1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Quá trình biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ đến đới bờ biển và địa bàn các tỉnh, thành vùng đồng bằng sông Cửu Long

10 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 363,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), BĐKH xảy ra trước hết gắn liền với mực nước biển dâng xâm thực các vùng ven biển và đi sâu vào lục địa, gây xói lở bờ biển, gia tăng tổn thất về tài nguyên, nông nghiệp, du lịch, đa dạng sinh học và sức khỏe cộng đồng

Trang 1

TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 5 - Tháng 01/2011

QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TÁC ĐỘNG MẠNH MẼ ĐẾN

ĐỚI BỜ BIỂN VÀ ĐỊA BÀN CÁC TỈNH, THÀNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SƠNG CỬU LONG

PHẠM NGUYỄN KIM TUYẾN (*)

ĐỒN TUÂN (**)

TĨM TẮT

Biến đổi khí hậu (BĐKH) xảy ra gắn liền với các biến đổi về điều kiện khí tượng, thuỷ văn, mực nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan Đối với vùng đồng bằng sơng Cửu Long (ĐBSCL), BĐKH xảy ra trước hết gắn liền với mực nước biển dâng xâm thực các vùng ven biển và đi sâu vào lục địa, gây xĩi lở bờ biển, gia tăng tổn thất về tài nguyên, nơng nghiệp, du lịch, đa dạng sinh học và sức khoẻ cộng đồng

ABSTRACT

Climatic changes are connected to meteorological and hydrographical changes, to the rise of the sea level and to other extreme climatic phenomena In the Mekong Delta, climatic changes will first be connected to the rise of the sea that erodes coastline regions and then into the mainland As a result, the coastlines will be eroded and the natural resources, agriculture, tourism, varied organisms, and community health will be damaged

1 MỞ ĐẦU (*)(**)

Bước vào thế kỉ 21, con người đang

phải đối mặt với tình huống khẩn cấp, đĩ là

cuộc khủng hoảng biến đổi khí hậu Nĩ

đang tác động thay đổi một cách kịch tính

về các mục tiêu và nội dung phát triển của

nhân loại, đồng thời làm hạn chế phạm vi

lựa chọn của con người Biến đổi khí hậu

tồn cầu cĩ thể xảy ra do tác động của các

quá trình tự nhiên và nhân tạo, mà cĩ thể

nhận dạng qua những biến đổi về điều kiện

khí tượng, thuỷ văn, mực nước biển dâng

và các hiện tượng thời tiết cực đoan

Những biến đổi về điều kiện khí tượng,

thuỷ văn và hiện tượng thời tiết cực đoan

được gây ra trước hết từ sự nĩng lên của

trái đất, mà chủ yếu do việc phát thải nhiều

khí gây hiệu ứng nhà kính Theo Hội đồng

quốc tế về biến đổi khí hậu (IPCC, 2007),

(*)

TS, Trường Đại học Sài Gịn

(**) ThS, Trường Đại học Sài Gịn

nhiệt độ trái đất đã tăng 0,740C trong thế kỉ vừa qua (1906 – 2005) và xu hướng này vẫn tiếp tục tăng lên Nếu trong thế kỉ 21 nhiệt độ trái đất tăng vượt qua ngưỡng 20

C, thì kết quả phát triển con người sẽ bị đẩy lùi trên quy mơ lớn, các thảm họa sinh thái khơng thể đảo ngược sẽ xảy ra, trước hết là các hệ lụy tích lũy kéo dài do mực nước biển dâng

Mực nước biển dâng cao sẽ gây ra tác động tiêu cực nhiều mặt đối với phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ở các vùng ven biển và liên hệ Các tác động khơng chỉ gây ra ngập lụt, xĩi lở, mất đất, thay đổi hệ sinh thái v.v mà cịn gây ra ăn mịn, ngập mặn, phá hủy chất lượng đất, nước mặt, nước ngầm, và nhiều tác động tiêu cực khác đến mơi trường Những tác động đĩ gây thiệt hại đến phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đe dọa an ninh lương thực do phá hoại sản xuất nơng nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, Thêm vào đĩ, các giá trị văn

