Quản lý tài chính là quản lý các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính bằng những phương pháp tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan về kinh tế - tài chính một cách phù hợp với điều kiện của tiến trình đổi mới về kinh tế - xã hội của đất nước.
Trang 1* Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
VAI TRÒ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC ĐOáI VỚI CẢI CÁCH qUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP
PGS, TS HUỳNH THÀNH ĐẠT*
1 Mở đầu
Quản lý tài chính là quản lý các hoạt động huy
động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính
bằng những phương pháp tổng hợp gồm nhiều
biện pháp khác nhau được thực hiện trên cơ sở vận
dụng các quy luật khách quan về kinh tế - tài chính
một cách phù hợp với điều kiện của tiến trình đổi
mới về kinh tế - xã hội của đất nước
Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tài
chính là quá trình tác động của Nhà nước vào các
quan hệ tài chính nhằm phản ánh thực hiện các
mục tiêu, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội mà Nhà nước đặt ra trong từng thời kỳ
Quản lý tài chính đồng thời là quá trình mà Nhà
nước sử dụng tài chính như là cơng cụ để quản lý
và điều hành nền kinh tế, hướng các quan hệ kinh
tế, các hoạt động kinh tế thực hiện, phát triển theo
ý đồ của Nhà nước
Quản lý tài chính trong các trường đại học
hướng vào quản lý thu, chi của các nguồn tài
chính trong đơn vị, quản lý thu chi của các chương
trình, dự án đào tạo, quản lý các dự tốn ngân
sách của trường
Quản lý tài chính địi hỏi các chủ thể quản lý
phải lựa chọn, đưa ra các quyết định tài chính và tổ
chức thực hiện các quyết định đĩ nhằm đạt được
mục tiêu hoạt động quản lý tài chính của đơn vị
Mục tiêu tài chính cĩ thể thay đổi theo từng thời
kỳ và chính sách chiến lược của từng đơn vị Vì vậy,
quản lý tài chính đĩng vai trị rất lớn đối với hoạt động kinh tế - xã hội cũng như đối với hoạt động quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, khác với quản lý doanh nghiệp chủ yếu nhằm mục tiêu tối ưu hố lợi nhuận, mục tiêu của quản lý tài chính trong các trường đại học cơng lập khơng vì mục đích lợi nhuận, phục vụ cho cộng đồng xã hội vì giáo dục nhằm đào tạo phát triển nguồn nhân lực và đĩ là cơng cụ để truyền bá, phổ biến tri thức cho nền quản lý tài chính tại các trường đại học cơng lập chính là sử dụng cĩ hiệu quả, đúng định hướng các nguồn kinh phí ngân sách nhà nước (NSNN) cấp
và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các trường đại học cơng lập cĩ liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội nĩi chung và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển nhà trường Do
đĩ, phải cĩ sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính, đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính Vì vậy, vai trị của Kiểm tốn nhà nước (KTNN) đối với việc gĩp phần hồn thiện cơ chế tài chính trong các trường đại học cơng lập nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng đào tạo là đáng trân trọng và ghi nhận
Trong phạm vi của bài viết, tác giả chỉ đề cập đến vai trị của KTNN đối với cải cách chính sách quản lý tài chính tại các trường đại học cơng lập
Trang 2KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC - 25 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH
2 Chức năng và vai trị của kTNN
2.1 Chức năng của KTNN
KTNN là cơng cụ kiểm tra tài chính cơng quan
trọng của Nhà nước Với các chức năng cơ bản là
kiểm tra, xác nhận, đánh giá và tư vấn, hoạt động
KTNN gĩp phần bảo đảm minh bạch, phân bổ,
quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước
và tài sản cơng một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu
quả Mọi hoạt động liên quan đến tài chính nhà
nước và tài sản nhà nước, mọi cơ quan, tổ chức,
đơn vị cĩ quản lý và sử dụng các nguồn lực tài chính
nhà nước và tài sản nhà nước đều chịu sự kiểm tra
của cơ quan KTNN Ngồi chức năng, nhiệm vụ
này, cơ quan KTNN cịn thực hiện kiểm tốn tính
tuân thủ, tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả việc
quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước
và tài sản nhà nước
2.2 Vai trị của KTNN trong việc nâng cao hiệu
lực quản lý chi tiêu cơng
2.2.1.Vai trị của KTNN trong quản lý và nâng
cao hiệu lực quản lý chi tiêu cơng
KTNN hỗ trợ quản lý, kiểm sốt chi tiêu cơng
trong cả hai phương thức quản lý: Theo chi phí đầu
vào và theo kết quả đầu ra Trong điều kiện quản
lý chi tiêu cơng theo chi phí đầu vào như hiện nay
ở Việt Nam và hầu hết các nước đang phát triển, KTNN kiểm tra, xem xét cách thức lập dự tốn ngân sách, việc tuân thủ định mức, tiêu chuẩn, chế
độ Nhà nước quy định Đối với phương thức quản
lý theo kết quả đầu ra, KTNN kiểm tra, đánh giá hiệu lực, hiệu quả sử dụng các nguồn lực cơng và kết quả đạt được so với mục tiêu đề ra Đĩ là hình thức kiểm tốn hoạt động của KTNN
KTNN thực hiện kiểm tốn tài chính, tuân thủ
và hoạt động các khoản chi tiêu cơng thơng qua hai phương thức: Kiểm tốn trước (tiền kiểm) và kiểm tốn sau (hậu kiểm), gĩp phần ngăn ngừa rủi
ro, răn đe sai phạm, nâng cao hiệu quả trong chi tiêu cơng
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, luật pháp quy định KTNN cĩ trách nhiệm thực hiện kiểm tốn
dự tốn NSNN hàng năm trước khi trình Quốc hội quyết định nhằm chỉ ra những hạn chế, bất cập trong việc xác định các khoản chi, cơ cấu chi ngay trong giai đoạn lập dự tốn; cảnh báo nguy cơ rủi
ro trong chi tiêu cơng cĩ thể phá vỡ tính bền vững của ngân sách; đồng thời tư vấn, kiến nghị các giải
Trang 3tập trung, đúng đối tượng bảo đảm nâng cao hiệu
quả trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính nhà
nước và hạn chế rủi ro tài chính KTNN kiểm toán
tính tuân thủ pháp luật, chế độ, tiêu chuẩn, định
mức trong xây dựng dự toán các khoản chi; tính
đầy đủ của các khoản chi trong cân đối ngân sách,
qua đó giảm thiểu những sai phạm ngay từ khi lập,
phân bổ và quyết định dự toán
Đối với hậu kiểm, tức kiểm toán báo cáo tài
chính, báo cáo quyết toán chi tiêu của Chính phủ,
các cấp chính quyền địa phương và tại các đơn
vị sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước về
việc tuân thủ chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do
Nhà nước quy định không chỉ nhằm mục đích xác
nhận số liệu quyết toán, minh bạch tài chính mà
còn góp phần răn đe sai phạm, tham nhũng, lãng
phí trong chi tiêu công, ngăn ngừa rủi ro và nâng
cao hiệu quả trong chi tiêu công Dựa trên các
kiến nghị của KTNN, các khoản chi sai chế độ,
tiêu chuẩn, định mức, sử dụng sai mục đích sẽ bị
thu hồi, hoàn trả cho NSNN; cá nhân phê duyệt
chi sai sẽ bị xem xét, xử lý trách nhiệm Số liệu
chi tiêu công được KTNN kiểm tra và xác nhận là
cơ sở tin cậy để Chính phủ hoạch định các chính
sách, biện pháp kinh tế, tài chính; để Quốc hội
sử dụng trong quá trình xem xét, quyết định và
giám sát việc thực hiện mục tiêu, chính sách, phê
chuẩn các chỉ tiêu kinh tế và chính sách kinh tế,
tài chính, dự án quan trọng của quốc gia KTNN
còn xem xét, đánh giá văn bản pháp luật, hệ thống
tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi, một mặt, về
những ưu điểm, hợp lý; mặt khác, về những vấn
đề còn bất cập, không sát hợp với thực tiễn, những
rủi ro pháp luật Những ý kiến của KTNN sẽ góp
phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách
quản lý, hệ thống định mức phân bổ ngân sách,
định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi tiêu; đồng thời
là cơ sở để các cơ quan quản lý đề ra các biện pháp
quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý, kiểm soát chi tiêu công
Khi kinh tế phát triển theo chiều sâu, mô hình
quản trị theo kết quả đầu ra, lập ngân sách theo
tuân thủ pháp luật, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu, KTNN thực hiện kiểm toán hoạt động để phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong sử dụng nguồn lực công, nhất là các dự án đầu tư, các chương trình mục tiêu quốc gia Tuy nhiên, kiểm toán hoạt động đòi hỏi đội ngũ kiểm toán viên có trình độ cao, vừa phải có kiến thức vĩ mô, vừa có kiến thức kinh
tế, kỹ thuật của các ngành khác nhau để có thể đánh giá xác đáng, hợp lý tình hình hoạt động của các cơ quan Chính phủ Đây là một thách thức lớn đối với
cơ quan KTNN của các quốc gia đang phát triển nói chung và KTNN Việt Nam nói riêng
2.2.2 Vai trò của KTNN trong việc quản lý điều hành ngân sách
Góp phần kiểm tra việc chấp hành những quy định hiện hành về nghĩa vụ nộp NSNN, thực hiện nộp đúng, nộp đủ theo quy định của pháp luật Kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng NSNN chống thất thoát, chống lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước
Cung cấp cơ sở dữ liệu để thực hiện việc quyết định và quản lý NSNN sát thực và có hiệu quả hơn Một trong những vấn đề quan trọng để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng NSNN và công quỹ quốc gia trong việc quản lý điều tiết nền kinh tế là dự toán NSNN
KTNN góp phần làm minh bạch và lành mạnh các thông tin, các quan hệ kinh tế, tài chính Thông qua hoạt động kiểm toán, KTNN xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin kinh tế, trước hết là thông tin trên báo cáo tài chính của các cấp chính quyền, các cơ quan, đơn vị và bộ phận được kiểm toán
Kết quả kiểm toán được lập thành báo cáo và công bố công khai theo quy định của pháp luật đã góp phần làm cho các thông tin về kinh tế, tài chính được kiểm toán đáp ứng được yêu cầu trung thực, khách quan;
KTNN đã cung cấp nhiều thông tin, căn cứ và kiến nghị quan trọng và kịp thời để Quốc hội xem
Trang 4KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC - 25 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH
xét, phê chuẩn dự tốn NSNN, quyết định phân
bổ ngân sách Trung ương, quyết định chủ trương
đầu tư chương trình mục tiêu, dự án quan trọng
quốc gia
KTNN cung cấp thơng tin đầy đủ, kịp thời cho
Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan
khác của Nhà nước sử dụng trong cơng tác quản lý,
điều hành và thực thi nhiệm vụ của mình KTNN
gĩp phần thúc đẩy các cơ quan nhà nước nâng cao
chất lượng quản lý và sử dụng các nguồn lực một
cách tồn diện cả về tính kinh tế, tính hiệu lực và
hiệu quả
Thơng qua kiểm tốn, KTNN phát hiện những
hạn chế, bất cập trong quản lý, sử dụng NSNN, từ
đĩ đưa ra các kiến nghị để các đơn vị được kiểm
tốn cĩ biện pháp khắc phục, chấn chỉnh, đảm bảo
trật tự, kỷ luật tài chính và minh bạch việc sử dụng
ngân sách KTNN khơng chỉ gĩp phần quản lý chặt
chẽ các khoản chi tiêu cơng chống tham ơ, lãng phí,
thất thốt, mà quan trọng hơn phải làm cho đồng
tiền thuế của nhân dân được sử dụng đúng mục
đích và hiệu quả cao
Bên cạnh đĩ, thơng qua hoạt động kiểm tốn,
KTNN đã kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy
bỏ các văn bản cĩ liên quan đến quản lý, sử dụng
NSNN khơng phù hợp với thực tiễn hoặc trái với
quy định hiện hành Những kiến nghị sửa đổi hay
hủy bỏ văn bản quản lý đĩ đã gĩp phần làm minh
