Để góp phần phát huy kết quả đạt được, tránh sự mơ hồ trong nhận thức, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh, cần phải đổi mới cách đánh giá. Xây dựng những tiêu chí cụ thể, rõ ràng về chuẩn mực đạo đức phù hợp với lứa tuổi học sinh ở từng bậc khác nhau.
Trang 1TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI ĐẠO ĐỨC HỌC SINH PHỔ THÔNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
NGUYỄN LƯƠNG BẰNG (*)
TÓM TẮT
Trong bối cảnh hiện nay, việc giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông đã đạt một số kết quả bước đầu, nhưng sự xuống cấp đạo đức của học sinh ở các trường phổ thông rất đáng lo ngại Để góp phần phát huy kết quả đạt được, tránh sự mơ hồ trong nhận thức, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh, cần phải đổi mới cách đánh giá Xây dựng những tiêu chí cụ thể, rõ ràng về chuẩn mực đạo đức phù hợp với lứa tuổi học sinh ở từng bậc khác nhau Các chuẩn mực đó phải được quy thành thang điểm cho học sinh tự đánh giá, sau đó đưa ra lớp xếp loại Đánh giá từng học sinh đảm bảo khách quan, công bằng, minh bạch, làm cho học sinh ý thức được chuẩn mực đạo đức và
tự điều chỉnh hành vi đạo đức của mình theo tiêu chí đã đề ra
ABSTRACT
In the present context, Moral education for pupils in secondary and high schools has achieved some initial results, but moral decadence of pupils in schools is alarming To contribute a part in development of the achieved results, to avoid ambiguousness in their awareness and to improve quality of moral education for pupils step by step, method of assessment should be innovated Detailed and clear criteria on Morality standards which are suitable with their ages at different education levels should also be constructed These standards should be converted into score for pupil’s self-assessment, and then they will be graded in classrooms Assessment for each pupil should be guaranteed its objectiveness, justice, evidence with the amine of making pupil to aware Morality standard and adjust their moral actions according to the proposed criteria
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA “TIÊU CHÍ ĐẠO
ĐỨC HỌC SINH PHỔ THÔNG” (*)
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội,
là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc,
chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và
đánh giá cách ứng xử của con người trong
quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội
Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá
nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư
luận xã hội
Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan
(*) PGS TS, Trường Đại học Vinh
niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng, danh dự, lòng
tự trọng, ước mơ, ý chí, lí tưởng và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân và xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội Đạo đức mang tính lịch sử Nó được điều chỉnh cùng với sự phát triển của xã hội theo những tiêu chuẩn, nguyên tắc, được dư luận xã hội thừa nhận Đạo đức khác với pháp luật Pháp luật là những quy phạm hành vi do Nhà nước ban hành mà mọi người dân buộc phải tuân theo, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo
Trang 2vệ trật tự xã hội Đạo đức cùng với pháp
luật là công cụ giữ vững kỉ cương xã hội
Đạo đức thường không thiên về quy định
các hành vi cụ thể, còn pháp luật chú trọng
việc quy định các hành vi cụ thể Đạo đức
thường được thể hiện dưới hình thức niềm
tin, lí tưởng, các nguyên tắc, quy tắc chung
nhằm định hướng tinh thần giúp các thành