Trang 2

hoá, lịch sử cũng sẽ bị xâm hại, tác động

trực tiếp đến du lịch Mặt khác, nước biển

dâng cao sẽ làm thay đổi mật độ, phân bố

và cấu trúc dân cư tại các vùng ven biển và

các vùng đất cao hơn chịu tác động do việc

di dân cơ học Tóm lại, nước biển dâng sẽ

đe doạ trực tiếp đến an ninh quốc phòng và

phát triển kinh tế - xã hội của những khu

vực bị tác động

Kết quả dự báo khoa học cho thấy:

Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Việt

Nam, Indonesia, Nhật Bản, Ai Cập, Hoa

Kì, Thái Lan và Philippines sẽ có mức độ

rủi ro cao về lãnh thổ bị thu hẹp do mực

nước biển dâng cao Ở Đông Nam Á nói

chung và Việt Nam nói riêng, BĐKH gây

ra những tác động chính như: gia tăng nhiệt

độ; dâng cao mực nước biển; thay đổi chế

độ mưa; gia tăng hạn hán, lụt lội, dông bão;

gia tăng tần suất cháy rừng và giảm năng

suất nông nghiệp Riêng Việt Nam, một

quốc gia có bờ biển dài 3.260 km và hàng

nghìn đảo lớn nhỏ khác nhau, được dự báo

là sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi mực nước

biển dâng cao, cùng với các quốc đảo và

quốc gia có bờ biển khác

Theo đánh giá của Chương trình phát

triển Liên Hiệp Quốc, (UNDP), Việt Nam

có thể trở thành một trong những quốc gia

bị ảnh hưởng nặng nề nhất trên thế giới,

nếu mực nước biển tiếp tục dâng cao theo

tốc độ hiện nay (bị ảnh hưởng thứ 2 sau

Bangladesh) Tổng thiệt hại từ các hậu quả

của việc nước biển dâng cao có thể lên đến

17 tỉ USD/năm Theo dự báo, nếu mực

nước biển dâng cao 1 mét, Việt Nam sẽ

mất hơn 12% diện tích đất đai (trong đó

vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có thể

mất tới 20% diện tích), nơi cư trú của 23%

số dân Bên cạnh đó, BĐKH cũng làm cho

các trận bão lớn xảy ra thường xuyên hơn

và với mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn

Ngoài ra, nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông nghiệp và nguồn nước của Việt Nam Hiện nay, vấn đề biến đổi khí hậu đã

có dấu hiệu ảnh hưởng đến đới bờ biển Việt Nam, cũng như hàng loạt các cơn bão

có đường đi dị thường, khó dự báo đã xuống hiện và có xu hướng chuyển dịch dần xuống phía Nam Hiện tượng lũ lụt, hạn hán xảy ra với quy mô ngày càng nghiêm trọng hơn và mức độ biến động ngày càng cao

2 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU - ẢNH HƯỞNG ĐỚI BỜ BIỂN VÀ ĐỊA BÀN CÁC TỈNH, THÀNH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

2.1 Quan niệm về đới bờ biển

Đới bờ biển (Coastal Zone), theo Imann and Nordstrom, 1974, được xác định trong mối tương tác lục địa - biển trên một phạm vi rộng dọc theo bờ biển Ở đó bao gồm đồng bằng ven biển, đầm phá, cồn cát, các hệ cửa sông, thềm lục địa và khối nước bao phủ lên thềm, trong đó kể cả các vũng vịnh và hải đảo (xem hình 1)

Đới bờ biển (đới bờ) là khu vực chuyển tiếp giữa lục địa - biển, gồm 2 phần: phần đất liền ven biển và phần biển ven bờ với nhiều hệ sinh thái đặc trưng Ranh giới về phía đất liền là nơi kết thúc ảnh hưởng của biển, không còn sự nhiễm mặn Ranh giới về phía biển là nơi kết thúc ảnh hưởng của các dòng chảy sông, không còn lắng đọng trầm tích do sông Tuy nhiên, ranh giới của đới bờ còn phụ thuộc vào khả năng quản lí hành chính Nhìn chung, ở nước ta hầu như còn chưa có sự thống nhất trong quan niệm về xác định đới

bờ biển Vùng biển ven bờ được giới hạn đến đường cách bờ 6 hải lí (Viện chiến lược phát triển, 2004), hoặc theo chiều sâu ảnh hưởng của sóng biển tới đáy bằng nửa

