1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả công tác xử lí nợ có vấn đề tại Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên

71 433 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Xử Lí Nợ Có Vấn Đề Tại Chi Nhánh NH ĐT&PT Tỉnh Phú Yên
Tác giả Lê Thị Huệ
Trường học Học Viện Ngân Hàng
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Chuyên đề
Thành phố Phú Yên
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 604,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các rủi ro có nhiều hình thức, một trong những rủi ro đó là nợ có vấn đề, tình trạng nợ có vấn đề vẫn đang ngày một là tiềm tàng rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương

Trang 1

Lời mở đầu

Trong quá trình hoạt động của mình, hệ thống ngân hàng Vệt Nam vẫn còn một số hạn chế nhất định: vốn, trình độ công nghệ, năng lực đội ngũ cán bộ… Đặc biệt là nhiệm vụ phòng ngừa, phát hiện và xử lý rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Các rủi ro có nhiều hình thức, một trong những rủi ro đó là nợ có vấn đề, tình trạng nợ có vấn đề vẫn đang ngày một là tiềm tàng rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, ảnh hưởng không nhỏ tới mục tiêu chiến lược kinh doanh, khả năng sinh lời cũng như lợi nhuận của các ngân hàng thương mại

Trong thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển tỉnh Phú Yên, nhận thấy tính cấp thiết của công tác xử lí nợ có vấn đề, được sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy cô, sự quan tâm, giúp đỡ của cán bộ, nhân viên tại chi nhánh, đặc biệt là các cán bộ trong phòng quản lí rủi ro, em đã nghiên

cứu đề tài: “Nâng cao hiệu quả công tác xử lí nợ có vấn đề tại chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển tỉnh Phú Yên”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận về tín dụng và chất lượng tín dụng của NHTM, thực trạng nợ có vấn đề tại Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên, chuyên đề tiến hành đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác xử lí nợ

có vấn đề tại Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên

3 Phương pháp nghiên cứu: Thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh kết hợp

với phương pháp duy vật

4 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng nợ có vấn đề tại Chi nhánh NH ĐT&PT

tỉnh Phú Yên

Trang 2

5 Nội dung chính của chuyên đề gồm:

Chương 1: Lý luận chung về nợ có vấn đề trong hoạt động kinh doanh tín dụng của Ngân hàng thương mại.

Chương 2: Thực trạng nợ có vấn đề và cách thức xử lí nợ có vấn đề tại chi nhánh Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển tỉnh Phú Yên.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lí nợ có vấn đề tại Chi nhánh Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển tỉnh Phú Yên.

Trang 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ CÓ VẤN ĐỀ TRONG HOẠT ĐỘNG

KINH DOANH TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tín dụng ngân hàng và rủi ro tín dụng.

1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa các ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay

Với tư cách là một quan hệ tín dụng, nên TDNH cũng có đầy đủ các đặc trưng thể hiện bản chất của quan hệ tín dụng, ngoài ra còn có các đặc trưng sau:

- Ngân hàng cấp tín dụng bằng tiền, bằng tài sản

- Ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay

- Sản phẩm của TDNH là khế ước nhận nợ chứ không phải là công trái hay thương phiếu

Khác với hình thức tín dụng trực tiếp, nguồn vốn của tín dụng ngân hàng là nguồn vốn huy động của xã hội với khối lượng và thời hạn khác nhau, do đó nó

có thể thỏa mãn các nhu cầu vốn đa dạng về khối lượng cũng như thời hạn và mục đích sử dụng Do vậy, tín dụng ngân hàng là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và trở thành hình thức tín dụng chủ yếu của hệ thống tín dụng

1.1.2 Chức năng của tín dụng ngân hàng.

Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng có 3 chức năng sau đây:

Trang 4

a) Chức năng tập trung, phân phối vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả:

- Tín dụng ngân hàng có vai trò đẩy mạnh quá trình tích tụ tập trung vốn

Trong quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng và các chủ thể khác trong

xã hội, khi NH đóng vai trò là người đi vay, NH đã biến các bộ phận vốn phân tán, nhàn rỗi trong nền kinh tế thành một quỹ tiền tệ tập trung với quy mô lớn phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng

- Tín dụng ngân hàng có vai trò phân phối vốn góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế

Ngân hàng cho vay trên nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn, cho nên chỉ những ngành nghề kinh doanh hiệu quả, những dự án khả thi mới tiếp cận được nguồn vốn TDNH, đảm bảo nguồn vốn tiết kiệm của xã hội được chuyển giao chính xác cho đối tượng có nhu cầu sử dụng vốn Thông qua quá trình phân phối vốn, TDNH góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục

b Chức năng thoả mãn thanh khoản.

Tín dụng thực chất là tạo ra thanh khoản cho nền kinh tế dưới dạng người cho vay cung cấp cho người vay một khoản tiền tệ để chi trả một món nợ nào đó, hoặc thanh toán một giá trị hàng hoá, dịch vụ nào đó Tín dụng luôn gắn với sự chi trả Nhờ tín dụng mà nhu cầu thanh khoản của xã hội được thoả mãn Khi các chủ thể có vốn nhàn rỗi tạm thời cho các chủ thể thiếu vốn vay để đáp ứng nhu cầu thanh toán

Khi một khoản thặng dư tài chính chưa được sử dụng, nó nằm trong vị thế là tiền cất giữ Khi nó đưa ra để cho vay thì nó trở thành phương tiện lưu thông hay phương tiện thanh toán của nền kinh tế Khi khoản thu nhập chưa sử

Trang 5

dụng thì khoản thu nhập đó nằm ở phương tiện thanh toán tiềm tàng và gần như đang ở vị thế của phương tiện cất trữ Chừng nào các tổ chức tín dụng hay chủ sở hữu khoản tiền đó thực sự đi vào lưu thông

c Chức năng phản ảnh một cách tổng hợp và kiểm soát hoạt động của nền kinh tế.

Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ yêu cầu tái sản xuất ngày càng mở rộng, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế,

do đó tín dụng còn được xem như một trong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thực hiện các chiến lược hoạch định và phát triển kinh tế đất nước Ngày nay các nhà nước đều thông qua chính sách tín dụng để thực hiện các chính sách phát triển kinh tế đất nước Với khía cạnh

đó khi nền kinh tế cần gia tăng tốc độ phát triển thì Nhà nước có chính sách mở rộng tín dụng cho nền kinh tế, ngược lại khi cần hạn chế tốc độ phát triển kinh

tế thì Nhà nước có chính sách giảm tín dụng

1.1.3 Rủi ro tín dụng

“Rủi ro tín dụng (theo QĐ số 493) trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” (sau đây gọi tắt là rủi ro) là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết

Hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng đầu tư Thông thường đối với các ngân hàng trên thế giới nó mang lại 2/3 phần thu nhập , còn ở Việt Nam là trên 80 % thu nhập của các NHTM Tuy mang lại thu nhập cao nhưng trong lĩnh vực này luôn tiềm ẩn rủi ro rất lớn “Các khoản tiền

Trang 6

cho vay có xác suất vỡ nợ cao hơn các tài sản có khác nên ngân hàng thu được lợi tức cao nhất nhờ vào các món cho vay” Bất cứ một rủi ro nào của người đi vay đều có thể đưa đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng Vì vậy quản lý

và ngăn ngừa rủi ro tín dụng là công việc khó khăn và phức tạp không chỉ là riêng trách nhiệm của cán bộ tín dụng Muốn phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong tín dụng có hiệu quả, nhất thiết phải có sự phối hợp giữa các ngành, phải

có những giải pháp đồng bộ hữu hiệu cả về môi trường kinh tế, cơ chế nghiệp

vụ, công tác tổ chức, đào tạo cán bộ và các nguyên tắc thực thi các giải pháp đó

1.1.4 Một số chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại chủ yếu

- Tỷ lệ nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay

Nợ quá hạn: là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá rủi ro tín dụng của một ngân hàng Nợ quá hạn được hiểu là các khoản nợ mà người vay không có khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết với ngân hàng khi đến hạn trả nợ Khi đáo hạn, người vay không trả được nợ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ này từ nợ trong hạn sang sợ quá hạn

Để xem xét mức độ rủi ro tín dụng thông qua nợ quá hạn, ta sử dụng chỉ tiêu sau:

NQH

= Tổng NQH x 100%

Tổng dư nợ

Trang 7

Tỷ lệ này phản ánh lượng đơn vị tiền tệ mà ngân hàng không thể thu hồi đúng hạn trong 100 đơn vị tiền tệ đã cho vay tại thời điểm xác định Tỷ lệ NQH càng cao thì mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng càng cao Việc NQN tăng chứng

tỏ dư nợ khách hàng đang gặp khó khăn trong việc trả nợ cao, do đó xác suất sau này khách hàng trả nợ cho ngân hàng là thấp Mặt khác, ngân hàng còn phải tăng chi phí giám sát, đôn đốc thu hồi nợ và các chi phí khác có liên quan

Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì rủi ro tín dụng càng lớn

- Tỷ lệ xoá nợ ròng so với tổng cho vay

Nợ mất vốn là những khoản nợ có khả năng mất vốn Do đó ngân hàng phải

sử dụng quỹ dự phòng bù đắp rủi ro để xử lý, đồng thời đưa khoản nợ này ra bảng tổng kết tài sản Tỷ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng đối với ngân hàng càng lớn

- Tỷ lệ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng cho vay

Tỷ lệ nợ xấu = Tổng nợ xấu

Tổng dư nợ

Trang 8

Theo quyết định 493/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 thì tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ: Nhóm 1: 0%, nhóm 2: 5%, nhóm 3: 20%, nhóm 4: 50%, nhóm 5: 100%

Số tiền dự phòng cụ thể được tính theo công thức sau:

R = max {0, (A-C)} x r

Trong đó: R: Số tiền dự phòng cụ thể phải trích.

A: Số dư nợ gốc của khoản nợ

C: Giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo

r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể

Tỷ lệ dự phòng càng cao chứng tỏ rủi ro càng cao vì dự phòng trích lập nhiều

sẽ làm tăng chi phí của ngân hàng dẫn đến giảm lợi nhuận thậm chí gây thua lỗ

sẽ làm tăng chi phí do đó lợi nhuận của ngân hàng bị giảm Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng là không tốt

1.2 Nợ có vấn đề trong hoạt động kinh doanh tín dụng của NHTM.

1.2.1 nợ có vấn đề là gi?

Trang 9

Trong các sách giáo khoa tài chính nước ngoài, người ta đã đưa ra một

số dịnh nghĩa về nợ xấu (bad debt), nợ quá hạn (non-performing loan), nợ có vấn đề (doubtful debd) Đó là những khoản nợ mà con nợ ít có khả năng trả lại cho chủ nợ, và do đó giá trị kỳ vọng thu hồi thấp hơn so với khoản nợ gốc ban đầu Trong quyển Tín dụng Ngân hàng do tiến sỹ Hồ Diệu chủ biên – Nhà xuất bản Thống kê, xuất bản năm 2001 cũng có đề cập đến vấn đề này Trong đó,

nợ xấu (hay các tên gọi khác của chúng như nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi….) là những khoản nợ mang đặc trưng:

- Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết đã đến hạn

- Tình hình tài chính của khách hàng đã và đang có chiều hướng xấu dẫn tới có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn và lãi

- Tài sản đảm bảo (thế chấp, bảo lãnh, cầm cố) được đánh giá giá trị phát mại không đủ trang trải nợ gốc và lãi

- Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày

Theo sổ tay tín dụng của NH ĐT&PT Việt Nam, phát hành tháng 8 năm

2003 thì nợ có vấn đề được xác định như sau:

Nợ có vấn đề là các khoản tín dụng cấp cho khách hàng không thu hồi được hoặc có dấu hiệu có thể không thu hồi được theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng Nợ có vấn đề được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ những khoản vay đã quá hạn thanh toán, thanh toán không đúng kỳ hạn (nợ quá hạn thông thường, nợ khó đòi, nợ chờ xử lý, nợ khoanh, nợ

Trang 10

tồn đọng) mà bao gồm cả những khoản vay trong hạn nhưng có những dấu hiệu không an toàn có thể dẫn tới rủi ro.

Như vậy, chưa có định nghĩa thống nhất nợ có vấn đề trên thị trường tài chính Việt Nam, nhưng trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này xin tạm coi nợ có vấn đề là các khoản nợ mà khách hàng không trả gốc và lãi đúng hạn, hoặc không trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng và cả các khoản vay trong hạn nhưng có dấu hiệu không an toàn có thể dẫn đến rủi ro

1.2.2 Phân loại nợ có vấn đề

Người ta phân loại nợ có vấn đề chủ yếu dựa trên các đánh giá về khả năng thu hồi của các khoản vay Đối với các khoản nợ mà có các dấu hiệu như đến kỳ trả nợ, trả lãi mà khách hàng trả chậm hay có những dấu hiệu chần chừ trong việc trả nợ cho ngân hàng thì có thể xếp các khoản vay đó vào các khoản

nợ có vấn đề Hiện nay, đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam phân loại

nợ đang thực hiện theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, phạm vi phân loại nợ là các loại nợ tín dụng bao gồm: Cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu Các phương pháp phân loại nợ:

1.2.2.1 Phân loại nợ theo phương pháp định lượng Theo điều 6 Quy định

18/2007/QĐ-NHNN Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để

xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD thì Nợ được phân chia thành 5 nhóm :

a Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn

Trang 11

- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc, lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại

b Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày

- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng

về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)

c Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2

- Các khoản nợ khác được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

- Các khoản nợ phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết quá hạn dưới 30 ngày

d Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2

- Các khoản nợ phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết quá hạn từ 30 ngày đến 90 ngày

Trang 12

đ Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2 quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ 2

1.2.2.2 Phân loại nợ theo phương pháp định tính Theo điều 7 Quy định số

493/2005/Q§-NHNN về ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng

dự phòng ,để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín

dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn

- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín

dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ

- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức

tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần

nợ gốc và lãi

- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là khả năng tổn thất cao

- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ

chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn

Trang 13

1.2.3 Nguyên nhân xảy ra tình trạng nợ có vấn đề

a) Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài

- Đầu tiên là tác động từ thế giới bên ngoài, các cuộc khủng hoảng kinh tế, đấu tranh chính trị và chiến tranh trên thế giới ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam nói chung, các doanh nghiệp và cả các NHTM của Việt Nam nói riêng Sự biến động của giá nguyên vật liệu ( dầu mỏ, xăng ) một số vật tư linh kiện nhập khẩu tăng

- Nhân tố quốc gia trong thời kì hội nhập khi nhiều ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường tài chính ngân hàng Việt Nam, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng với nhau Nó gián tiếp làm cho các NH chạy đua về khách hàng, doanh thu, lợi nhuận làm giảm chất lượng tín dụng, tăng nguy cơ rủi ro nợ có vấn đề

- Các biến động mạnh trên thị trường trong thời gian qua như lãi suất, tỷ giá, những khó khăn của các doanh nghiệp nước ta trong kinh doanh khi mất thị trường tiêu thụ sản phẩm, biến động giá cả thị trường, sắp xếp lại doanh nghiệp, sáp nhập, giải thể, phá sản

- Sự không ổn định của nhiều chính sách cơ chế trong trong thời gian chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu cao cấp sang cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà Nước với những biện pháp vừa làm vừa sửa đã gây ra không ít rủi ro lớn cho các NHTM và cả các con nợ

- Thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn: Đây là những biến cố khách quan không

thể lường trước được nó có tác động trực tiếp và ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhiều khi những biến cố này làm cho Ngân hàng cho vay bị mất trắng không thể thu hồi được khoản nợ

Trang 14

b) Phía người vay:

+) Năng lực quản lý kinh doanh của doanh nghiệp

Trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn yếu kém và hạn chế, dẫn đến việc điều hành doanh nghiệp và sử dụng nguồn vốn còn chưa hiệu quả Người điều hành không nắm rõ được mối liên kết giữa các hoạt động xảy ra trong nội tại và các biến động bên ngoài doanh nghiệp, việc tính toán triển khai

dự án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không khoa học, không xây dựng được chính xác các chỉ tiêu quan trọng như: định mức tiêu thụ sản phẩm, cơ cấu giá thành, chất lượng sản phẩm, nguồn nguyên vật liệu…Không có giải pháp hoặc chậm trễ đưa ra các giải pháp làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của DN, doanh nghiệp bị rơi vào tình trạng khó khăn, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng, gây rủi ro cho ngân hàng

Người đi vay trong quá trình thực hiện dự án có thể sử dụng vốn sai mục đích, không đảm bảo độ an toàn trong sử dụng vốn, gây lãng phí hoặc mất vốn dẫn đến khả năng trả nợ cho Ngân hàng là khó khăn

* Nhà cung cấp nguyên, nhiên vật liệu đầu vào cho doanh nghiệp:

- Chất lượng nguyên vật liệu đầu vào không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng dẫn đến chất lượng sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của thị trường, hàng hóa không tiêu thụ được, bị ứ đọng tồn kho cao Doanh nghiệp phải hạ giá bán sản phẩm, chịu lỗ không kinh doanh hoặc phải tốn thêm chi phí bảo quản, trông coi kho hoặc cải tiến chất lượng sản phẩm mở rộng và khếch trương quảng cáo tiêu thụ sản phẩm Các hướng giải quyết này đều ảnh hưởng tới tài chính của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải chịu thiệt hại trong kinh doanh và tất yếu sẽ trì hoãn trả nợ Ngân hàng

Trang 15

- Giá cả nguyên vật liệu biến động làm tăng giá thành sản phẩm Nếu doanh nghiệp tăng giá bán sản phẩm thì đảm bảo mức lợi nhuận, nhưng sản phẩm sẽ khó tiêu thụ hơn, tồn kho lớn, luân chuyển vốn chậm, ảnh hưởng đến việc trả

nợ vay Ngân hàng về mặt thời hạn

* Người mua là đại lý, doanh ngiệp tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

Khách hàng của doanh nghiệp như cá nhân, đại lí hay doanh nghiệp khác mua sản phẩm mà khi đến hạn thanh toán thì không có khả năng thanh toán hay cố tình không thanh toán tiền hàng cho doanh ngiệp, dẫn đến doanh nghiệp bị thiếu vốn, giảm khả năng thanh toán cho ngân hàng

* Năng lực tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh, khả năng thanh toán chung giảm sút, yếu kém:

Năng lực tài chính là chỉ tiêu cơ bản biểu hiện tình hình “sức khoẻ" của một doanh nghiệp Kế hoạch trả nợ cho ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nếu doanh nghiệp phải thanh toán các khoản chi nhất thời quá lớn như thanh toán nợ thuế,

nợ tiền lương của CBCNV, nợ người bán, nợ các ngân hàng khác….Cơ cấu vốn đầu tư của doanh nghiệp không hợp lý như: tăng quy mô đầu tư tài sản cố định lên quá mức cần thiết gây lãng phí, hay chỉ tập trung vốn đầu tư dài hạn

mà không dự phòng hợp lý nguồn vốn lưu động …

* Do ý muốn chủ quan của người đi vay cố tình không trả nợ cho Ngân hàng:

Đây là một trường hợp nhức nhối nhất trong các nguyên nhân chủ quan dẫn đến nợ xấu của Ngân hàng Loại nguyên nhân này được xếp vào loại nguyên nhân rủi ro về tư cách đạo đức của người đi vay Người vay có thể có khả năng trả nợ nhưng cố ý không trả nợ Ngân hàng, chủ định chiếm đoạn vốn của ngân hàng, lợi dụng các sơ hở từ phía ngân hàng và tính toán chuẩn bị trước nhằm chiếm đoạt tiền vay của Ngân hàng

Trang 16

c) Phía người cho vay (Ngân hàng)

