Thời gian nghệ thuật được xây dựng ở hai kiểu: Thời gian tự nhiên và thời gian siêu tự nhiên. Không gian nghệ thuật được miêu tả gồm không gian thực và không gian huyền ảo. Sự đa dạng và đan xen giữa thời gian và không gian trong tác phẩm tạo nên một thế giới nghệ thuật sinh động, hấp dẫn.
Trang 1TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 6 - Tháng 6/2011
THỜI GIAN – KHƠNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG THÁNH TƠNG DI THẢO
TĨM TẮT
Thời gian nghệ thuật – khơng gian nghệ thuật trong Thánh Tơng di thảo là một phương tiện vừa thể hiện nội dung, vừa thể hiện bút pháp nghệ thuật độc đáo của tác giả Thời gian nghệ thuật được xây dựng ở hai kiểu: thời gian tự nhiên và thời gian siêu tự nhiên Khơng gian nghệ thuật được miêu tả gồm khơng gian thực và khơng gian huyền ảo
Sự đa dạng và đan xen giữa thời gian và khơng gian trong tác phẩm tạo nên một thế giới nghệ thuật sinh động, hấp dẫn
ABSTRACT
Time and space in Thanh Tong’s Works (Thanh Tong Di Thao) is an artistic means showing the content and original style of writing of the writer
In this masterpiece, time can be seen as both natural and supernatural and space as both real and visionary The diversity and interlacement of time and space in the writings have created a lively and attractive world of art
(*)
1 Lê Thánh Tơng để lại một lượng
tác phẩm khá đồ sộ, được viết bằng cả chữ
Hán và chữ Nơm với nhiều thể loại khác
nhau Tác phẩm văn xuơi tiêu biểu của ơng
là tập Thánh Tơng di thảo gồm 19 truyện (1)
(Căn cứ vào nội dung, bút pháp, và các địa
danh trong tập truyện, một số nhà nghiên
cứu cho rằng cĩ truyện khơng phải do Lê
Thánh Tơng viết (2)) Đây là tập truyện
truyền kì xuất sắc nhất trước Truyền kì mạn
lục của Nguyễn Dữ Cĩ thể thấy trong rất
nhiều phương diện thành cơng về thi pháp
tập truyện, khơng gian - thời gian là một
phương diện nổi bật Khơng gian, thời gian
ở đây, “vừa là phương diện của đề tài, vừa là
một trong những nguyên tắc cơ bản để tổ
chức tác phẩm” (3)
Thời gian – khơng gian
trong Thánh Tơng di thảo được tác giả xây
Đồng Tháp
dựng như một phương tiện để thể hiện ý đồ nghệ thuật Thời gian – khơng gian qua cách thể hiện của tác giả vừa gĩp phần thể hiện nội dung tác phẩm, vừa thể hiện bút pháp nghệ thuật của tác giả
2 Thời gian trong Thánh Tơng di thảo
chủ yếu được xây dựng ở hai kiểu: thời gian tự nhiên và thời gian siêu tự nhiên
2.1 Thời gian tự nhiên là thời gian
luân chuyển của tạo hố: xuân, hạ, thu, đơng; là thời gian sinh mệnh của mỗi cá nhân, là thời gian của các sự kiện, cĩ thể
đo đếm được: sáng, trưa, chiều, tối, ngày, tháng, năm; là thời gian hưng vong của lịch
sử qua các triều đại; là thời gian mà con người cĩ thể nhìn thấy được, cảm nhận được thơng qua các tín hiệu tự nhiên Tác giả văn học trung đại thường thể hiện thời gian theo trật tự xuơi chiều, thời gian tuyến tính Hầu hết ở các truyện trong
Thánh Tơng di thảo, thời gian đều được thể
Trang 2hiện theo trật tự tuyến tính Điều này bị chi
phối bởi nguyên tắc cảm thụ thế giới và tư
duy nghệ thuật chưa phát triển cao của văn
học trung đại Thời gian trong truyện
không có sự xáo trộn hay xen kẽ trật tự quá
khứ, hiện tại, tương lai Các sự việc được
kể nối tiếp nhau theo dòng thời gian
Chẳng hạn như ở Truyện chồng dê, sau khi