Trang 3

độ dài bước sóng và biến thiên trong

khoảng từ 30 đến 50m

Tuy nhiên, hiện nay BĐKH cũng đang

làm thay đổi cả quan niệm về đới bờ biển

nói chung do mực nước biển dâng cao sẽ

xâm thực các vùng ven biển và đi sâu vào

trong lục địa, mà kết quả là diện tích phần

lục địa sẽ bị ngập mặn và mất dần

Vì vậy, có thể sử dụng quan niệm khá

thống nhất của Hội đồng Châu Âu về đới

bờ biển: “Đới bờ là một dải đất và lãnh hải

có độ rộng không ổn định, phụ thuộc vào

tự nhiên, môi trường và nhu cầu quản lí” Một hệ thống duyên hải tự nhiên với những vùng mà hoạt động của con người liên quan đến việc sử dụng tài nguyên có thể

mở rộng quá giới hạn lãnh hải và nhiều kilomet sâu vào lục địa, trong đó ranh giới của đới bờ phía đất liền có thể lấy theo ranh giới hành chính các huyện, xã có biển

Hình 1 Sự phân chia các phân bậc trong đới bờ biển (Iman &Nordstrom, 1974)

2.2 Tác động do mực nước biển dâng

cao đến đới bờ biển và địa bàn Vùng

ĐBSCL

Theo Báo cáo nghiên cứu đánh giá

bước đầu về BĐKH của Bộ Tài nguyên và

Môi trường (BTNMT), thì ở nước ta với

khoảng thời gian 50 năm qua nhiệt độ

trung bình đã tăng khoảng 0,5 – 0,70

C và mực nước biển đã dâng cao khoảng 20cm

Nước ta đứng thứ 5 về khả năng dễ bị tổn

thương do các tác động của tình trạng

BĐKH và đã được Liên Hợp Quốc chọn là

quốc gia để tiến hành nghiên cứu điển hình

về nguy cơ BĐKH và phát triển con người

Theo đó, đời sống của người dân ở các tỉnh, thành nằm ven biển đang có nguy cơ

bị đe dọa nghiêm trọng bởi những thay đổi khí hậu toàn cầu, từ đây đòi hỏi một tầm nhìn dài hơn, một kế hoạch cụ thể và mang tính chiến lược

Nước ta giáp với biển Đông ở hai phía Đông và Nam (vùng vịnh Thái Lan) Vùng biển Việt Nam là một phần biển Đông, có chiều dài bờ biển 3.260 km, với hơn ½ các tỉnh, thành nằm tiếp giáp ven biển và là đối tượng chịu ảnh hưởng lớn của các quá trình thay đổi khí hậu, sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu

Đới bờ biển

Cồn, đảo

Đầm, phá, vũng vịnh

Cận bờ

Thềm lục địa Dốc lục địa

Vùng bờ

Bờ biển

Đồng bằng ven biển

Mực nước biển

Trang 4

vực theo thời gian từ vài thập kỉ đến hàng

triệu năm Những biến đổi này được gây ra

do quá trình động lực của trái đất, bức xạ

mặt trời (kể cả các cơn bão mặt trời) và chủ

yếu là do các hoạt động của con người làm

phát sinh khí nhà kính (KNK) từ nhiên liệu

hóa thạch và phá rừng, gây ra sự nóng lên

toàn cầu, từ đó nước biển dâng sẽ làm mất

phần lớn diện tích Nước mặn xâm nhập

sâu vào nội địa Các quá trình động lực học

biển mạnh hơn do mực nước dâng cao sẽ

phá hủy đường bờ nghiêm trọng Các hiện

tượng thiên tai xảy ra với cường độ lớn và

tần suất cao như bão, lũ lụt tàn phá khu

vực Nhiệt độ và độ ẩm thay đổi thất

thường có thể dẫn đến hạn hán, cháy rừng

hoặc mưa với lượng lớn gây ngập lụt, phá

hoại sản xuất

Tất cả các hậu quả do tình trạng

BĐKH được dự báo nêu trên là có cơ sở

khoa học và thực tế, bởi địa hình các tỉnh,

thành vùng ven biển thường khá thấp (nhất

là các tỉnh, thành trong vùng ĐBSCL),

trung bình dưới 2 - 3m, cá biệt ở khu vực

ven biển có nơi chỉ cao chừng 20-30cm so

với mực nước biển Theo dự báo của Hội

đồng quốc tế về biến đổi khí hậu (IPCC),

khi nhiệt độ tăng 10

C trong giai đoạn

2010-2039, mực nước biển tăng khoảng 20cm;