- Năng lực thẩm định dự án cho vay của Ngân hàng còn chưa cao nên đã cho vay những dự án không khả thi, nhiều rủi ro, không có khả năng thu hồi vốn, trong khi Ngân hàng không lường trước được những nguồn dự trữ tương ứng

để bù đắp rủi ro Cán bộ tín dụng chưa được đào tạo đầy đủ, không am hiểu về ngành nghề mà mình tài trợ, trong khi Ngân hàng không có đủ thông tin, các số liệu thống kê để phân tích và đánh giá khách hàng …dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của dự án xin vay

- Một bộ phận cán bộ Ngân hàng kém phẩm chất đạo đức lợi dụng vị trí công tác để trục lợi, tham ô, nhận hối lộ, cố tình cho vay sai nguyên tắc, đây cũng là nguyên nhân làm gia tăng nợ có vấn đề trong thời gian qua

- Ngân hàng đặt quá cao mục tiêu lợi nhuận, hay các cá nhân viên tín dụng chạy theo doanh số tín dụng mà không coi trọng chất lượng đầu tư, quá lạc quan, tin tưởng vào sự thành công của dự án đầu tư, vào khoản cho vay, đây là một hiện tượng rất nguy hiểm trong công tác tín dụng của Ngân hàng

- Ngân hàng thiếu một cơ quan chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc các ngành nghề, sản phẩm địa phương khác nhau để phân tán rủi ro

- Ngân hàng tập trung quá lớn vào một vài đối tượng vay làm cho nguy cơ tổn thất tín dụng của Ngân hàng tăng cao phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của chính những khách hàng này

d) Nguyên nhân từ tài sản đảm bảo : rủi ro về tài sản đảm bảo tín dụng đó là

khó định giá, tính khả mại thấp, tranh chấp về pháp lý hoặc giá cả tài sản đảm bảo bị biến động (tài sản giảm giá trị, thay đổi hiện trạng…) Giá trị của tài sản thanh lý thường bị chia sẻ với các chủ nợ ưu tiên trước như: nộp thuế cho nhà

Trang 17

nước, trả lương cho cán bộ, nhân viên Vì vậy, nhiều khi giá trị còn lại về NH ít hơn hoặc có khi chi phí phát sinh trong quá trình thanh lý gần bằng thậm chí lớn hơn khoản tiền nhận được… Ngoài ra ngân hàng quá chủ quan, tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, coi đó là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay mà coi nhẹ việc kiểm tra đôn đốc, giám sát việc thực thi dự

án, phòng ngừa rủi ro

1.2.4 Hậu quả của nợ có vấn đề.

a) Đối với Nền kinh tế

- Nợ có vấn đề không những gây rủi ro lớn cho ngân hàng mà còn có nguy

cơ tác động hoặc lớn hơn nữa là gây đổ vỡ hệ thống ngân hàng, mất ổn định kinh tế xã hội khi tỷ lệ nợ co vấn đề cao với những dấu hiệu không lành mạnh của ngân hàng trở nên rõ ràng Có thể có một phản ứng dây truyền nguy hiểm khi người gửi tiền đồng loạt rút tiền ra khỏi hệ thống, ảnh hưởng không chỉ về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng đến tính ổn định của xã hội

- Ảnh hưởng tới sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế do ứ đọng vốn từ phía ngân hàng, ngân hàng là một chủ thể quan trọng cung cấp vốn cho các ngành khác trong nền kinh tế, khi tình trạng nợ có vấn đề cao làm cho ngân hàng gặp khó khăn, bị ứng đọng vốn, mất vốn, giảm khả năng cho vay của ngân hàng cho các doanh nghiệp, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị đình trệ hay gặp nhiều khó khăn, kéo theo đó là nền kinh tế bị chậm phát triển, còn có thể gây khủng khoảng nền kinh tế

b) Đối với Ngân hàng thương mại

Trang 18

- Ngân hàng bị ứ đọng vốn, do khách hàng chiếm dụng vốn và không có khả năng hoàn trả, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và lợi nhuận của ngân hàng.

- Làm chậm quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của các tổ chức tín dụng, giảm vòng quay của vốn, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn

- Làm giảm tính cạnh tranh của Ngân hàng , hạn chế mở và tăng trưởng tín dụng, khả năng kinh doanh của các NHTM

- Các NHTM không những bị mất một nguồn vốn còn phải chịu thêm chi phí phát sinh cho nợ có vấn đề là rất lớn (chi trả lãi tiền gửi, chi phí quản lí nợ

có vấn đề và các chi khác) Những chi phí làm tăng thêm khoản chi phí khi hạch toán kết quả kinh doanh, làm giảm lợi nhuận cho các ngân hàng

- Trong quá trình phát triển và hội nhập, tình trạng nợ có vấn đề cao hay kéo dài làm mất cơ hội hoặc gây khó khăn cho ngân hàng Tình trạng nợ có vấn

đề cao làm cho các ngân hàng không thể công khai thực trạng tài chính của mình một cách chính xác và minh bạch Từ đó làm giảm lòng tin của các nhà đầu tư, khách hàng, doanh nghiệp và người dân trong nước và Quốc tế Nợ có vấn đề tác động trực tiếp đến khả năng tài chính của NHTM khi phân tích đánh giá tình hình tài chính hoạt động ngân hàng, là yếu tố bất lợi trong cạnh tranh, trong quá trình phát triển và hội nhập

c) Đối với doanh nghiệp

- Khi khoản nợ vay của khách hàng rơi vào khoản nợ có vấn đề thì uy tín của khách hàng đối với ngân hàng hay mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng bị ảnh hưởng, ngân hàng không còn niềm tin và không cho vay vốn tiếp,

nó tác động xấu tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ( ảnh hưởng không nhỏ đối với những doanh nghiệp đang cần vốn để phục hồi khả năng sản

Trang 19

xuất kinh doanh hoặc để vượt qua thời kì khó khăn nhất trong thời kì khủng hoảng).