mẹ mất, người con gái hiếu thảo ở làng
Thanh - Khê đã lo ma chay và hương khói
cho mẹ rất chu đáo Trong suốt ba năm, cô
không muốn kết duyên cùng ai Khi hết
tang mẹ cô buồn rầu nghĩ phận gái rồi cũng
phải theo chồng, lúc đó ai sẽ là người thờ
phụng mẹ Sau đó gặp chàng đánh xe hoá
dê, cô đồng ý kết duyên Hai người trải qua
nhiều khó khăn trở ngại nhưng cuối cùng
được sống hạnh phúc bên nhau Ở truyện
Hai Phật cãi nhau, câu chuyện được “ta”
thuật lại với trật tự trước sau rõ ràng:
“Ngày hai bảy tháng tám nước rút Ta đi
thuyền xem xét nơi nào bị thiệt hại thì chẩn
cấp cho dân Buổi chiều đến bến đò Vân
Giang… Ta buộc thuyền rồi nằm ngủ Đến
canh ba, bốn bên im lặng như tờ… ta đẩy
cửa trông vào…”
Trong Thánh Tông di thảo, thời
gian đêm tối là phổ biến nhất Đêm tối là
gam màu nổi bật góp phần tạo nên tính kì
ảo cho thời gian tự nhiên trong truyện
Đêm tối là thời gian tự nhiên, thời gian sự
kiện nhưng tự thân nó đã chứa đựng yếu tố
kì ảo Dù không mê tín nhưng trong tâm
linh con người vẫn tin rằng có một thế giới
khác đang tồn tại cùng với bao điều bí ẩn
Thế giới ấy đặc biệt sống động khi màn
đêm buông xuống Trong đêm trăng, sáng
nữ yêu tinh biến hiện nhiều hình thù quái
gở khiến mọi người kinh sợ (Truyện yêu nữ
Châu Mai) Trong đêm thanh vắng, hai
Phật cãi nhau, Phật Thích Ca say lảo đảo
bước ra phân xử (Hai Phật cãi nhau) Thời
gian đêm tối gắn với giấc mộng của Chu
Sinh trong truyện Duyên lạ nước Hoa, hay giấc mộng Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc, giấc
ngủ nửa đêm trên cầu Ninh Chức sông Hát Giang, chàng học trò nghèo đến thuỷ phủ gặp lại ông tổ Tam Đại Cũng trong đêm tối, Tử Khanh vào miếu ngủ tình cờ gặp lại người anh, nhờ đó mà thi đậu Có thể nói, thời gian đêm tối trong các truyện của
Thánh Tông di thảo chính là một dụng ý
nghệ thuật của tác giả Có những truyện, nếu không phải là thời gian đêm tối thì các tình huống truyện sẽ không thể diễn ra theo đúng ý đồ nghệ thuật của tác giả Chẳng
hạn, trong Hai Phật cãi nhau, chính thời
điểm “canh ba, lúc bốn bên im lặng như tờ, mọi người đều say ngủ”, thì các Phật mới xuất hiện và cãi nhau Cũng trong đêm tối, tinh chuột mới giả dạng người chồng làm
chuyện gian dâm (Truyện Tinh chuột)
Trong đêm trăng thanh gió mát, “ta” gặp
được tiên thổi địch (Gặp tiên ở hồ Lãng
Bạc),… Sự xuất hiện của thời gian đêm tối
trong Thánh Tông di thảo là khá phổ biến,
nhất là trong những truyện có yếu tố kì ảo Bởi vì đêm tối là thời gian thích hợp cho những sự lạ Đêm tối cũng làm tăng thêm tính li kì, hấp dẫn cho câu chuyện Thời gian đêm tối là đặc trưng của những truyện truyền kì Đó cũng là điều kiện để tạo nên tính kì ảo của thời gian nghệ thuật
Tuy nhiên trong Thánh Tông di thảo
không chỉ có thời gian đêm tối Ở các truyện khác tác giả cũng miêu tả thời gian theo các mùa, hay thời gian sinh mệnh của
một đời người Trong Truyện người hành
khất giàu, thời gian được kể là thời gian
của cả một đời người Hoặc trong một số
Trang 3truyện khác, thời gian thực thường được đo
bằng các đại lượng: ngày “ngày hai mươi
bảy tháng tám” trong Hai Phật cãi nhau;
tháng “cách hai tháng sau” trong Một dòng
chữ lấy được gái thần; năm “mười năm,
hai năm, một năm” trong các truyện Yêu
nữ Châu Mai, Duyên lạ nước hoa,… Thời
gian chủ yếu được cấu trúc theo trật tự
