1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ công bố thông tin kế toán trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

8 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 320,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này đánh giá mức độ công bố thông tin về kế toán trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đồng thời chỉ ra hai nhân tố tác động đến mức độ này là tỷ suất lợi nhuận và mức độ uy tín của công ty kiểm toán.

Trang 1

TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM xà HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH VẬT LIỆU xÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

ThS NGUYỄN THị PHƯơNG MAI1

LƯơNG LINH GIANG CAO MINH NGọC LƯơNG THANH THủY

Bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, để phát triển bền vững, các doanh nghiệp ngày nay cần chú trọng

đến các yếu tố khác đĩ là xã hội và mơi trường Thơng qua các báo cáo kế tốn trách nhiệm

xã hội, doanh nghiệp thể hiện cho cơng chúng biết rằng họ theo đuổi các giá trị lâu dài chứ khơng chỉ là lợi nhuận trong ngắn hạn Điều này cĩ ý nghĩa rất lớn đối với các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng - ngành được xem là cĩ tác động lớn đến mơi trường và xã hội Nghiên cứu này đánh giá mức độ cơng bố thơng tin về kế tốn trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam, đồng thời chỉ ra hai nhân tố tác động đến mức độ này là tỷ suất lợi nhuận và mức độ uy tín của cơng ty kiểm tốn

Từ khĩa: Cơng bố thơng tin, kế tốn trách nhiệm xã hội, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, CSR, SRA

Factors affecting the level of information disclosure of Social Responsibility Accounting of listed construction material enterprises on Vietnam stock market

In addition to the profit goal, in order to develop sustainably, businesses today need to focus on other factors that are social and environmental Through social responsibility accounting reports, businesses show the public that they pursue long-term values, not just short-term profits This has great implications for construction material enterprises - the industry is considered to have a great impact on the environment and society This study has evaluated the level of information disclosure on social accounting of listed construction material enterprises in Vietnam stock market, and pointed out two factors affecting this level which are the profit ratio and reputation of the auditor

keywords: Information disclosure, Social Responsibility Accounting, Corporate Social Responsibility, CSR, SRA

1 Giới thiệu

Các doanh nghiệp hiện nay đã và đang chuyển

đổi mục tiêu hoạt động từ tối đa hĩa lợi ích của

cổ đơng (stockholders) sang tối đa hĩa lợi ích của

các bên liên quan đến cơng ty (stakeholders), trong

đĩ cĩ cộng đồng và cơng chúng Chính vì vậy, các

doanh nghiệp ngày càng quan tâm và tăng cường

các hoạt động xã hội nhằm đĩng gĩp tích cực cũng

như giảm thiểu những tác động tiêu cực tới xã hội

và mơi trường Trong quá trình đĩ, kế tốn trách

nhiệm xã hội (Social Responsibility Accounting

- SRA) trở thành một trong những cơng cụ hữu hiệu giúp ghi nhận, phản ánh và minh bạch hĩa hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp trong việc thực hiện những trách nhiệm xã hội của mình, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững (Trần Minh Phương, 2017) Với những ngành nghề kinh doanh cĩ nhiều tác động tới mơi trường và xã hội như ngành xây dựng, dầu mỏ, khí đốt, nguyên vật liệu , việc cơng bố thơng tin SRA càng trở nên

* 1 Khoa Kế tốn – Kiểm tốn; Đại học Ngoại thương

Trang 2

SRA tại các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và

doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng nói riêng

vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đồng đều Một số

doanh nghiệp khá chú trọng đến vấn đề này nên

công bố thông tin SRA một cách minh bạch và chi

tiết trong báo cáo phát triển bền vững của mình

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa thực

sự đầu tư vào việc công bố thông tin SRA Cụ thể,

các khoản mục được công bố còn nhiều thiếu sót so

với hướng dẫn Báo cáo phát triển bền vững của Tổ

chức sáng kiến báo cáo toàn cầu (Global Reporting

Initiative - GRI), nội dung thông tin còn sơ sài,

chưa mang lại cho người đọc cái nhìn toàn diện về

tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh

nghiệp hay những tác động đến môi trường, xã hội

Vấn đề đặt ra là sự khác biệt trong mức độ công bố

thông tin SRA giữa các doanh nghiệp đến từ đâu và

biện pháp nào có thể áp dụng để các doanh nghiệp

công bố thông tin SRA đầy đủ, công khai và minh

bạch hơn? Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực

hiện nhằm mục đích nhận diện và đo lường sự ảnh

hưởng của các nhân tố tới mức độ công bố thông

tin SRA của các doanh nghiệp trong ngành nguyên

vật liệu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt

Nam Từ đó, nghiên cứu bàn luận về tình hình thực

về đóng góp cũng như mối quan tâm của các doanh nghiệp đó tới vấn đề trách nhiệm xã hội, đồng thời