1.2.5 Sự cần thiết của việc cảnh báo kịp thời và xử lí nợ có vấn đề.

a) Đối với nền kinh tế

• Ngân hàng thương mại cũng là một mắt xích quan trọng trong hệ thống tài chính của một quốc gia Do vậy nếu NHTM hoạt động tín dụng nói chung và cảnh bảo, xử lý nợ có vấn đề nói riêng hiệu quả sẽ là yếu tố làm cho khu vực tài chính được lành mạnh hoá, góp phần ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng

uy tín quốc gia

• Doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả là tiền đề để nền kinh tế nước ta phát triển và có thể theo kịp các quốc gia khác trên thế giới do vậy việc nâng cao hiệu quả tín dụng là điều cần thiết

• Việc cảnh báo và xử lí kịp thời nợ có vấn đề làm nâng cao hiệu quả tín dụng sẽ góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự cân đối giữa các vùng, các ngành trong cả nước, ổn định và phát triển nền kinh tế

b) Đối với Ngân hàng

• Sự cần thiết phải xử lí nợ có vấn đề đuợc xuất phát từ vai trò của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế, vì vậy xử lí nợ có vấn đề chính là quá trình làm lành mạnh hóa bảng cân đối tài chính của các ngân hàng, từ đó nâng cao

uy tín và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trên lẫn cả thị trường trong nước và quốc tế

• Hiệu quả kinh doanh tín dụng là điều kiện để Ngân hàng tăng cường nguồn vốn của mình, bên cạnh còn là điều kiện để Ngân hàng bảo toàn vốn Nếu công tác kinh doanh tín dụng có hiệu quả cao, có khả năng thu hồi được

nợ và lãi theo đúng kỳ hạn trả nợ của doanh nghiệp, ngân hàng sẽ không bị

Trang 20

thua lỗ trong kinh doanh tiền tệ, không dẫn đến thiếu hụt nguồn vốn, tránh tình trạng bị ứ đọng hoặc chiếm dụng vốn, tối đa hóa được lợi nhuận, tăng khả năng

mở rộng cho vay và tăng trưởng tín dụng

• Khi việc giám sát sớm và kịp thời thì Ngân hàng có thể giúp đỡ doanh nghiệp bằng cánh hỗ trợ thêm vốn, tăng khả năng xoay vòng vốn giúp doanh nghiệp có khả năng phục hồi sản xuất kinh doanh,tìm kiếm khách hàng, giải quyết khó khăn mà doanh nghiệp đang mắc phải… Giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tránh được khả năng nguy cơ phá sản,từ đó doanh nghiệp khôi phục được sự sản xuất kinh doanh và có khả năng trả nợ cho ngân hàng, và mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng ngày càng khăng khít, doanh nghiệp đó sẽ luôn trung thành với ngân hàng kể cả khi hệ thống ngân hàng gặp khó khăn

• Công tác kinh doanh tín dụng của NHTM với đối tượng cho vay có nhiều điểm đặc thù khác nhau Do vậy việc nâng cao hiệu quả tín dụng nó chung và cảnh báo, xử lí nợ có vấn đề nói riêng là quyết định sự tồn tại và phát triển của các NHTM

c) Đối với doanh nghiệp:

• Hiệu quả tín dụng đầu tư phát triển đối với doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển và đứng vững trên thị trường trong nước và là đòn bẩy để thúc đẩy nền kinh tế phát triển

• Nâng cao hiệu quả tín dụng đối với doanh nghiệp góp phần lành mạnh hoá quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và doanh nghiệp Hoạt động tín dụng được thực hiện tuân thủ các nguyên tắc và điều kiện trên cơ sở Ngân hàng và Doanh nghiệp đều có ý tưởng thúc đẩy, thắt chặt quan hệ cùng có lợi sẽ tạo ra

Trang 21

những khoản tín dụng có chất lượng từ đó giúp doanh nghiệp thường xuyên được thoả mãn yêu cầu về vốn để duy trì và mở rộng sản xuất kinh doanh.

• Việc dự báo, cảnh báo kịp thời cùng với sự giúp đỡ về vốn và một số biện pháp hỗ trợ hoạt động kinh doanh từ phía ngân hàng ( tìm kiếm khách hàng, chỉ dẫn doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn….) giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng như khó khăn trong sản xuất kinh doanh, sản xuất

bị đình trệ, phá sản…

• Ngân hàng là trung gian thanh toán cho doanh nghiệp, vừa thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt (uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng, ) giúp cho doanh nghiệp nhằm tiết kiệm chi phí và thời gian, và nhiều lợi ích khác Mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp bền vững từ đó vẫn tiết kiệm được chi phí, giảm giá thành làm tăng tính cạnh tranh hàng hoá vieet

1.3 Dấu hiệu nhận biết nợ có vấn đề và cách thức xử lí nợ có vấn đề.

1.3.1 Dấu hiệu nhận biết nợ có vấn đề có thể xảy ra

Để có thể ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro tín dụng, hạn chế tổn thất trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại ngân hàng cần phải nhận biết sớm các khoản tín dụng có vấn đề Các khoản tín dụng có vấn đề có thể nhận biết thông qua các nhóm dấu hiệu sau đây

- Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng:

+ Nhận thấy doanh nghiệp khó khăn trong thanh toán tiền lương, giảm sút số

dư tài khoản tiền gửi, thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động, gia tăng khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn…

Trang 22

+ Trong hoạt động cho vay thì mức độ vay thường xuyên gia tăng, chậm thanh toán các khoản nợ gốc và lãi, thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến.

- Nhóm các dấu hiệu có liên quan tới phương pháp quản lý của khách hàng:+ Thay đổi thường xuyên cơ cấu hệ thống quản trị cũng như việc bất đồng quan điểm về mục đích, phương pháp quản trị

+ Thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên, xuất hiện những hành động nhất thời và không có khả năng chống đỡ với những thay đổi

+ Nảy sinh những chi phí bất hợp lý như: mua sắm thiết bị văn phòng hiện đại không cần thiết, phương tiện giao thông đắt tiền, lãnh đạo có cuộc sống xa hoa lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài chính cá nhân

- Nhóm các dấu hiệu liên quan đến các ưu tiên trong kinh doanh:

Tập trung vào các hoạt động lớn, các sản phẩm đẹp mà bỏ qua chất lượng sản phẩm hoặc sự cấp bách không thích hợp như: tung sản phẩm ra thị trường quá sớm trong khi chưa chuẩn bị kỹ càng cho sự xuất hiện của sản phẩm mới

- Nhóm các dấu hiệu về kỹ thuật và thương mại: Dấu hiệu thường thấy là khó khăn trong việc phát triển sản phẩm, sự thay đổi lãi suất, tỷ giá, thị hiếu trên thị trường, mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn, xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh

- Nhóm các dấu hiệu về tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng:

+ Khó khăn trong phát triển sản phẩm, dịch vụ, sản phẩm, dịch vụ tung ra thị trường không đúng lúc

+ Thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất, thay đổi thị hiếu, mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn, thêm đối thủ cạnh tranh

Trang 23

+ Những thay đổi từ chính sách nhà nước, đặc biệt là sự tác động của chính sách thuế, điều kiện thành lập hoạt động, môi trường.

+ Có biểu hiện cắt giảm các chi phí sửa chữa, thay thế Sự xuống cấp trông thấy của nơi sản xuất kinh doanh

+ Nhưng kết luận phân tích tài chính cho thấy:

Khả năng tiền mặt giảm.

Tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có.

Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng.

Khách hàng nợ gia tăng nhanh và thời gian thanh toán của các con nợ được

kéo dài

Bất cứ sự thay đổi bất thường nào trong khấu hao, kế hoạch trả lương và

phụ cấp, giá trị hàng tồn kho, tài khoản thuế và thu nhập

Việc cơ cấu lại nợ hay hạn chế thanh toán cổ tức, hoặc có sự thay đổi vị trí

xếp hạng tín nhiệm

Thu nhập ròng giảm một hay nhiều năm, đặc biệt là các chỉ tiêu như: Tỷ lệ

sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ sinh lời trên vốn cổ phần (ROE), hay lợi tức trước thuế và lãi (EBIT)

Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu nguồn vốn (chỉ tiêu vốn cổ phần trên nợ

vay), thanh khoản (chỉ tiêu thanh khoản hiện hành), hay mức độ hoạt động (ví

dụ chỉ tiêu doanh thu trên hàng tồn kho)

Các thảm họa thiên nhiên như bão lụt, hỏa hoạn đều có thể là nguyên nhân

ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các biến động về chính trị, xã hội sẽ dẫn đến môi trường xã hội, môi trường kinh tế bất ổn định, sẽ tạo điều kiện nảy sinh rủi ro

Trang 24

Khách hàng không kể ra được chính xác và đầy đủ thông tin tài chính, đặc

biệt là những thông tin về những món nợ ghi trong danh mục

Doanh nghiệp bị các chủ nợ khác xem là “chậm trả” (Phát sinh nợ nần dây

dưa)

Những khoản chi trội thường xuyên trong tài khoản kinh doanh (Phát hành

séc quá số dư)

- Nhóm các dữ liệu xử lý thông tin về tài chính kế toán: Biểu hiện thường thấy

là khách hàng chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn nộp báo cáo tài chính, khả năng tiền mặt giảm, tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có, những thay đổi về tỷ lệ lãi gộp và lãi ròng trên doanh số bán Ngoài ra, khách hàng cố tình “đánh bóng” bảng cân đối kế toán bằng cách tạo ra những sản phẩm vô hình, không hạch toán đúng tài sản cố định, phân bố nợ không thích hợp… Bên cạnh đó còn có các dấu hiệu phi tài chính như: suy giảm uy tín, đạo đức, sự xuống cấp trông thấy của nơi kinh doanh, nơi lưu giữ hàng hoá có nhiều

hư hỏng và lạc hậu

1.3.2 Cách thức xử lí nợ có vấn đề : xử lí nợ có vấn đề theo hai hướng chính

là : Khai thác và thanh lý

1.3.2.1 xử lý nợ theo hướng khai thác

Hướng khai thác là quá trình NH làm việc với khách hàng cho đến khi khoản vay được trả một phần hay toàn bộ với các biện pháp áp dụng không dựa vào bất cứ một công cụ pháp luật để ép buộc thu hồi nợ từ khách hàng Hay nói cách khác, NH cho phép khách hàng đưa ra “cam kết tự nguyện trả nợ”: tức là ngân hàng tiếp tục hỗ trợ vốn và giúp đỡ những khó khăn mà khách hàng đang mắc phải để cho khách hàng hoạt động và để khách hàng tự trả nợ

Trang 25

Các biện pháp chính thường được ngân hàng áp dụng khi xử lý nợ có vấn đề theo hướng khai thác:

- Tìm kiếm giúp đối tác hoặc chỉ ra những điểm khó khăn mà khách hàng đang mắc phải và đưa ra giải pháp giúp đỡ

- Tư vấn cho khách hàng nhằm cắt giảm các chi phí không cần thiết và gia tăng thu nhập Loại bỏ một số hoạt động không sinh lợi (bằng hành vi thực tế là thương lượng lại các hợp đồng với đối tác), định giá lại sản phẩm, thay đổi phương thức bán, tăng sản phẩm mới

- Giãn nợ, cơ cấu lại nợ giúp khách hàng có thêm thời gian để sản xuất kinh doanh và trả nợ cho ngân hàng

- Cho vay bổ sung để hỗ trợ cho phương án thu hồi nợ, và mục đích khi cho vay thêm

+ Tăng thêm TSĐB vì trong giai đoạn này TSĐB phải gấp trên hai lần số tiền vay thêm

+ Tăng thêm thu nhập cho Ngân hàng chính là lãi từ khoản cho vay thêm

+ Giúp khách hàng không bị phá sản hoặc chưa phá sản, và NH vẫn có

cơ hội để thu được nợ

1.3.2.2 Xử lí nợ theo hướng thanh lý

Việc thanh lý chỉ được thực hiện sau khi thực hiện một vài hình thức khai thác nhưng không có hiệu quả đối với khách hàng đó, hoặc khi ngân hàng nhận thấy khách hàng không có thiện chí trả nợ, có dấu hiệu lừa đảo hoặc xảy ra tình trạng vỡ nợ Ngân hàng có các cách để thanh lý khoản nợ như sau: phát mại tài sản, chuyển nợ xấu thành vốn góp tại doanh nghiệp, thanh lý doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật, phá sản doanh nghiệp theo luật phá sản Ngoài ra có thể thực hiện việc bán nợ cho các công ty mua bán nợ tồn đọng chuyên nghiệp

Trang 26

Các yếu tố cần cân nhắc trước khi phát mại tài sản: Thị trường của tài sản, chi phí phát mại, chuẩn bị quá trình ghi chép, hạch toán đầy đủ các

sự việc liên quan đến phát mại tài sản

Cố gắng kêu gọi sự hợp tác của khách hàng trong quá trình phát mại tài sản bằng những hành vi thân thiện như: giá cả, phần trăm cho khách trên

Tổng kết chương 1.