tuyến tính Theo đó, câu chuyện được kể
theo một trật tự trước sau Trong nhiều
truyện tác giả còn nêu thông tin về thời
gian rất cụ thể: “Hồi ấy là năm thứ tư, niên
hiệu Thuận Thiên” – Hai gái thần, “Cuối
niên hiệu Nguyên Phong đời nhà Trần” –
Truyện Yêu nữ Châu Mai, “năm quý Tị lụt
to” – Hai Phật cãi nhau,… Điều này càng
làm tăng thêm tính xác thực cho câu
chuyện được kể Thời gian tự nhiên của
Thánh Tông di thảo được miêu tả giống
như kiểu thời gian phổ biến của văn học
trung đại
2.2 Thời gian siêu tự nhiên được thể
hiện là thời gian tiên cảnh, thời gian dưới
thuỷ phủ, là thời gian của một thế giới
khác Thời gian siêu tự nhiên chủ yếu xuất
hiện cùng với không gian ảo tạo nên một
thế giới nghệ thuật chỉ có ở những truyện
có tính chất truyền kì Thời gian siêu tự
nhiên không tính bằng đại lượng đo thời
gian thông thường (giây, phút, giờ, ngày,
tháng, năm…) mà được tính bằng cái chớp
mắt (Chuyện lạ nhà thuyền chài), tính bằng
một giấc mộng (Duyên lạ nước hoa, Bài kí
giấc mộng), hoặc một năm tính bằng mười
năm (Truyện chồng dê), tính bằng giáp hoa
– một giáp hoa là 60 năm (Hai gái thần)
Đây cũng là một kiểu phi thời gian
Thời gian dưới thuỷ phủ, thời gian
ở cõi tiên là những hình tượng đậm chất kì
ảo, khác hẳn với thời gian của cõi trần thế
Thời gian của thuỷ phủ hay của cõi tiên gắn liền với cuộc sống giàu sang sung túc,
mà ở đó nhân vật thoả ước nguyện, sống trong vinh hoa phú quý mà nếu ở cõi trần
họ không bao giờ có được Thời gian cõi tiên và cõi trần có một sự khác biệt khá lớn Đó cũng là sự khác biệt giữa mộng và thực Chàng Chu Sinh ngoài đời thực thì nghèo xơ xác nhưng trong giấc mộng chàng lại là con rể của Quốc mẫu, phò mã Hoa quốc; chàng học trò nghèo ở Vũ Ninh cũng vậy
Thời gian siêu tự nhiên luôn tồn tại cùng với không gian kì ảo để tạo nên một thế giới huyền ảo mà ở đó nhân vật có thể cùng tồn tại hai cuộc đời song song ở hai kiểu thời gian hay hai thế giới khác nhau Trong một số truyện, thời gian tự nhiên và thời gian siêu tự nhiên có sự khác biệt với nhau nhưng phần lớn là chúng tiếp nối nhau trong cuộc đời nhân vật Chu Sinh sống trong thế giới ở Hoa quốc khi nằm mộng Thời gian ở Hoa quốc được tiếp diễn cùng với thời gian tự nhiên ngoài đời
Đó là việc Chu Sinh gặp lại Đồng Nhân theo lời dặn của Mộng Trang Sau đó, Đồng Nhân sinh con trai, Chu Sinh thấy giống hệt đứa con của Mộng Trang khi ở Hoa quốc Chu sinh ngạc nhiên “bấm đốt ngón tay, tính đúng ra cũng đã hai mươi sáu tháng” Trong các truyện khác như
Người trần ở thuỷ phủ, Một dòng chữ lấy được gái thần, Gặp tiên ở hồ Lãng Bạc,…đều có sự đan xen thời gian như thế
Thời gian trong Thánh Tông di thảo
không chỉ là một đại lượng vật lí mà cùng với không gian nghệ thuật, nó góp phần tạo nên một thế giới nghệ thuật kì ảo, nhất là trong những truyện có tính chất truyền kì
3 Tồn tại song song với thời gian nghệ
Trang 4thuật là không gian nghệ thuật Không gian
nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian,
nên mang tính chủ quan, ngoài không gian
vật thể, có không gian tâm tưởng Do vậy,
không gian nghệ thuật có tính độc lập
tương đối, “không quy được vào không
gian địa lí” hay “không gian như một nhân
tố nghệ thuật của truyện” với các loại
“không gian bối cảnh, không gian sự kiện,