đề xuất những kiến nghị nhằm thúc đẩy việc thực hiện và công bố thông tin SRA, đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia và thế giới

2 Cơ sở lý thuyết

2.1 Khái niệm

Theo ủy ban Kinh tế Thế giới về phát triển bền vững thì “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility - CSR) là một cam kết kinh doanh nhằm cư xử một cách có đạo đức

và đóng góp cho sự phát triển kinh tế cùng với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động

và gia đình của họ cũng như chất lượng cuộc sống của cộng đồng và xã hội nói chung” (Bùi Loan Thùy, 2012) CSR chính là tiền đề thúc đẩy việc thực hiện

kế toán trách nhiệm xã hội (SRA) Đó là việc“quan sát, đo lường, tính toán, ghi chép, phản ánh, tổ chức

xử lý và phân tích thông tin về trách nhiệm xã hội

mà doanh nghiệp cam kết như: trách nhiệm bảo vệ môi trường, trách nhiệm đóng góp cho cộng đồng

xã hội, trách nhiệm với nhà cung cấp, trách nhiệm với người lao động, trách nhiệm bảo đảm lợi ích và

an toàn cho người tiêu dùng ” (Huỳnh Đức Lộng,

Trang 3

TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

2018) Các thơng tin này phải được xem xét trong

mối quan hệ với kết quả và hiệu quả hoạt động sản

xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm cung cấp

thơng tin cho nhà quản trị, cho các cơ quan chức

năng của Nhà nước, cơ quan quản lý mơi trường

và cho các thành phần cĩ liên quan như: người lao

động, khách hàng, nhà cung cấp, các hiệp hội, cộng

đồng lãnh thổ ở địa phương…

2.2 Một số lý thuyết nền tảng về việc vận dụng

SRA

• Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory)

Lý thuyết các bên liên quan cĩ nguồn gốc từ

nghiên cứu của Edward Freeman trong cuốn

“Strategic Management: A Stakeholder Approach”

Khác với quan điểm truyền thống trước đĩ là cổ

đơng đĩng vai trị quan trọng nhất đối với một cơng

ty, lý thuyết này đánh giá cao vai trị của các đối

tượng khác cĩ liên quan đến quá trình hoạt động

của doanh nghiệp, trong đĩ bao gồm nhân viên,

khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng, Chính phủ,

các hiệp hội thương mại, cơng đồn Thêm vào đĩ,

tổ chức cĩ nhiệm vụ phải đối xử cơng bằng với các

bên liên quan, hoạt động vì cả lợi ích của họ

• Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy theory)

Lý thuyết hợp pháp được phát triển bởi Dowling

và Pfeffer (1975), nhấn mạnh việc các cơng ty chỉ

cĩ thể tồn tại khi hệ thống giá trị của nĩ phù hợp

với hệ thống giá trị của xã hội xung quanh Khi

giữa hai hệ thống giá trị đĩ xảy ra sự xung đột thì

tính hợp pháp của cơng ty cũng bị ảnh hưởng Theo

đĩ, các cơng ty phải tuân thủ và thực hiện tốt trách

nhiệm xã hội của mình để cĩ thể tiếp tục hoạt động

(James Guthrie, 2006)

• Lý thuyết thể chế (Institutional theory)

Lý thuyết về thể chế được sử dụng để giải thích

về cấu trúc xã hội Nội dung của lý thuyết đề cập đến vai trị của các tổ chức gồm cơ quan Chính phủ, nghề nghiệp và xã hội đối với việc thiết lập cơ cấu tổ chức, hành vi của cơng ty Lý thuyết này cho rằng, sự thay đổi trong mơi trường pháp luật (chính trị) sẽ tạo ra áp lực dẫn đến sự thay đổi trong khuơn mẫu, cũng như trong thực hành quản lý của một số

tổ chức trong đĩ cĩ kế tốn Dimaggio và Powell được cho là những người đầu tiên phát triển lý thuyết này trên khía cạnh mới với sự cấu thành của