bạch chính sách tài chính, minh bạch trong xác
định nguồn thu, mức thu, số thu NSNN và minh
bạch trong chi tiêu ngân sách Cĩ thể nĩi, các kiến
nghị, đề xuất xử lý tài chính của KTNN, đã gĩp
phần khơng nhỏ làm minh bạch NSNN và lành
mạnh nền tài chính quốc gia
3 Cơng tác quản lý tài chính tại các trường đại
học cơng lập
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ và cơ quan khác (Đại học Quốc gia Hà
Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) ở
Trung ương là đơn vị dự tốn cấp I, nhận dự tốn
ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ giao
và thực hiện quản lý tài chính thống nhất gồm ba
mảng cơng việc sau: (1) Lập, phân bổ, giao dự tốn thu, chi NSNN cho các đơn vị trực thuộc theo quy định hiện hành; (2) tổ chức chấp hành dự tốn thu, chi tài chính hàng năm theo chế độ, chính sách của Nhà nước; (3) tổ chức, thực hiện cơng tác kế tốn, quyết tốn ngân sách của cơ quan chủ quản theo quy định hiện hành Hàng năm, căn cứ vào hướng dẫn của các Bộ, cơ quan chủ quản hướng dẫn các đơn vị trực thuộc lập kế hoạch và dự tốn thu, chi ngân sách năm tài chính tiếp theo; tổ chức chấp hành dự tốn thu, chi tài chính hàng năm theo chế
độ, chính sách của Nhà nước; thẩm định quyết tốn thu, chi ngân sách của năm tài chính vừa qua của các đơn vị trực thuộc và tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính Đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, khi kết thúc năm ngân sách, các đơn vị trực thuộc phải lập báo cáo quyết tốn tình hình sử dụng vốn ngân sách trong năm; khi dự án hồn thành, phải lập và báo cáo quyết tốn cơng trình gửi cơ quan chủ quản thẩm định phê duyệt theo quy định của pháp luật
Các đơn vị trực thuộc cĩ sử dụng NSNN được Nhà nước giao nhiệm vụ gắn với nguồn NSNN
để thực hiện nhiệm vụ cĩ trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn NSNN theo quy định của Luật NSNN
Ba mảng cơng việc trong quản lý tài chính tại các đơn vị trực thuộc đều hết sức quan trọng Nếu như dự tốn là phương án kết hợp các nguồn lực trong dự kiến để đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ
đề ra và là cơ sở để tổ chức chấp hành thì quyết tốn là thước đo hiệu quả của cơng tác lập dự tốn Qua đĩ, cĩ thể thấy ba khâu cơng việc trong quản
lý tài chính cĩ quan hệ mật thiết với nhau và cĩ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sử dụng các nguồn lực nhằm hồn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ được giao Muốn vậy các đơn vị phải cĩ sự chủ động, linh hoạt trong hoạt động đồng thời với việc
sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực Điều này một mặt phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, chức năng, nhiệm vụ được giao, mặt khác phụ thuộc vào
cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, phương thức hoạt động, cách thức tổ chức hạch tốn kế tốn khoa học của mỗi đơn vị sử dụng ngân sách
Trang 5của Nhà nước về quản lý, sử dụng tài chính, tài
sản công… các đơn vị cần được kiểm toán thường
xuyên để trên cơ sở những phát hiện của kiểm toán,
ngoài những kiến nghị xử lý tài chính, kiến nghị
về quản lý, tuân thủ các quy định của pháp luật,
KTNN kiến nghị với Nhà nước nhằm sửa đổi, bổ
sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật,
cơ chế chính sách trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
4 Những tồn tại bất cập trong công tác quản
lý tài chính các trường đại học công lập
Hiện nay, các trường đại học công lập chưa triển
khai thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định số
16/2015/NĐ-CP ngày 15/02/2015 của Chính phủ
về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp
công lập (Nghị định số 16/2015/NĐ-CP) thay thế