viên xã hội tự điều chỉnh hành vi Đạo đức
và pháp luật thống nhất ở mục đích, ở định
hướng nhưng khác nhau về hình thức biểu
hiện Đạo đức thường biểu hiện những tiêu
chuẩn cao của xã hội, gắn liền với những lí
tưởng để hoàn thiện con người và xã hội
loài người Nó còn chứa đựng những yếu
tố truyền thống, phong tục, tập quán địa
phương đã nâng lên thành những yêu cầu
Cho nên, đạo đức còn mang tính địa
phương cục bộ
Pháp luật được thực hiện bằng các biện
pháp cưỡng chế, còn đạo đức được thực
hiện chủ yếu bằng biện pháp giáo dục,
thuyết phục, lương tâm con người và dư
luận xã hội Có thể nói, pháp luật là yêu
cầu đạo đức tối thiểu, còn đạo đức là yêu
cầu đạo đức tối đa
2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CỦA “TIÊU
CHÍ ĐẠO ĐỨC HỌC SINH PHỔ
THÔNG”
Qua các giai đoạn lịch sử dù có điều
chỉnh, bổ sung như thế nào, nhưng cốt lõi
những giá trị đạo đức của con người Việt
Nam trong lịch sử được đa số các nhà khoa
học thừa nhận là “lòng yêu nước nồng nàn,
ý chí tự cường dân tộc; tinh thần đoàn kết,
ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình
– làng xã - tổ quốc; lòng nhân ái, khoan
dung, trọng nghĩa tình, đạo lí; đức tính cần
cù, sáng tạo trong lao động; tinh tế trong
ứng xử, giản dị trong lối sống”(1), đều
được các thế hệ Việt Nam kế thừa và phát
huy, bổ sung thêm những nội dung mới
Trong bối cảnh hiện nay để đáp ứng những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, tiêu chí đạo đức con người Việt Nam phải đạt được là: “Có tinh thần yêu nước,
tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên
để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong
sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu
vì lợi ích chung
Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỉ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái
Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kĩ thuật, sáng tạo, năng suất cao
vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và
xã hội
Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm
mĩ và thể lực”(2)
Trên cơ sở những tiêu chí về đạo đức của con người mới mà Đảng cộng sản Việt Nam đã định hướng, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cụ thể hoá những nội dung đó bằng các thông tư, quy định, quy chế chỉ đạo các trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông xếp loại hạnh kiểm học sinh theo những chuẩn mực khác nhau Đối với học sinh tiểu học, giáo viên đánh giá đạo đức học sinh dựa vào kết quả rèn luyện đạo đức và kĩ năng sống qua việc thực hiện 5 nhiệm vụ:
- Thực hiện đầy đủ và có kết quả học tập; chấp hành nội quy nhà trường; đi học đều và đúng giờ; giữ gìn sách vở và đồ dùng học tập
- Hiếu thảo với cha mẹ, ông bà; kính
Trang 3trọng, lễ phép với thầy giáo, cô giáo,
nhân viên và người lớn tuổi; đoàn kết,
thương yêu, giúp đỡ bạn bè và người có
hoàn cảnh khó khăn
- Rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh cá
nhân
- Tham gia các hoạt động tập thể trong và
ngoài giờ lên lớp; giữ gìn, bảo vệ tài sản
nơi công cộng; tham gia các hoạt động
bảo vệ môi trường; thực hiện trật tự an
toàn giao thông
- Góp phần bảo vệ và phát huy truyền
thống của nhà trường và địa phương”(3)
Dựa trên những tiêu chí đó, giáo viên
xếp hạnh kiểm học sinh vào cuối kì I và
cuối năm học theo 2 loại: Thực hiện đầy đủ
và thực hiện chưa đầy đủ Từ đó, giáo viên
có kế hoạch phối hợp với gia đình học sinh
để có giải pháp giáo dục học sinh Cách
xếp loại học sinh như vậy là chung chung,
chưa sát với thực tiễn của hoàn cảnh từng
em và ít có tác dụng định hướng cho các
em hành động đúng chuẩn mực, sửa chữa