3 yếu tố: Quy định (coercive isomorphism), quy phạm (normative pressures) và sự lan tỏa (mimetic processes) (Hồng Thị Bích Ngọc, 2017)

• Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory)

Lý thuyết này được phát triển bởi Stephen Ross và Solomon Ezra vào năm 1977 để giải thích việc cơng bố thơng tin trong báo cáo của cơng ty Nghiên cứu về lý thuyết tín hiệu đã gĩp phần dự đốn rằng, các cơng ty chất lượng cao hơn sẽ lựa chọn các chính sách kế tốn cho phép thơng tin tốt sẽ được tiết lộ, trong khi các cơng ty cĩ chất lượng thấp sẽ lựa chọn chính sách kế tốn mà cố gắng giấu thơng tin cĩ chất lượng kém(Richard D Morris, 2012) Do vậy, mức độ cơng bố thơng tin phụ thuộc nhiều vào mức độ phát triển của doanh nghiệp chẳng hạn như quy mơ, kết quả kinh doanh

và tốc độ tăng trưởng (Đàm Thị Kim Oanh, 2018)

3 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

Căn cứ vào các lý thuyết nền tảng và những cơng trình nghiên cứu trước đây cĩ liên quan đến

đề tài, nhĩm tác giả xác định những nhân tố chính tác động đến mức độ cơng bố thơng tin SRA của các doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam như sau:

Bảng 1: Các giả thuyết nghiên cứu

Nhân tố tác

động Lý thuyết giải thích Xu hướng tác động Giả thuyết

Quy mơ

doanh nghiệp

Lý thuyết tín hiệu

Lý thuyết các bên liên quan

Cùng chiều (+)

Quy mơ doanh nghiệp càng lớn, mức độ cơng

bố thơng tin SRA của các doanh nghiệp càng cao

Tỷ suất sinh

lời

Lý thuyết tín hiệu

Lý thuyết các bên liên quan

Cùng chiều (+) Tỷ suất sinh lời càng lớn, mức độ cơng bố thơng tin SRA của các doanh nghiệp càng cao

Trang 4

Đòn bẩy tài

chính Lý thuyết các bên liên quan chiều

(-)

thông tin SRA của các doanh nghiệp càng thấp

Thời gian

niêm yết

Lý thuyết hợp pháp

Lý thuyết thể chế

Cùng chiều (+)

Thời gian niêm yết của doanh nghiệp càng lớn, mức độ công bố thông tin SRA của các doanh nghiệp càng cao

Đơn vị kiểm

toán

Lý thuyết thể chế

Lý thuyết tín hiệu

Cùng chiều (+)

Các công ty được kiểm toán bởi các đơn vị kiểm toán uy tín sẽ có mức độ công bố thông tin SRA cao hơn so với các công ty khác

4 Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng

phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích

hồi quy và phương pháp thống kê mô tả, so sánh,

tổng hợp Dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường

niên và báo cáo phát triển bền vững năm 2017 của

30 doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng niêm yết

trên thị trường chứng khoán Việt Nam Dữ liệu

để chạy mô hình hồi quy tuyến tính được xử bằng

phần mềm Stata13

4.1 Mô hình hồi quy

Mô hình hồi quy tổng thể được xây dựng dựa

trên giả thuyết nghiên cứu như sau:

Y = β0 + β1 X1 + β2 X2 + β3 X3 + β4 X4 + β5

X5 + ε

Trong đó:

• X1, X2, X3, X4, X5: Các biến độc lập của mô

hình Cụ thể:

X1: Quy mô doanh nghiệp

X2: Tỷ suất sinh lời X3: Đòn bẩy tài chính

X4: Thời gian niêm yết

X5: Đơn vị kiểm toán độc lập

• β0: Tham số chặn

• β1, β2, β3, β4, β5: Các tham số chưa biết của

mô hình

• ε: Sai số ngẫu nhiên

4.2 Đo lường biến phụ thuộc

Mức độ công bố thông tin được tính theo cách tiếp cận không có trọng số Nhóm tác giả lần lượt chấm điểm mức độ công bố thông tin theo từng khoản mục được đưa ra trong Hướng dẫn báo cáo phát triển bền vững của Tổ chức Sáng kiến báo cáo toàn cầu (Global Reporting Initiative - GRI) Theo