Trên đây là hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về lý luận rủi ro tín dụng và nợ có vấn đề trong hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng Qua đó ta hiểu rõ được nợ có vấn đề là gì, cảnh báo và xử lí nợ có vấn đề có vai trò quan trọng như thế nào và những nhân tố nào tác động đến nó Nắm chắc được lý thuyết chương 1 chính là nền tảng để soi rọi vào thực tiễn hoạt động tín dụng nhằm đánh giá được chính xác được thực trạng nợ có vấn đề tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu Tư Và Phát Triển tỉnh Phú Yên

Trang 27

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG NỢ CÓ VẤN ĐỀ VÀ CÁCH THỨC XỬ LÝ NỢ

CÓ VẤN ĐỀ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TỈNH

PHÚ YÊN

2.1 Khái quát về Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển tỉnh Phú Yên

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên

Theo Quyết định số 401/CT ngày 14/11/1990 Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Có chức năng huy động vốn ngắn, trung, dài hạn trong và ngoài nước Nhận vốn đầu tư và phát triển từ Ngân sách Nhà nước để đầu tư cho các công trình, dự án phát triển kinh tế của ngành, địa phương theo hướng mục tiêu

kế hoạch của nhà nước Trong bối cảnh đó cùng với sự phát triển của địa phương, chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên trực thuộc NH ĐT&PT Việt Nam được thành lập theo quyết định số 105/NH-QĐ ngày 01/01/1991 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Ngoài chức năng huy động vốn ngắn, trung và dài hạn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển thì Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên còn thực hiện các chức năng tổng hợp về tiền tệ tín dụng dịch vụ phi ngân hàng dưới sự chỉ đạo và kiểm soát của NH ĐT&PT Việt Nam Qua hơn 20 năm hoạt động và trưởng thành với quyết tâm cao của toàn cán bộ Chi nhánh cùng với sự đổi mới mạnh mẽ của toàn hệ thống, chi nhánh đã không ngừng phấn đấu vươn lên đến nay Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên đã có đủ bộ máy tổ chức các phòng ban bao gồm: 75 cán bộ, trình

độ đại học chiếm hơn 85%, thực hiện hầu hết các nhiệm vụ kinh doanh

Trang 28

của hệ thống NH ĐT&PT bao gồm các sản phẩm huy động vốn, tín dụng

và các dịch vụ hiện đại

Kết quả đạt được của Chi nhánh trong những năm qua, nhất là năm

2009 đã ghi dấu ấn phát triển của Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên

trong suốt hơn 20 năm hoạt động và trưởng thành Đó là kết quả của một

quá trình tích lũy qua nhiều thế hệ và đang được vun đắp để góp phần

khẳng định thương hiệu, làm nền tảng cho tiến trình hội nhập và phát

triển bền vững của NH ĐT&PT Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên sẽ

tiếp tục phát huy những truyền thống tốt đẹp của NH ĐT&PT, sáng tạo,

đổi mới, phát triển; góp sức xây dựng Phú Yên ngày càng phát triển và

giàu đẹp

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ hoạt động của Chi nhánh

ngân hàng ĐT&PT tỉnh Phú Yên

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ

PHÁT TRIỂN TỈNH PHÚ YÊN

Phòng Dịch

Vụ Khách Hàng

Phòng Giao Dịch Tuy Hoà

Phòng Giao Dịch Phú Lâm

Điểm Giao Dịch Coop Mart

Phòng Tín Dụng

Phòng Thẩm Định

Và Quản

Lý Tín

Phòng

Tổ Chức Hành Chính

Phòng

Kế Toán Tài Chính

Trang 29

Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban trực thuộc:

* Ban giám đốc: Một chi nhánh gồm một Giám đốc và hai Phó giám đốc

- Giám đốc: phụ trách điều hành chung toàn chi nhánh: Trực tiếp chỉ đạo phòng tín dụng

- Hai Phó giám đốc: hỗ trợ cùng Giám đốc phụ trách điều hành chi nhánh, phụ trách các phòng còn lại

* Phòng kế hoạch nguồn vốn: Tham mưu cho Giám đốc chi nhánh trong

việc hoạch định và điều phối thực hiện tham mưu về chính sách quản lý và phát triển nguồn vốn Theo dõi việc thực hiện chiến lược, chính sách phát triển

và kế hoạch kinh doanh theo từng thời kỳ Tổ chức thu thập tổng hợp các thông tin trong và ngoài hệ thống, chủ động phân tích thông tin theo yêu cầu kinh doanh và quản trị điều hành của Giám đốc chi nhánh Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ khác theo quy định của Chi nhánh Nghiên cứu và triển khai thực hiện các sản phẩm, tiện ích ngân hàng

* Phòng giao dịch Tuy Hoà và Phòng giao dịch Phú Lâm: Trực thuộc Chi

nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Phú Yên được thành lập theo quyết định của Giám đốc chi nhánh có con dấu riêng với nhiệm vụ cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đến khách hàng, cho vay chủ yến là khách hàng thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

* Điểm giao dịch Coop Mart: Thực hiện nhiệm vụ huy động vốn, thanh toán,

chuyển tiền, thu nợ (không có chức năng cho vay)

* Phòng tín dụng: Thực hiện nhiệm vụ tiếp thị các sản phẩm, dịch vụ ngân

hàng (tiền gửi, tiền vay và các sản phẩm dịch vụ khác) Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cho vay, bảo lãnh, thiết lập các thông tin khách hàng

Trang 30

* Phòng thẩm định tín dụng: Thực hiện nhiệm vụ thu thập, cung cấp thông

tin và đánh giá các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, thẩm định các dự án cho vay, đề xuất về hạn mức tín dụng và giới hạn cho vay đối với từng khách hàng quản lý danh mục tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng

* Phòng tổ chức hành chính: Tham mưu cho Giám đốc chi nhánh về công tác

cán bộ và quản lý cán bộ, cơ cấu mô hình tổ chức, công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật và quản lý công tác hành chính theo định hướng và mục tiêu phát triển của Chi nhánh, trực tiếp quản lý hồ sơ cán bộ, theo dõi thi đua, khen thưởng, kỷ luật, công tác hành chính, văn thư lưu trữ tại Chi nhánh

* Phòng dịch vụ khách hàng (và tổ kho quỹ): Tổ chức thực hiện, xử lý các

giao dịch đối với khách hàng vay, gửi, các dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế, mua bán ngoại tệ và các dịch vụ tiện ích ngân hàng khác Tham mưu cho Giám đốc chi nhánh về chính sách khách hàng, chính sách phát triển dịch

vụ tiện ích ngân hàng Thực hiện các nghiệp vụ tiền tệ, kho quỹ và quản lý kho tiền theo quy định

2.2 Hoạt động tín dụng và thực trạng nợ có vấn đề tại Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên.

Trong mấy năm gần đây nền kinh tế nước ta có những chuyển biến đáng kể

Có thể nói rằng sự kiện Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng nhằm khai thông bế tắc, phá bỏ rào cản giúp kinh tế Việt Nam có những bước nhảy xa trong tương lai, hoà mình vào với xu hướng phát trển chung của kinh tế thế giới Tăng trưởng kinh tế trong thời gian gần đây đạt ở mức cao

Dưới đây là tình hình hoạt động tín dụng tại Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên

Trang 31

2.2.1 Hoạt động tín dụng.

Bảng 2.1: Hoạt động tín dụng trong 3 năm của chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh

Phú Yên.