giai đoạn 2070-2099, khi nhiệt độ tăng

khoảng 30

C - 40C, mực nước biển dâng

thêm khoảng 1m Như vậy, nếu diễn biến

mực nước biển theo đúng kịch bản nêu

trên, không bao lâu nữa, các tỉnh thành

nằm ven biển sẽ mất đi một phần diện tích

ven biển, và có thể lấn sâu hơn nữa vào

trong nội địa (trong đó vùng ĐBSCL sẽ bị

thiệt hại nặng)

Theo kịch bản BĐKH ở Việt Nam đã

được công bố tại Hội thảo biến đổi khí hậu

toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt

Nam tại Hà Nội, 2/2008, được trình bày

như sau:

Bảng 1 Thông báo Quốc gia về biến

đổi khí hậu ở Việt Nam (so với năm 1990)

Năm Nhiệt độ tăng

thêm ( 0 C)

Mực nước biển tăng thêm (cm)

Nguồn: Nguyễn Khắc Hiếu, tháng 02/2008: Chú ý rằng số liệu trên chưa tính đến tính ì của khí hậu và đặc điểm sụt hạ địa chất địa phương

Vùng ĐBSCL là vùng đồng bằng châu thổ trẻ ở nước ta, được hình thành vào khoảng 11.000 năm trở lại đây Cao trình mặt đất tương đối thấp Nền đất yếu Trên nhiều vùng khá rộng, trong Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau chẳng hạn, nhiều nơi độ cao so với mực nước biển chỉ vào khoảng 20 – 30 cm Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cuối lưu

vực sông Mê-Kông, phụ thuộc nhiều vào

nguồn nước (lượng và chất) từ vùng thượng nguồn đổ về Hàng năm đồng bằng chịu lũ vào mùa mưa, nhưng lại bị khô hạn

và xâm nhập mặn vào mùa kiệt do nước biển dâng Theo các kết quả dự báo khoa học đưa ra, thì hiện nay Vùng ĐBSCL ngày càng có xu hướng thiếu nước trầm trọng và xâm nhập mặn ngày càng đi sâu vào vùng lục địa do việc khai thác quá nhiều nguồn nước sông Mê-Kông để làm thuỷ lợi và thuỷ điện ở đầu nguồn, như ở Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Việt Nam và Campuchia