không gian tâm lí và không gian kể
chuyện”(4) Mở rộng hơn, Lại Nguyên Ân
trong 150 thuật ngữ văn học cho rằng:
“không gian nghệ thuật là “phẩm chất định
tính quan trọng của hình tượng nghệ thuật,
đảm bảo cho việc tiếp nhận toàn vẹn thực
tại nghệ thuật và tổ chức kết cấu của tác
phẩm”(5) Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh
vai trò của không gian trong chỉnh thể tác
phẩm Nó mang tính chủ quan và dấu ấn
sáng tạo của nhà văn Như vậy, không gian
trong tác phẩm là không gian mang tính
nghệ thuật, được cấu trúc một cách có hiệu
quả theo ý thức sáng tạo của tác giả Cùng
với những yếu tố khác, không gian kiến tạo
nên một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh
Trong những truyện có tính chất truyền kì,
không gian đóng một vai trò vô cùng quan
trọng, nó góp phần tạo ra khung cảnh, môi
trường hoạt động cho nhân vật
Không gian trong Thánh Tông di thảo
mang những đặc trưng riêng rất độc đáo
Không gian được miêu tả chủ yếu là không
gian thực và không gian huyền ảo
3.1 Không gian thực là môi trường để
nhân vật hoạt động, là không gian bối cảnh
của câu chuyện Mỗi câu chuyện đều xảy ra
trong một bối cảnh không gian cụ thể
Không gian thực được xác định bằng không
gian sinh sống của nhân vật Đó là nhà hát,
nơi yêu nữ hiện hình thành người con gái
đẹp, làm chốn nương thân để chờ chồng Từ không gian nhà hát tác giả đã tái hiện một góc hiện thực của xã hội phong kiến Ở đó, thân phận người phụ nữ thật đáng thương khi họ phải chiều chuộng, mua vui cho
“những phường ngoài mặt thì như ngọc vàng mà trong lòng thì như bông nát”
Trong một số truyện khác, đó là túp lều xiêu vẹo của người đàn bà hành khất, là căn nhà nát với “chiếc giường và nửa manh chiếu rách” nơi Chu Sinh thường ngủ trước khi
“nhập mộng”
Một không gian khác thường thấy
trong Thánh Tông di thảo đó là chốn miếu mạo, đền chùa (Hai phật cãi nhau, Hai
thần hiếu đễ) Ở đây không phải là nơi sinh
sống của con người mà là nơi thờ cúng Thần, Phật theo tín ngưỡng dân gian
Trong một ngôi chùa đổ nát, Phật gỗ và Phật đất cãi nhau tranh giành lợi lộc, Thần Phật còn như thế huống nữa là người Kì thực, các Phật chẳng khác gì những kẻ tham lam, khoác lác Trong một ngôi miếu giữa đồng, Tử Khanh thấy có năm vị thần bày hoa quả, bánh trái ngồi quây quần uống rượu làm thơ Đằng sau cái bài vị trên bàn thờ, các thần cũng tụ họp và say sưa chẳng khác gì dân thường Nếu trong các
truyện của Lĩnh nam chích quái và Việt
điện u linh, con người thường được “thần
thánh hoá” thì trong Thánh Tông di thảo,
Lê Thánh Tông lại “người hoá” các vị thần
Như vậy, không gian thực thường thấy
xuất hiện trong Thánh Tông di thảo là
không gian “ngôi nhà”: nhà hát trong
truyện Yêu nữ Châu Mai; nhà - túp lều của người đàn bà ăn mày trong truyện người
hành khất giàu; nhà - nơi Chu Sinh nằm
mộng trong Duyên lạ nước hoa, nhà - chùa, miếu nơi thờ cúng trong Hai Phật
Trang 5cãi nhau, Hai thần hiếu đễ Trong mỗi
ngôi nhà ấy, tác giả đã gợi ra một không
gian riêng biệt nhưng chúng đều mang nét
chung của không gian trong tác phẩm:
ngôi nhà là nơi các nhân vật sinh sống, nơi
họ sống một cuộc đời thực Ở mỗi không
gian “nhà” tác giả đã tạo ra những dấu ấn
riêng phù hợp với từng loại người Nhà
hát, chốn vui chơi đầy lạc thú thì đông vui
nhộn nhịp, đủ mọi loại người lui tới; nhà