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của
Chính phủ do chưa có văn bản hướng dẫn Một
số đơn vị mới thành lập chưa được giao tự chủ do
phải chờ văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định
số 16/2015/NĐ-CP
Một số trường đại học công lập tuy đã giao tự
chủ song trên thực tế hoạt động vẫn đang tuân thủ
và là đối tượng điều chỉnh của nhiều Luật, các Nghị
định của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp
luật khác nên thực tế việc tự chủ của các trường
mang tính hình thức, chưa đồng bộ, về cơ sở pháp
lý có những quy định chưa phù hợp với quá trình
vận hành
Các trường chưa được chủ động trong việc
quyết định mức thu học phí mà còn phụ thuộc vào
các quy định mức trần học phí của Nghị định số
86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ
về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo
dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính
sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ
năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 - 2021, bên
cạnh đó các trường bị áp lực tăng thu do NSNN cấp
kinh phí thường xuyên giảm dẫn đến tình trạng
thu vượt, thu sai quy định, lạm thu các khoản ngoài
quy định
Do thu không đủ bù đắp chi phí nên các trường
hợp pháp của đơn vị để đầu tư phát triển tiềm lực
và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ tại đơn vị; 3% kinh phí từ nguồn thu học phí của đơn vị để cho sinh viên và người học hoạt động nghiên cứu khoa học và 8% nguồn thu học phí
hệ giáo dục chính quy của đơn vị để chi học bổng khuyến khích học tập cho sinh viên theo Nghị định
số 99/2014/NĐ-CP ngày 25/10/2014 của Chính phủ quy định việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học và Quyết định số 44/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về học bổng khuyến khích học tập đối với học sinh, sinh viên trong các trường chuyên, trường năng khiếu, các cơ sở giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và Thông tư số 31/2013/TT-BGDĐT ngày 01/8/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 2 của Quyết định số 44/2007/QĐ-BGDĐT
Chi thù lao giảng dạy: Việc bố trí, sắp xếp giờ giảng tại một số trường chưa hợp lý dẫn đến có nhiều giảng viên có số giờ giảng vượt quá 300 giờ/ năm; nguyên nhân là do một số môn học chung, môn học chuyên sâu số lượng giảng viên ít trong khi số lượng sinh viên đăng ký học nhiều; đồng thời theo quy định tại Thông tư 47/2014/TT-BGDĐT
số giờ định mức của giảng viên giảm so với quy định tại Quyết định 64/2008/QĐ - BGDĐT từ 10 đến 90 giờ chuẩn/năm/giảng viên trong khi khung chương trình đào tạo không thay đổi dẫn đến phát sinh tiền vượt giờ Điều này dẫn đến một số giảng viên vượt giờ giảng, vi phạm quy định của Bộ Luật Lao động và ngược lại cũng có một số giảng viên chưa đảm bảo dạy đủ giờ chuẩn
Quản lý tài sản công: Trước đây thực hiện theo chế độ kế toán Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ Tài chính về Ban hành Chế
độ kế toán hành chính sự nghiệp các đơn vị đã mở đầy đủ sổ theo dõi tài sản và hạch toán tăng giảm tài sản, tính hao mòn tài sản cố định (TSCĐ) theo quy định tại Thông tư số 162/2014/TT-BTC ngày
Trang 6KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC - 25 NĂM XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH
06/11/2014 của Bộ Tài chính Từ năm 2018 các đơn
vị thực hiện theo Thơng tư số 107/2017/TT-BTC
ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính về Hướng dẫn
chế độ kế tốn hành chính sự nghiệp thay thế các
đơn vị Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC các đơn vị
tính hao mịn, khấu hao TSCĐ phải đưa vào chi