đó, mỗi báo cáo thường niên của doanh nghiệp đã chọn sẽ được chấm điểm lần lượt theo 33 khoản mục sau:

Bảng 2: Các khoản mục bắt buộc về công bố thông tin SRA

Chủ đề kinh tế Môi trường Xã hội

Chỉ tiêu

1 Hiệu quả hoạt động

kinh tế

2 Sự hiện diện trên thị

trường

3 Tác động kinh tế gián tiếp

4 Thông lệ mua sắm

5 Chống tham nhũng

6 Hành vi cản trở cạnh

tranh

1 Vật liệu

2 Năng lượng

3 Nước

4 Đa dạng sinh học

5 Phát thải

6 Nước thải và chất thải

7 Tuân thủ môi trường

8 Đánh giá nhà cung cấp

về môi trường

1 Việc làm

2 Mối quan hệ quản trị/lao động

3 An toàn và sức khỏe nghề nghiệp

4 Giáo dục và đào tạo

5 Đa dạng và cơ hội bình đẳng

6 Không phân biệt đối xử

7 Tự do lập hội và thương lượng tập thể

Trang 5

TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

8 Lao động trẻ em

9 Lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc

10 Thơng lệ về an ninh

11 Quyền của người bản địa

12 Đánh giá về quyền con người

13 Cộng đồng địa phương

14 Đánh giá nhà cung cấp về mặt

xã hội

15 Chính sách cơng

16 An tồn và sức khỏe của khách hàng

17 Tiếp thị và nhãn hàng

18 Quyền bảo mật thơng tin khách hàng

19 Tuân thủ về kinh tế - xã hội

Nguồn: GRI (2016), Hướng dẫn báo cáo phát triển bền vững

Để xác định mức độ cơng bố thơng tin SRA, thơng tin liên quan đến mỗi khoản mục được chấm điểm chất lượng theo 5 mức độ như bảng sau:

Bảng 3: Phương pháp đánh giá mức độ cơng bố thơng tin SRA

Khơng cĩ thơng tin định tính, cĩ thơng tin định lượng cả về dự tốn và giá trị thực hiện 2 Khơng cĩ thơng tin định tính, chỉ cĩ thơng tin định lượng về giá trị thực hiện 1

Nguồn: Nguồn: GRI (2016), Hướng dẫn báo cáo phát triển bền vững

Sau khi chấm điểm 33 mục theo GRI cơng thức lượng hĩa Y như sau:

Trong đĩ: Si là điểm số của mỗi mục từ mục số 1 đến mục số 33

4.3 Đo lường biến độc lập

Các biến độc lập trong mơ hình được đo lường theo phương pháp sau:

Bảng 4 Phương pháp đo lường các biến độc lập

ký hiệu Biến độc lập Cách đo lường

X1 Quy mơ doanh nghiệp ln(NV) với NV là Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp

Trang 6

X3 Đòn bẩy tài chính Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản

X4 Thời gian niêm yết Số năm tính từ khi doanh nghiệp bắt đầu niêm yết đến hết năm 2017

X5 Đơn vị kiểm toán độc lập

= 1 nếu doanh nghiệp được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán thuộc Big4

= 0 nếu doanh nghiệp được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán ngoài Big4

5 kết quả nghiên cứu và bàn luận

5.1 Đánh giá chung

Kết quả cho thấy mô hình hồi quy tổng thể hoàn

toàn phù hợp (Prob > F = 0.0445) Hệ số tương

quan hiệu chỉnh (Adj R2) đạt giá trị 0.2276 cho

thấy 5 biến độc lập trong mô hình giải thích được

22,76% sự thay đổi của biến phụ thuộc 77,24% còn

lại phụ thuộc vào các nhân tố khác chưa được phát

hiện trong phương trình

Bảng 5 Bảng tóm tắt kết quả kiểm định mức

độ phù hợp

Number of observations 30

Nguồn: Kết quả phân tích bằng phần mềm Stata 13

Để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến, tác giả

chạy thêm kiểm định VIF Kết quả cho thấy tất cả

các biến trong mô hình đều có hệ số phóng đại phương sai VIF nhỏ (VIF<2) chứng tỏ mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến

Bảng 6 kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến

Variable VIF 1/VIF

Nguồn: Kết quả phân tích bằng phần mềm Stata 13

Thống kê mô tả cho thấy các công ty ngành vật liệu được phân tích có quy mô vốn lớn (số vốn trung bình là 2.465 tỷ, ln=28.53), tỷ suất sinh lời ở mức trung bình (14%), không sử dụng quá nhiều đòn bẩy tài chính (trung bình 46,5%), thời gian niêm yết khá dài (trung bình 8,6 năm) và không nhiều công ty được kiểm toán bởi Big4