của anh học trò thì nghèo nàn, rách nát;
nhà của người ăn mày thì chỉ là một túp
lều tạm; nhà gắn với không gian thờ cúng
thì tuỳ theo đối tượng được thờ mà sự mô
tả sẽ khác nhau
Trong Thánh Tông di thảo lại có kiểu
không gian thực cụ thể hơn “nhà”, đó là
căn buồng Trong Truyện Tinh chuột, căn
buồng của hai vợ chồng anh học trò trở
thành không gian riêng tư Đó là nơi ân ái
vợ chồng và cũng là nơi diễn ra trò gian
dâm của tinh chuột trong lốt người Ở
Truyện chồng dê, căn buồng của cô gái lại
là nơi dê trắng trong một đêm hoá thành
một chàng trai “đẹp vô cùng” Ở đó diễn ra
mối tình “người – dê”, một “mối tình đằm
thắm ví với người thường gấp đến mấy
lần” Rải rác trong các truyện Duyên lạ nước
Hoa, Một dòng chữ lấy được gái thần, Người
trần ở thuỷ phủ,… không gian chốn buồng
the cũng được nhắc đến tuy không ở mức độ
đậm nét như trong hai truyện đã nêu Xây
dựng hình tượng không gian trong truyện là
căn buồng, Lê Thánh Tông muốn nói lên
khát vọng thành thực của con người về tình
yêu lứa đôi, về hạnh phúc ân ái vợ chồng
Căn buồng trong nếp sinh hoạt của người
Việt Nam là không gian riêng tư của vợ
chồng Chỉ ở đó người ta mới có thể bày tỏ
và thoả mãn những nhu cầu mang tính nhục
cảm trong quan hệ vợ chồng Căn buồng trở thành một tín hiệu nghệ thuật để tác giả giãi bày khát vọng hạnh phúc của con người trần thế Xã hội phong kiến vốn khắt khe, nói lên được khát vọng chính đáng của con người trong một tác phẩm văn chương vào thời ấy
là không dễ dàng Thông qua không gian nghệ thuật trong tác phẩm, tác giả Lê Thánh Tông đã phần nào bày tỏ được khát vọng mang tính nhân văn sâu sắc Không gian
thực trong Thánh Tông di thảo được thể
hiện tập trung ở ba dạng: không gian ngôi nhà, không gian căn buồng, không gian thờ cúng - chùa, miếu Mỗi kiểu không gian này mang một ý nghĩa nghệ thuật nhất định, và điều quan trọng là chúng làm cho câu chuyện trở nên sinh động, hấp dẫn
3.2 Ngoài không gian thực tạo bối
cảnh cho câu chuyện, Lê Thánh Tông còn dụng công vào một dạng không gian
khác: không gian huyền ảo Huyền ảo, theo Từ điển Tiếng Việt, “Có vẻ vừa như
thực, vừa như hư, như trong giấc mơ, thường tạo nên vẻ đẹp kì lạ và bí ẩn”(6)
Trong Thánh Tông di thảo, không gian
huyền ảo chỉ xuất hiện trong những truyện mang tính chất truyền kì Tính
“không có thật” và “yếu tố hoang đường”
là đặc điểm nổi bật của không gian huyền
ảo Không gian huyền ảo là không gian không có thực Nó có thể đẹp, mơ hồ, kì
bí và cả kì quái nữa Không gian huyền ảo trong những truyện này chủ yếu được xác
định bởi không gian tiên cảnh (Duyên lạ
nước hoa, Ngọc nữ về tay chân chủ, Chuyện lạ nhà thuyền chài) và không gian
thuỷ phủ (Người trần ở thuỷ phủ, Truyện
hai gái thần)
Không gian thực là môi trường để nhân vật “nhập mộng” - nhập vào không gian
Trang 6huyền ảo, nhờ mộng mà nhân vật có thể “đi
mây về gió”, có thể sống nhiều cuộc đời ở
những không gian khác nhau Không gian
mộng là nơi nhân vật sống cuộc đời mình
mơ ước Chu Sinh trong Duyên lạ nước
Hoa, sau một đêm nằm mộng thấy mình
được đưa đến một nơi tuyệt đẹp Nếu trong
thực tế, chàng là kẻ nghèo khó, lại hay bị
người thím nhiếc mắng, bỏ đói thì trong
giấc mộng đến Hoa quốc, chàng được đối
đãi như thượng khách, được Quốc mẫu
nhận làm con rể và cho làm lễ thành hôn