khuyết điểm, rèn luyện và phấn đấu vươn
lên Học sinh Trung học cơ sở và học sinh
Trung học phổ thông được xếp cùng một
tiêu chí, căn cứ vào biểu hiện cụ thể về thái
độ và hành vi đạo đức; ứng xử trong mối
quan hệ với thầy giáo, cô giáo, với bạn bè
và quan hệ xã hội; ý thức phấn đấu vươn
lên trong học tập; kết quả tham gia lao
động, hoạt động tập thể của lớp, của trường
và hoạt động xã hội; rèn luyện thân thể, giữ
gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường Từ đó,
hạnh kiểm của học sinh được xếp thành 4
loại: tốt, khá, trung bình, yếu sau khi kết
thúc học kì, năm học Việc xếp loại hạnh
kiểm cả năm học chủ yếu căn cứ kết quả
xếp loại hạnh kiểm học kì 2
Trong đó loại “tốt” có 6 tiêu chí:
a) Luôn kính trọng người trên, thầy
giáo, cô giáo, cán bộ và nhân viên nhà trường; thương yêu và giúp đỡ các em nhỏ tuổi; có ý thức xây dựng tập thể, đoàn kết với các bạn, được các bạn tin yêu
b) Tích cực rèn luyện phẩm chất đạo đức, có lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị, khiêm tốn
c) Hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ học tập, cố gắng vươn lên trong học tập d) Thực hiện nghiêm túc nội quy nhà trường; chấp hành tốt luật pháp, quy định
về trật tự, an toàn xã hội, an toàn giao thông; tích cực tham gia đấu tranh, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và tiêu cực trong học tập, kiểm tra, thi cử
đ) Tích cực rèn luyện thân thể, giữ gìn
vệ sinh và bảo vệ môi trường
e) Tham gia đầy đủ các hoạt động giáo dục quy định trong kế hoạch giáo dục, các hoạt động chính trị, xã hội do nhà trường tổ chức; tích cực tham gia các hoạt động của Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; chăm lo giúp đỡ gia đình.(4)
Trong 5 tiêu chí xếp loại yếu cho học sinh THCS và THPT, thì tiêu chí đ (Đánh bạc; vận chuyển, tàng trữ, sử dụng ma tuý,
vũ khí, chất nổ, chất độc hại; lưu hành văn hoá phẩm độc hại, đồi truỵ hoặc tham gia
tệ nạn xã hội), thuộc ngoại diện của phạm trù pháp luật Theo chúng tôi, cần loại bỏ tiêu chí này ra khỏi tiêu chí đánh giá đạo đức cho học sinh THCS và THPT
Tiêu chí xếp loại đạo đức của học sinh phổ thông như trên đã có sự đồng tâm, thống nhất, liên thông với nhau Các tiêu chí của học sinh THCS và THPT đã kế thừa được những yếu tố tích cực của 5 tiêu chí đánh giá đạo đức học sinh tiểu học và nâng lên một trình độ mới để vươn tới những tiêu chí của con người mới mà Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định Tuỳ tình
Trang 4hình cụ thể của các trường, phong tục, tập
quán, truyền thống của từng địa phương
mà các trường vận dụng sáng tạo, bổ sung
nội dung mới thích hợp với bối cảnh thực
tại Làm được như vậy là từng bước vươn
tới những nấc thang mà Đảng cộng sản
Việt Nam đã đề ra trong tiêu chuẩn của con
người mới xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, thực tiễn diễn ra vô cùng
phức tạp Thời gian qua, đối với thanh
thiếu niên, học sinh phổ thông, “lối sống
thực dụng, vụ lợi, vị kỉ, thích hưởng lạc, sa
đoạ; cái xấu, cái ác, phi nhân tính có dấu
hiệu tăng lên rõ rệt Môi trường đạo đức và
văn hoá lành mạnh bị đe doạ nghiêm trọng,
có nguy cơ khủng hoảng tinh thần, mất
phương hướng lựa chọn các giá trị, lối
sống và niềm tin của một bộ phận công
chúng Tình trạng đó đã và đang ảnh
hưởng trực tiếp đến trật tự, an toàn, an ninh
xã hội, dẫn tới khuynh hướng tự diễn biến
về chính trị, tư tưởng, tác hại lâu dài đến
các thế hệ mai sau”(5) Thực trạng đó,
ngoài những nguyên nhân khách quan làm
cho đạo đức của học sinh phổ thông xuống
cấp như “Môi trường văn hoá bị xâm hại,
lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần
phong mĩ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm
và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch
vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là
trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo
ngại”(6)… còn có nguyên nhân cực kì quan
trọng là sự thiếu quan tâm giáo dục của gia
đình, phương pháp đánh giá đạo đức của
học sinh mà các trường phổ thông đã và
đang sử dụng là lạc hậu, ít hiệu quả Nền
giáo dục cách mạng ra đời đã hơn 50 năm,
xã hội Việt Nam đã có những bước tiến
vượt bậc, nhiều giá trị của con người đã đổi
mới, tuy phương pháp đánh giá đạo đức
học sinh trong trường phổ thông hơn nửa thế kỉ nay có thay đổi chút ít nhưng chưa đem lại hiệu quả cao Điều đó làm cho học sinh lúng túng, không định hướng được những tiêu chí cụ thể về đạo đức, không ý thức được hành động như thế nào là xấu, như thế nào là tốt
Quá trình chỉ đạo thực hiện ở các trường phổ thông hơn 50 năm qua theo những cách thức, phương pháp khác nhau, nên kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh cũng rất khác nhau Tập thể giáo viên có trình độ, kinh nghiệm không đồng đều Trong các trường phổ thông xảy ra 2 tình trạng đánh giá học sinh mâu thuẫn nhau:
thứ nhất, giáo viên chủ nhiệm thường "nới
tay", thông cảm với học sinh, phần lớn các
em đều được xếp loại hạnh kiểm: tốt và khá, em nào quá đáng lắm mới bị trung bình Có những em xếp loại học lực yếu
nhưng hạnh kiểm được xếp loại tốt? Thứ hai, có những lớp giáo viên chủ nhiệm
nhìn nhận, đánh giá học sinh quá khắt khe, không toàn diện, siêu hình, theo kiểu chụp
mũ, thầy bói xem voi, nhìn một cành khô lá
úa mà đánh giá cả cánh rừng không xanh, làm cho học sinh thiệt thòi, bi quan, triệt tiêu động lực học tập
3 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ ĐẠO ĐỨC CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG HIỆN NAY
Để khắc phục những nhược điểm trên, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh về rèn luyện đạo đức, trong khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa thay đổi nội dung đánh giá đạo đức của học sinh, theo chúng tôi các trường cần thay đổi cách đánh giá đạo đức của học sinh phổ thông theo phương pháp sau:
Trang 5Đối với học sinh tiểu học
HS tự đánh giá
Lớp đánh giá
1 Thực hiện đầy đủ và có kết quả học tập; chấp hành nội quy
nhà trường; đi học đều và đúng giờ; giữ gìn sách vở và đồ
dùng học tập
25
2 Hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, kính trọng, lễ phép với thầy
giáo, cô giáo, nhân viên và người lớn tuổi; đoàn kết, thương
yêu, giúp đỡ bạn bè và người có hoàn cảnh khó khăn
20
3 Có ý thức rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh cá nhân 15
4 Tham gia các hoạt động tập thể trong và ngoài giờ lên lớp;
giữ gìn, bảo vệ tài sản nơi công cộng; tham gia các hoạt
động bảo vệ môi trường; thực hiện trật tự an toàn giao thông
20
5 Góp phần bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường
và địa phương
20
Trong năm tiêu chí đánh giá đạo đức
học sinh tiểu học thì tiêu chí thứ nhất
phải đạt điểm cao nhất, vì đạt được tiêu
chí này sẽ góp phần hoàn thành tốt các tiêu chí khác
Đối với học sinh THCS và học sinh THPT
HS tự đánh giá
Lớp đánh giá
1 Luôn kính trọng người trên, thầy giáo, cô giáo, cán bộ và
nhân viên nhà trường; thương yêu và giúp đỡ các em nhỏ
tuổi; có ý thức xây dựng tập thể, đoàn kết với các bạn,
được các bạn tin yêu;
25
2 Tích cực rèn luyện thân thể, có lối sống lành mạnh, trung
thực, giản dị, khiêm tốn, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi
trường
15
3 Hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ học tập, cố gắng vươn lên
trong học tập
25
4 Thực hiện nghiêm túc nội quy nhà trường; chấp hành tốt
luật pháp, quy định về trật tự, an toàn xã hội, an toàn giao
thông; tích cực tham gia đấu tranh, phòng chống tội phạm,
tệ nạn xã hội và tiêu cực trong học tập, kiểm tra, thi cử
20
Trang 6TT Nội dung đánh giá Điểm tối đa
HS tự đánh giá
Lớp đánh giá
5 Tham gia đầy đủ các hoạt động giáo dục quy định trong
Kế hoạch giáo dục, các hoạt động chính trị, xã hội do nhà
trường tổ chức; tích cực tham gia các hoạt động của Đội
Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh; chăm lo giúp đỡ gia đình
15
Trong 5 tiêu chí trên, nội dung nào
cũng quan trọng Tuy nhiên, đối với học
sinh THCS và học sinh THPT thì vấn đề
học tập và tiếp thu giá trị truyền thống
được đặt lên hàng đầu Vì vậy, tiêu chí 1 và
3 phải được xếp vào điểm cao nhất Đánh
giá đạo đức học sinh nên giãn ra thành 5
bậc như trước đây: tốt, khá, trung bình,
yếu và kém
4 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ ĐẠO
ĐỨC HỌC SINH PHỔ THÔNG
Phương pháp đánh giá bằng cách chấm
điểm
Từ 80 điểm trở lên xếp loại tốt, nếu
thực hiện được các nội dung 1,2,3,4,5
Từ 70 đến 79 điểm loại khá, thực hiện
được các nội dung 1,2,3,4,5 đôi khi có
thiếu sót nhỏ nhưng sửa chữa ngay khi thầy
giáo, cô giáo và các bạn góp ý
Từ 60 đến 69 điểm loại trung bình, có
một số khuyết điểm trong việc thực hiện
các nội dung 1,2,3,4,5
Từ 50 đến 59 điểm loại yếu, có một số
khuyết điểm trong việc thực hiện các nội
dung 1,2,3,4,5 nhưng mức độ chưa nghiêm
trọng; sau khi được nhắc nhở, giáo dục đã
tiếp thu sửa chữa nhưng tiến bộ còn chậm
Dưới 50 điểm loại kém
- Có sai phạm hoặc lặp lại nhiều lần
trong việc thực hiện các nội dung
1,2,3,4,5 được giáo dục nhưng chưa sửa
chữa
- Vô lễ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể của giáo viên, nhân viên nhà trường
- Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi cử
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn hoặc của người khác; đánh nhau, gây rối trật tự, trị an trong nhà trường hoặc ngoài xã hội
Trong mỗi nội dung, giáo viên có thể chia nhỏ ra từng vấn đề và bổ sung thêm một số nội dung chi tiết về truyền thống, bản sắc đạo đức từng vùng, miền để cho điểm sát hơn Sau mỗi học kì, cha mẹ học sinh phải nhận được 01 bản nhận xét khổ A4 với những nội dung trên do nhà trường gửi tới Cách đánh giá như vậy mới có tác dụng nhắc nhở, răn đe học sinh, đảm bảo chính xác, công bằng, khách quan, dân chủ
và minh bạch Việc đánh giá, xếp loại đạo đức học sinh phổ thông góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nhân cách, đạo đức, lối sống của con người Việt Nam thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, bảo vệ và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1).(2) Đảng Cộng Sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ V – BCH TW Đảng khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.56 tr58-59
(3) Quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học (Ban hành theo thông tư số 32/2009/TT-BGDDT ngày 27 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)
(4) Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông (Ban hành theo Quyết định số: 40/2006/QĐ-BGDDT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
(5) Đảng Cộng Sản Việt Nam (2010), chỉ thị của Ban bí thư về chống xâm nhập của các sản phẩm văn hoá độc hại gây huỷ hoại đạo đức xã hội, Hà Nội, ngày 27 tháng 7 năm
2010, tr.1
(6) Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.169