Bảng 7: Bảng thống kê mô tả các biến

Variable Obs Mean Std Dev Min Max

Nguồn: Kết quả phân tích bằng phần mềm Stata 13

Trang 7

TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

Kết quả phân tích cho thấy, mức độ cơng bố

thơng tin SRA của các cơng ty này chưa cao, trung

bình đạt 1.456 trên 4 điểm, tương đương với 36.4%

Trong đĩ, cơng ty cĩ mức độ cơng bố thơng tin

SRA cao nhất đạt 2.788/4 điểm (69.7%) và cơng ty

cĩ mức độ cơng bố thơng tin SRA thấp nhất ở mức

0.636/4 (15.9%) Trong số 30 cơng ty được chọn

làm mẫu nghiên cứu chỉ cĩ 2 cơng ty phát hành

báo cáo phát triển bền vững tách biệt với báo cáo thường niên Như vậy, cĩ thể thấy rằng các doanh nghiệp ngành nguyên vật liệu niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam tuy đã quan tâm đến việc cơng bố thơng tin SRA nhưng thơng tin cơng bố chưa thật cụ thể, minh bạch và chi tiết

5.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng

Bảng 8 kết quả chạy mơ hình hồi quy tuyến tính bội

Y Coef Std Err t P-value [95% Conf Intercal]

Nguồn: Kết quả phân tích bằng phần mềm Stata 13

Với khoảng tin cậy là 95%, các biến độc lập cĩ

P – value < 0.05 sẽ được chấp nhận Như vậy cĩ 2

trong 5 biến độc lập của nghiên cứu cĩ giá trị ảnh

hưởng đến biến phụ thuộc, đĩ là: Tỷ suất sinh lời

(X2) và Đơn vị kiểm tốn độc lập (X5) Nhân tố tỷ

suất sinh lời cĩ ảnh hưởng thuận chiều đến mức

độ cơng bố thơng tin SRA, tức là cơng ty cĩ tỷ suất

sinh lời càng cao thì mức độ cơng bố thơng tin SRA

càng cao Kết luận này giống với kết quả nghiên

cứu của Ayman (2017); La Soa, Manh Dung và

Quoc Hoi (2017); Thúy Nga (2017) Đối với nhĩm

ngành nguyên vật liệu niêm yết trên thị trường

chứng khốn, tỷ suất lợi nhuận tăng 1% sẽ làm cho

mức độ cơng bố thơng tin SRA của doanh nghiệp

tăng 1,95%

Với nhân tố là đơn vị kiểm tốn độc lập (X5),

P – value = 0.039, thấp nhất trong 5 biến chứng

tỏ sự ảnh hưởng của nhân tố này đến biến phụ

thuốc là đáng tin cậy nhất Hệ số tương quan là

0.513 cho thấy cơng ty được kiểm tốn bởi Big4 sẽ

cơng bố thơng tin SRA cụ thể, minh bạch hơn các

cơng ty cịn lại Điều này là do cơng ty mong muốn gây dựng hình ảnh tốt, đáp ứng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt mà những cơng ty kiểm tốn uy tín thường đặt ra

Các nhân tố cịn lại là quy mơ doanh nghiệp, địn bẩy tài chính và thời gian niêm yết cĩ p-value cao nên chưa đủ độ tin cậy để kết luận về ảnh hưởng của chúng lên biến phụ thuộc

6 Một số kiến nghị, đề xuất

Theo kết quả nghiên cứu của nhĩm tác giả, tỷ suất sinh lời và đơn vị kiểm tốn độc lập là hai nhân

tố cĩ ảnh hưởng cùng chiều đến mức độ cơng bố thơng tin SRA của các doanh nghiệp thuộc ngành nguyên vật liệu Với đặc thù là ngành thường để lại nhiều tác động tới mơi trường và xã hội, các doanh nghiệp này nên lựa chọn cơng ty kiểm tốn uy tín

để nâng cao tính minh bạch của thơng tin, tiếp nhận các kiến nghị từ kiểm tốn viên để cải thiện chất lượng báo cáo phát triển bền vững, tạo hình ảnh tốt cho doanh nghiệp trong mắt các đối tác Mức độ cơng bố thơng tin SRA cao cũng sẽ là tín