với công chúa Mộng Trang Từ căn nhà
rách nát của cha mẹ chỉ có “chiếc ghế mọt,
một chiếc giường và nửa manh chiếu
rách”, Chu Sinh “nhập mộng” và sống một
cuộc đời thứ hai hoàn toàn khác hẳn với
cuộc đời thực Cứ tới ngày hẹn là Chu Sinh
lại nằm mộng “ba mươi ngày thì mười
ngày nằm mộng” Mỗi lần nằm mộng
chàng lại đến sống trong một không gian
đúng là chỉ có ở trong mơ Nếu không có
những giấc mơ kì lạ ấy có lẽ suốt đời Chu
Sinh cũng chỉ là một anh học trò lười
biếng, nghèo khổ sống trong ngôi nhà nát
cho đến hết đời mà thôi
Cũng nằm mộng như Chu Sinh nhưng
người học trò hay chữ trong truyện Người
trần ở thuỷ phủ không đến cõi tiên mà lại
đến thuỷ phủ Ở nơi suối vàng chàng lại
gặp được ông tổ Tam Đại, nhờ lòng trung
nghĩa mà được làm quan nơi thuỷ phủ Ở
trần thế, chàng học trò nghèo đến nỗi
không lấy nổi vợ Thế mà từ khi xuống
thuỷ phủ chàng có cuộc sống sung túc
Nhờ sự giúp đỡ của người ông, chàng lại
lấy được người con gái mình thương Về
sau, chàng lại còn vinh hiển hơn trước khi
thi đậu và được ra làm quan Bản thân
những giấc mộng đã mang tính kì ảo bởi
những điều trong mơ là những điều không
có thật Thế mà ở đây, các nhân vật thậm chí còn đi về giữa hai không gian thực - cuộc sống và không gian ảo - giấc mơ Trong những giấc mơ của các nhân vật, tác giả đã tạo dựng một không gian kì ảo
Và cũng chính tác giả với trí tượng tượng phong phú, đã giúp cho nhân vật từng bước tiến vào thế giới huyền ảo mơ ước của mình
Trong Truyện lạ nhà thuyền chài,
không gian ảo được tác giả tạo dựng theo một phương thức khác hẳn Chàng Thúc Ngư chán việc học hành bỏ nhà đi đâu cha
mẹ cũng không rõ, “trong khoảng hai ba năm con đi về thế nào cũng mặc” Trong một chuyến đi đánh cá, hai vợ chồng nhà thuyền chài lạc đến một Đảo ấp Lúc ấy, họ mới vỡ lẽ ra là mình đã lạc đến nơi ở của Hải Tiên, nơi con trai mình đã hẹn ước với một nàng học sĩ ở Long cung Phải chăng ở cuộc đời nơi trần thế, Thúc Ngư không thể tìm được người tâm đầu ý hợp nên mới phải đến nơi hải đảo xa xôi để kết duyên cùng một Hải Tiên? Nhưng cũng chính nhờ lấy được Ngoạ Vân mà gia đình của Thúc Ngư mới trở nên giàu có, sống một cuộc đời sung túc Thậm chí khi gặp nạn hồng thuỷ, nhờ Ngoạ Vân hoá phép mà họ được bình an vô sự Tác giả đã xây dựng không gian thực - thế giới hiện thực, tồn tại song song với không gian ảo - thế giới thần tiên Con người đi đến thế giới thần tiên bằng những giấc mộng, như Chu Sinh, như chàng học trò nghèo hoặc bằng thuật rút đường như
vợ chồng thuyền chài Ở truyện Hai thần
hiếu đễ, tác giả lại đưa nhân vật đến cõi âm
bằng một hình thức khác, “cỡi xe mây đi chừng nửa khắc thì tới nơi” Chính sự đa dạng trong cách xây dựng không gian khiến
Trang 7cho không gian huyền ảo trong Thánh Tông
di thảo vì thế mà trở nên đặc biệt hấp dẫn
Không gian huyền ảo có mối quan hệ
mật thiết với không gian thực trong đời
sống của nhân vật Nhân vật sống trong hai
thế giới, hai cuộc đời, đi về giữa hai thế
giới như không hề có ranh giới cách biệt
Không gian huyền ảo trong Thánh Tông di
thảo tạo nên thế giới nghệ thuật đẹp, sống
động, góp phần thể hiện nội dung tư tưởng
của tác phẩm phong phú hơn, sâu sắc hơn
Tác giả miêu tả không gian huyền ảo rất
tinh tế, tạo cho người đọc cảm giác như
không gian ấy tồn tại song song với không