hoạt động, chi phí dịch vụ, sản xuất kinh doanh
tính vào giá thành sản phẩm Điều này dẫn đến các
đơn vị cĩ nguồn thu thấp khơng thể thực hiện trích
tỷ lệ hao mịn, khấu hao TSCĐ quy định tại Thơng
tư số 45/2018/TT-BTC ngày 07/5/2018 của Bộ Tài
chính (thay thế Thơng tư số 162/2014/TT-BTC của
Bộ Tài chính) được
Về tự chủ trong quản lý và sử dụng tài sản: Các
trường thực hiện cơ chế tự chủ được thực hiện liên
doanh, liên kết, gĩp vốn liên doanh với các tổ chức,
cá nhân để hoạt động dịch vụ đáp ứng nhu cầu của
xã hội Tuy nhiên, các văn bản pháp lý hướng dẫn
cụ thể chưa được ban hành dễ dẫn đến nguy cơ mất
tài sản, tài sản đầu tư ngồi ngành khơng phù hợp
với mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo
Phân phối kết quả tài chính của các đơn vị tự
chủ trong năm: Hàng năm, sau khi hạch tốn đầy
đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp
NSNN khác (nếu cĩ) theo quy định, phần chênh
lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu cĩ), đơn
vị được sử dụng theo trình tự như sau: (1) Trích
tối thiểu 15%- 25% để lập Quỹ phát triển hoạt
động sự nghiệp; (2) trích lập Quỹ bổ sung thu
nhập: Đơn vị được tự quyết định mức trích Quỹ
bổ sung thu nhập (khơng khống chế mức trích);
(3) trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối
đa khơng quá 3 tháng tiền lương, tiền cơng thực
hiện trong năm của đơn vị Điều này dẫn đến sau
khi trích 15% - 25% để lập Quỹ phát triển hoạt
động sự nghiệp phần chênh lệch cịn lại thấp, đơn
vị trích Quỹ bổ sung thu nhập ít khơng đủ nguồn
để chi thu nhập tăng thêm cho giảng viên, cán bộ
viên chức, thu nhập thấp các trường sẽ khơng giữ
được người
Hiện nay, Nhà nước đã cĩ những chính sách
ưu đãi đặc biệt khuyến khích các đơn vị sự nghiệp
khoa học cơng nghệ chuyển đổi hoặc thành lập
doanh nghiệp khoa học cơng nghệ nhằm tạo đà cho doanh nghiệp phát triển để từ đĩ kéo theo
sự phát triển các lĩnh vực khác nhờ ứng dụng các thành tựu khoa học cơng nghệ hiện đại vào sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội Tuy nhiên, văn bản quy định về chuyển đổi hay thành lập mới của Nhà nước chưa hồn thiện, cịn nhiều bất cập, thủ tục rườm rà (Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chuyển đổi đơn vị sự nghiệp cơng lập thành cơng ty cổ phần phải thuộc danh mục chuyển đổi thành cơng ty cổ phần theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/2/2019 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học cơng nghệ thì khơng quy định ) Ngồi ra, Luật Kế tốn, Thơng tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính về Hướng dẫn chế độ kế tốn hành chính sự nghiệp chưa quy định về việc các doanh nghiệp trong trường đại học thì báo cáo tài chính cĩ được tổng hợp vào nhà trường hay khơng
và trường đại học quản lý doanh nghiệp ở mức độ nào Đồng thời, nếu doanh nghiệp hoạt động thua
lỗ khơng cĩ khả năng chi trả thì trường đại học
cĩ doanh nghiệp khoa học cơng nghệ sẽ chịu trách nhiệm ở mức độ, phạm vi nào
Việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh các trường đại học thực hiện theo Thơng tư số 06/2018/ TT-BGDĐT ngày 28/02/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh trình độ trung cấp, cao đẳng các ngành đào tạo giáo viên; trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ Theo đĩ, chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm được xác định bởi 03 tiêu chí: (1) Số sinh viên chính quy tính trên một giảng viên quy đổi theo khối ngành của cơ sở giáo dục; (2) diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo; (3) nhu cầu lao động của thị trường, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Do đặc thù tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đại học này cĩ nguồn lực sử dụng chung là giảng viên, nghiên cứu viên và một số giảng viên làm nhiệm vụ quản lý là chính nhưng vẫn tham gia giảng dạy ở các trường trong Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhưng văn bản chưa