Trang 8

đang có kết quả hoạt động kinh doanh tốt (tỷ suất

lợi nhuận cao), thu hút đầu tư, tăng giá trị cổ phiếu

Chính vì vậy, lãnh đạo doanh nghiệp cần hiểu rõ

tầm quan trọng và lợi ích của CSR để từ đó tích hợp

CSR trong sứ mệnh, mục tiêu, chiến lược, văn hóa

doanh nghiệp Đồng thời, doanh nghiệp cần cụ thể

hóa hành động thông qua việc dự kiến ngân sách

dành cho các hoạt động trách nhiệm xã hội, xây

dựng những chương trình đào tạo cho nhân viên

để nâng cao đạo đức nghề nghiệp và nhận thức về

các vấn đề xã hội, môi trường Các hoạt động này

cần được công bố trong các báo cáo thường niên,

báo cáo tích hợp của doanh nghiệp để các bên có

liên quan có cơ sở đánh giá hiệu quả hoạt động của

doanh nghiệp một cách toàn diện nhất

kết luận

Nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững,

các doanh nghiệp cần đánh giá kết quả hoạt động

của mình trong mối tương quan với các tác động

môi trường và xã hội Trong quá trình này, SRA

là công cụ đắc lực giúp thu thập, xử lý và cung

cấp thông tin liên quan đến hiệu quả hoạt động

CSR cũng như hiệu quả của toàn bộ hoạt động

trong doanh nghiệp Các thông tin SRA cũng cần

được công bố một cách minh bạch và kịp thời cho

các đối tượng có liên quan đến lợi ích của doanh

nghiệp biết và sử dụng Với nghiên cứu này, các

tác giả đã chỉ ra được cách thức đánh giá mức độ

công bố thông tin SRA cũng như chỉ ra được các

yếu tố có ảnh hưởng là tỷ suất lợi nhuận và công ty

kiểm toán, từ đó đưa ra một vài khuyến nghị cho

doanh nghiệp Tuy còn một số nhân tố chưa kết

luận được về mức độ ảnh hưởng, song nghiên cứu

cũng có ý nghĩa tham khảo để các nhà khoa học

phát triển về sau bằng cách mở rộng quy mô mẫu,

mở rộng ngành nghề nghiên cứu hoặc bổ sung các

yếu tố ảnh hưởng như quy mô hội đồng quản trị,

mức độ độc lập của hội đồng quản trị, khả năng

thanh toán

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Huỳnh Đức Lộng Kế toán trách nhiệm xã hội [online] http://hoiketoanhcm.org.vn [truy cập ngày 8/10/2018];

2 Đàm Thị Kim Oanh (2018) Cơ sở lý thuyết về công bố thông tin bộ phận của doanh nghiệp [online] http://vaa.net.vn [truy cập ngày 10/10/2018];

3 Trần Minh Phương (2017) Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện kế toán trách nhiệm

xã hội trong doanh nghiệp tại Việt Nam, ĐH Kinh Tế Tp Hồ Chí Minh;

4 Bùi Loan Thùy, (2012) Từ thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tiến tới tạo lập giá trị chung trong hội nhập kinh tế toàn cầu Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 2, tr.55-60;

5 La Soa Nguyen, Manh Dung Tran, Thi Xuan Hong Nguyen, Quoc Hoi Le (2017) Factors Affecting Disclosure Levels of Environmental Accounting Information: The Case of Vietnam Ha Noi University of Industry & National Economics University, Viet Nam;

6 Ayman I F Issa (2017) The Factors Influencing Corporate Social Responsibility Disclosure in the Kingdom of Saudi Arabia, Australian Journal of Basic and Applied Sciences;

7 James Guthrie (2006) Legitimacy Theory: A story of reporting social and environmental matters within the Australian food and beverage industry The University of Sydney;

8 Paul J DiMaggio và Walter W Powell (1983) The Iron Cage Revisited: Isomorphism in Organizational Fields Advances in Strategic Management;

9 R Edward Freeman (1984) Strategic Management: A Stakeholder Approach;

10 Stephen A Ross (2009) The determination

of financial structure: the incentive-signalling approach, The Bell Journal of Economics, Vol

8, tr.23-40;

11 The Global Reporting Initiative (2016) GRI Standards 2016.

Ngày đăng: 27/10/2020, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w