gian thực của con người, chỉ những người
nào có “duyên” mới có cơ hội nhìn thấy
Trong Hai Phật cãi nhau, rõ ràng là ngôi
chùa đổ nát ở bến Vân Giang có bao nhiêu
người đi cùng với “ta” nhưng chỉ mình “ta”
nhìn thấy cảnh các pho tượng Phật to tiếng
cãi nhau như con người Vậy mà khi đẩy
cửa bước vào thì chỉ thấy “hai Phật cùng
Phật Thích Ca đều trơ trơ ba khối đất và gỗ
mà thôi” Chính không gian huyền ảo và
câu chuyện của các Phật là cách để tác giả
bày tỏ quan điểm, thái độ mà bình thường
có thể tác giả không nói ra được Tương tự
như vậy, trong truyện Gặp tiên ở hồ Lãng
Bạc, không gian vừa thực vừa ảo và cuộc
nói chuyện với khách tiên là cái cớ để tác
giả bày tỏ thái độ trước cuộc sống Mọi thứ
vinh hoa phú quý, trân cam trong cuộc
sống nhung lụa của một vị Đông cung đều
là vô nghĩa so với cuộc sống tự do, phóng
khoáng của khách tiên
Không gian huyền ảo trong một số
truyện truyền kì, trở thành một phương tiện
hữu hiệu để tác giả phản ánh hiện thực và
bộc lộ những tư tưởng, tình cảm của mình
Không gian ấy cũng là sự phản chiếu của
không gian sinh hoạt đời thường Không gian tiên cảnh và không gian thuỷ phủ đều sẵn sàng cưu mang, bao bọc con người, và
dù biết đó chỉ là ảo vọng con người vẫn cứ cảm thấy hạnh phúc khi được sống, được nếm trải nhiều cuộc đời ở những miền không gian khác nhau
Ứng với mỗi kiểu nhân vật là những kiểu không gian khác nhau, không gian của những con người bình thường là ngôi nhà, căn buồng, phòng học,… không gian của các nhân vật kì ảo là nơi chùa, miếu, gò hoang, bãi cỏ, bụi rậm, rừng sâu, hải đảo,… Những không gian ấy đã được ảo hoá Nhờ những giấc mộng và khả năng kì
lạ của các nhân vật ảo mà nhân vật có thể thả sức đi về giữa hai cõi âm - dương, trời - đất mà biên độ không gian được mở ra gần như vô cùng, khoảng cách giữa các cõi cũng được rút ngắn hết cỡ Cõi tiên và cõi trần cách nhau không xa lắm, chỉ một cái
chớp mắt (Truyện lạ nhà thuyền chài), có khi lại rất gần, chỉ nửa khắc là tới (Hai
thần hiếu đễ), có khi hoà nhập vào nhau (Duyên lạ nước hoa) Chỉ cần có một chút
“duyên” là có thể bước chân vào thế giới mộng ước với bao điều kì thú
4 Nếu như không gian và thời gian ở
truyện cổ tích thường mang tính phiếm chỉ,
để thu hút người đọc vào một thế giới cổ tích thoát li với hiện tại, thì không gian và
thời gian trong Thánh Tông di thảo không
chỉ là những đại lượng địa lí, vật chất Đó còn là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Thời gian, không gian
trong Thánh Tông di thảo dù là ở kiểu nào,
thực hay ảo, tự nhiên hay siêu tự nhiên thì cuối cùng cũng nhằm mục đích chuyển tải những quan niệm của tác giả về con người
và thế giới
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Thánh Tông, (1963), Thánh Tông di thảo (Nguyễn Bích Ngô dịch), Nxb Văn hoá -
Viện Văn học, Hà Nội
2 Nhiều tác giả, (2007), Lê Thánh Tông về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội
3 Trần Đình Sử, (1995), Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb Giáo dục, Hà Nội
4 Nguyễn Thái Hoà, (2000), Những vấn đề về thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục,
Hà Nội
5 Lại Nguyên Ân, (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
6 Viện Ngôn ngữ học, (1996), Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), Nxb Đà Nẵng