Trang 7để tính toán xác định chỉ tiêu tuyển sinh cho các
đơn vị thành viên
5 Một số kiến nghị
Để giúp công tác quản lý tài chính tại các trường
đại học được hoàn thiện, thông qua các báo cáo
kết quả kiểm toán, KTNN đã chỉ ra những bất hợp
lý trong việc quản lý thu, chi ngân sách nhà nước,
Nhà nước cần thực hiện các giải pháp sau:
- Những kiến nghị của KTNN được làm căn cứ
cải tiến quản lý, điều chỉnh các chính sách, sắp xếp
lại các đơn vị, có biện pháp quản lý và sử dụng các
nguồn lực một cách hiệu quả
- Để phù hợp tình hình phát triển kinh tế xã hội
hiện nay, Nhà nước cần xem xét, sửa đổi bổ sung
và xây dựng lại hệ thống các văn bản pháp luật, cơ
chế, chính sách cho đồng bộ, thống nhất và hoàn
thiện phù hợp với cơ chế tài chính của các trường
đại học Ngày 19/11/2018, Quốc hội ban hành Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục
đại học số 34/2018/QH14, các trường đại học công
lập sẽ hoạt động theo cơ chế tự chủ theo quy định
của Luật sửa đổi, trong đó có quy định điều kiện tự
chủ về tài chính Như vậy, các quy định về tài chính
trong các trường đại học công cũng cần phải điều
chỉnh cho phù hợp với tình hình mới để không là
rào cản cho sự nghiệp phát triển giáo dục đại học
trong bối cảnh hiện nay
- KTNN cần được tham gia góp ý với các Bộ,
ngành trong ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật
đối với từng loại hình dịch vụ sự nghiệp công; tiêu
chí phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập; tiêu chí
đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và chất lượng
dịch vụ của đơn vị theo ngành, lĩnh vực; hệ thống
tiêu chuẩn chức danh những người làm việc trong
đơn vị sự nghiệp công lập
- Ngoài ra, các biểu mẫu của KTNN khi kiểm
toán nên thiết kế phù hợp với chế độ kế toán của
các trường đại học đang áp dụng nhằm giúp đơn vị
được kiểm toán cung cấp số liệu được thuận lợi và
giảm áp lực công việc so với khối lượng công việc
và thời gian thực hiện
trò của KTNN đối với cải cách quản lý tài chính trong các trường đại học công lập Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, công tác quản lý tài chính các trường đại học bị chi phối rất nhiều văn bản pháp
lý quy định, việc hoàn thiện, thống nhất và đồng
bộ các văn bản nhằm giúp các trường đại học vận hành thông suốt trên nền tảng pháp lý thống nhất
là một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra hiện nay
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội;
2 Luật Kiểm toán nhà nước số 81/2015/ QH13 ngày 24/6/2015 của Quốc hội;
3 Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 24/6/2015 của Quốc hội;
4 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học số 34/2018/QH14 ngày 19/11/2018 của Quốc hội;
5 Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp công lập;
6 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập;
7 Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ về Doanh nghiệp khoa học công nghệ;
8 Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ về chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần;
9 Quyết định số 01/2016/QĐ-KTNN ngày 20/6/2016 của KTNN về ban hành quy chế
tổ chức và hoạt động của Đoàn KTNN;
10 Tạp chí Cộng sản số ra ngày 16/6/2009:
“Vai trò của KTNN trong việc nâng cao hiệu lực quản lý chi tiêu công” - Bài viết của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ.
Ngày nhận bài: 30/5/2019 Ngày duyệt đăng: 3/6/2019