được mô tả dựa trên

04 loại HTCT là của người DTTS, mức độ đa dạng

của hệ thống thấp (LE); của người Kinh, mức độ đa

dạng của hệ thống thấp (LK); của người DTTS, mức

độ đa dạng của hệ thống cao (HE); và của người

Kinh, mức độ đa dạng của hệ thống cao (HK) Dòng

dinh dưỡng này là thừa Nitơ Người dân đã sử dụng

quá nhiều phân hóa học so với nhu cầu ở cả 04 loại

HTCT, nhất là ở nhóm hộ người Kinh Việc sử dụng

phế phụ phẩm nông nghiệp, lựa chọn cây trồng - vật

nuôi và các phương thức chăn nuôi như chăn thả

hoặc nuôi nhốt cũng đã ảnh hưởng đến dòng chảy

dinh dưỡng này

4.2 Đề nghị

Để nâng cao hiệu quả sử dụng dinh dưỡng trong HTCT nông hộ thì cần thiết phải quản lý nguồn phụ phẩm nông nghiệp, nguồn phân chuồng, trồng xen các loại cây họ đậu trong hệ thống sản xuất cây trồng vật nuôi và quản lý tốt việc bón phân hóa học cho cây trồng Cần tiếp tục nghiên cứu mô hình hóa các HTCT nông hộ để có cơ sở khuyến nghị phát triển HTCT nông hộ bền vững

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Carole, A E., 2017 Nutrient flows in smallholder

crop-livestock farming ystems of the Xiangkhouang province of Lao PDR - Analysis and suggestions for improved nitrogen and phosphorus management

Master Thesis, ETH Zurich University

Chilonda, P and Otte, J., 2006 Indicators to monitor

trends in livestock production at national, regional

and international levels. Livestock Research for Rural Development, Volume 18, Article No.117. 

Groot, J C., Oomen, G J., and Rossing, W A., 2012

Multi-objective optimization and design of farming

systems Agricultural Systems, 110: 63 -77.

Hedlund, A., Witter, E., and Xuan, B., 2003. Assessment

of N, P and K management bynutrient balances and flows on peri-urban smallholder farms in southern

Vietnam. European Journal of Agronomy, 20: 71-87.

Long, C.T.M., 2010 The relative sustainability of coffee

and mixed farming systems in Daklak province, Vietnam Lambert Academic Publishing 2010.

Phong, L T., Stoorvogel, J J., Van Mensvoort, M E F., and Udo, H M J., 2011 Modelingthe soil nutrient

balance of integrated agriculture-aquaculture

systems in the Mekong Delta, Vietnam.  Nutrient Cycling in Agroecosystems, 90(1): 33-49.

Nitrogen nutrient flows of smallholder crop - livestock farming systems

in the Central Highlands of Vietnam

Chau Thi Minh Long and Dau The Nam

Abstract

The study quantifies nitrogen nutrient flows of smallholder crop - livestock farming systems in the Central Highlands

of Vietnam Four farm types including the low diversified farming system of ethnic farmer (LE), the low diversified farming system of Kinh farmer (LE), the high diversified farming system of Kinh farmer (HE) and the high diversified farming system of Kinh farmer (LE) were selected for collecting data on farm activities and nutrient inputs and outputs The balances of nitrogen nutrient were analyzed by using Farm DESIGN model The results showed that farms in all four systems had nitrogen redundancy (11 - 79 kg N ha-1 year-1); the lowest in HE system and the highest in HK system The positive nitrogen balance indicated that although soil fertility is maintained, there will be

a risk for environmental contamination

Keywords: Nutrient flows, crop - livestock farming systems, Central Highlands

Ngày nhận bài: 15/11/2018

Ngày phản biện: 2/12/2018 Người phản biện: TS Phan Việt HàNgày duyệt đăng: 10/12/2018

Ngày đăng: 27/10/2020, 10:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các loại hình HTCT - Dòng chảy dinh dưỡng nitơ trong hệ thống canh tác cây trồng - vật nuôi của các nông hộ nhỏ tại Tây Nguyên
Bảng 1. Các loại hình HTCT (Trang 2)
Bảng 2. Đơn vị chăn nuôi quy đổi của các loại vật nuôi - Dòng chảy dinh dưỡng nitơ trong hệ thống canh tác cây trồng - vật nuôi của các nông hộ nhỏ tại Tây Nguyên
Bảng 2. Đơn vị chăn nuôi quy đổi của các loại vật nuôi (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w