Trang 32

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Tăng(+)giảm(-) 2011/2010 2012/2011

Số tiền Số tiền Số tiền S.tiền Tỷ

lệ% S.Tiền

Tỷ lệ% Doanh

số cho

vay

8.021.900

9.349.975

6.671.942 1.328.07

5

16 2.678.033

29

+Ngắn

hạn

4.892.080

6.591.606

2.758.189

7.799.671

6.270.419 1.210.46

0

18 1.529.252

20

+ Ngắn

hạn

3.806.391

4.445.812

3.353.859

2.445.463 571.039 21 -908.396 -27

Tổng Dư

nợ

1.495.331

Trang 33

Biều đồ 2.1: Biểu đồ hoạt động tín dụng của chi nhánh NH ĐT&PT Phú Yên qua 3 năm 2008, 2009, 2010

Qua bảng số liệu 2.3 về hoạt động tín dụng của chi nhánh qua 3 năm trên có

sự biến động:

* Doanh số cho vay: Có thể nhận thấy rõ ràng doanh số cho vay của năm 2008

và 2009 đạt mức khá cao trong khi đến năm 2010 con số này lại giảm mạnh Năm 2009 so với năm 2008 tăng 1.328.075 triệu đồng (tương đương với 16 %) tuy nhiên đến năm 2010 con số này giảm 2.678.033 triệu đồng (tương đương với 29%) chỉ còn 6.671.492 triệu đồng Qua các số liệu trên có thể thấy rằng

Trang 34

giai đoạn 2008-2009, hoạt động tín dụng của NH khá tốt sở dĩ có điều này là

do trong giai đoạn này chi nhánh đã có những chính sách phát triển hoạt động tín dụng như mở rộng địa bàn cho vay, đa dạng hóa loại hình đầu tư, nhiều loại khách hàng cùng với sự đa dạng các thành phần để tập trung hiệu quả cao nhất nguồn lực cho đầu tư phát triển của nền kinh tế, giúp ngân hàng phân tán rủi ro đồng thời cũng là giải pháp để ngành ngân hàng hoàn thành mục tiêu tăng trưởng tín dụng đã đề ra Tuy nhiên đến năm 2010,tổng doanh số cho vay của Ngân hàng lại giảm khá mạnh, sự sụt giảm này không chỉ riêng Chi nhánh,

mà các ngân hàng khác trên cùng địa bàn cũng chịu chung sự sụt giảm doanh

số cho vay này Doanh số cho vay của chi nhánh năm 2010 so với năm 2009 giảm 2.678.033 triệu đồng (tương ứng 29%), việc này không những đã làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh mà còn làm giảm mục tiêu tăng trưởng tín dụng của chi nhánh trong năm 2010 Qua phân tích ta có thể nhận thấy rằng sự sụt giảm này là do một số nguyên nhân chính sau :

Thứ nhất : nguồn vốn huy động tại chỗ còn hạn chế khiến các tổ chức tín dụng trên địa bàn khó có thể cân đối được nguồn vốn cho vay ra Hết tháng 9, nguồn vốn huy động tại chỗ dù đã tăng khoảng trên 12% so với đầu năm và tăng trên 23% so cùng kỳ nhưng cũng mới chỉ đáp ứng chưa đến 65% tổng số dư cho vay nền kinh tế cùng thời điểm Như vậy do nguồn vốn trên địa bàn thường xuyên thiếu hụt nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch đầu tư của các tổ chức tín dụng

Thứ hai: Nguyên nhân từ rào cản lãi suất, từ tháng 4, lãi suất huy động của các ngân hàng bắt đầu bước vào cuộc đua nóng sốt Lãi suất cho vay đầu ra được điều chỉnh tăng theo cân đối Nhưng mức lãi suất cao trên 20% đối với VND trở thành một thách thức lớn đối với khả năng sinh lời của các doanh nghiệp vay vốn, cũng như hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn của người dân

Trang 35

Ngoài ra còn do các ngân hàng trên địa bàn chạy đua lãi suất huy động vốn dẫn tới tình trạng huy động vốn đã khó, còn dẫn theo đó là nhiều khách hàng rút tiền gửi để gửi sang ngân hàng khác để hưởng lãi suất tiền gửi cao hơn, kéo theo là nguồn vốn của ngân hàng giảm dẫn đến đầu ra cho vay bị hạn chế.

Doanh số cho vay ngắn hạn năm 2009 tăng so với năm 2008 là 1.699.526 triệu đồng (tương đương 35%), năm 2009 khi tình hình kinh tế nước ta đã ổn định phần nào sau hậu khủng hoảng kinh tế, các Ngân hàng nói chung và chi nhánh BIDV nói riêng cũng đẩy mạnh cho vay, nhưng chủ yếu cho vay ngắn hạn để đảm bảo ổn định hoạt động kinh doanh của ngân hàng và NH đã hướng tới những doanh nghiệp nhỏ cần vốn để đầu tư vào phần tài sản lưu động mang tính thời vụ của mình Đến năm 2010 thì doanh số cho vay ngắn hạn giảm từ 6.591.606 triệu đồng của năm 2009 đã giảm xuống đến 4.370.122 triệu đồng trong năm 2010, tức giảm 2.221.484 triệu đồng (tương đương -34%), sự biến động trên ta đã phân tích ở trên

Đối với doanh số cho vay Trung - dài hạn qua 3 năm 2008, 2009, 2010 không có biến động nhiều và có xu hướng giảm dần, năm 2009 so với năm 2008 giảm 371.631 triệu đồng (tương đương -12%), và tương tự năm 2010 cũng giảm so với năm 2009 là 456.369 (tương đương -17%) Ngân hàng kĩ lưỡng hơn cho khoản vay dài hạn vì những khoản vay này thường lớn, khó kiểm soát trong quá trình sử dụng vốn vay, và trong khoảng thời gian từ năm 2008 cho đến nay nền kinh tế có nhiều sự biến động lớn nên ngân hàng cẩn thận hơn trong các khoản cho vay dài hạn

* Doanh số thu nợ : Doanh số thu nợ qua 3 năm 2008, 2009, 2010 cũng thể hiện sự thay đối khá thất thường do sự biến động của doanh số cho vay, thu

nợ trong 2 năm 2008, 2009 đều tăng, nhưng đến năm 2010 thì giảm khá mạnh

do doanh số cho vay giảm Năm 2008 doanh số thu nợ là 6.589.211triệu đồng

Ngày đăng: 23/10/2013, 00:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ  PHÁT TRIỂN TỈNH PHÚ YÊN - Nâng cao hiệu quả công tác xử lí nợ có vấn đề tại Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN TỈNH PHÚ YÊN (Trang 28)
Bảng 2.2. Tình hình nợ có vấn đề tại Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên. - Nâng cao hiệu quả công tác xử lí nợ có vấn đề tại Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên
Bảng 2.2. Tình hình nợ có vấn đề tại Chi nhánh NH ĐT&PT tỉnh Phú Yên (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w