Vùng biển đới bờ chịu sự tác động của hai chế độ triều: Biển Đông bán nhật triều

và Vịnh Thái Lan nhật triều Nhìn tổng thể, ĐBSCL tiếp tục vươn ra biển, nhưng sự

bồi tụ, xâm thực và xói lở thay đổi nhiều

theo không gian và thời gian Tuy nhiên,

Trang 5

tình huống này có thể sẽ khác đi khi mực

nước biển dâng cao sẽ làm thay đổi đường

bờ, gây xói lở bờ biển, bờ sông, phá hoại

đê biển và xâm chiếm từng phần diện tích

các vùng ven biển, cũng như theo triều đi

sâu vào sông Tiền, sông Hậu

Những năm trở lại đây, tần suất và

cường độ của các cơn bão đổ bộ vào nước

ta tăng nhanh rõ rệt Điều đó, theo các nhà

khoa học sẽ là một minh chứng cho sự thay

đổi khí hậu trái đất, hệ quả tất yếu của một

loạt thay đổi dây chuyền mà xuất phát là sự

nóng dần lên của Trái đất Hai cơn bão

Linda (1997) và Durian (2006) là những

trận bão lịch sử đã ghi nhận bởi hậu quả

nặng nề mà chúng gây ra cho các tỉnh vùng

ĐBSCL như làm tăng tính cực đoan của

thời tiết, hậu quả làm tăng tính cực đoan

của lượng dòng chảy trong năm trên các

dòng sông

Lũ lụt cũng không còn là một hiện

tượng tự nhiên theo quy luật trong vài năm

trở lại đây Hơn nữa, các tỉnh, thành thuộc

vùng ĐBSCL lại là nơi giao thoa cân bằng

động trong thời gian lịch sử kiến tạo kéo

dài giữa hai quá trình biển và sông, giữa

sóng triều và dòng vật chất từ lục địa Do

đó, bất kì một sự thay đổi thất thường nào

của quá trình biển hoặc sông cũng đều dẫn

đến sự biến đổi mạnh mẽ của một loạt các

vấn đề liên quan như: xâm nhập mặn, suy

giảm diện tích đất canh tác cũng như ảnh

hưởng đến quá trình sinh sống của nhân

dân, các hệ sinh thái đặc trưng… Đáng báo

động thay, những sự thay đổi của các quá

trình sông và biển đó, phần lớn được cho là

xuất phát từ sự BĐKH toàn cầu Thời gian

gần đây, sự biến đổi khí hậu còn được thể hiện rõ rệt qua hai hiện tượng El Nino và

La Nina dẫn đến sự hạn hán và mưa không theo quy luật, ảnh hưởng rõ nét đến quá trình sản xuất nông nghiệp, không chỉ vùng ĐBSCL mà còn của cả Việt Nam

Theo dự báo của các chuyên gia nông nghiệp, đồng bằng sông Cửu Long sẽ là vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu (BÐKH) của nước ta, đặc biệt

là tác động do mực nước biển dâng cao, đất đai bạc màu, tài nguyên và đa dạng sinh học giảm mạnh Diện tích đất bị xâm nhập mặn, đất bị khô hạn, nhiễm phèn ngày càng tăng Hiện nay, toàn vùng đã có khoảng 2,1 triệu ha đất bị nhiễm mặn và 1,6 triệu ha đất nhiễm phèn Trước thực tế này, đòi hỏi phải có chiến lược quản lí tài nguyên nước

và lưu vực sông, cụ thể là thúc đẩy việc bảo vệ rừng, sử dụng hợp lí đất đai, quản lí tốt các khu bảo tồn thiên nhiên, giảm ô nhiễm môi trường

Theo kịch bản của IPCC cho khu vực Nam Bộ về mức tăng nhiệt độ trung bình (0C) so với thời kì 1980 – 1999 có 03 mức: kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2) và kịch bản phát thải cao nhất (A1) được trình bày ở bảng 2:

Trang 6

Bảng 2 Kịch bản của IPCC cho khu vực Nam Bộ về mức tăng nhiệt độ trung bình ( 0

C)

so với thời kì 1980 – 1999

Thời kì

trong năm

2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100

B1

Kịch bản phát thải thấp (B1)

XII-II 0,3 0,5 0,6 0,8 0,9 1,1 1,1 1,1 1,1 III-V 0,4 0,6 0,8 0,9 1,0 1,2 1,2 1,3 1,3 VI-VIII 0,5 0,7 0,9 1,1 1,3 1,4 1,5 1,5 1,5 IX-XI 0,5 0,6 0,9 1,2 1,2 1,4 1,5 1,5 1,5

B2

Kịch bản phát thải trung bình (B2)

XII-II 0,3 0,5 0,6 0,8 1,0 1,3 1,5 1,5 1,7 III-V 0,4 0,6 0,8 0,9 1,2 1,4 1,7 1,8 1,9 VI-VIII 0,5 0,7 0,9 1,2 1,5 1,8 2,0 2,1 2,1 IX-XI 0,5 0,6 0,9 1,2 1,4 1,8 1,9 2,1 2,3

A1

Kịch bản phát thải cao nhất (A2)

XII-II 0,3 0,5 0,7 0,8 1,0 1,3 1,5 1,8 2,1 III-V 0,4 0,6 0,8 0,9 1,2 1,5 1,9 2,1 2,7 VI-VIII 0,6 0,7 0,9 1,2 1,5 1,8 2,2 2,6 2,9 IX-XI 0,5 0,7 1,0 1,2 1,5 1,8 2,1 2,5 2,9

Tương ứng với mức nhiệt độ tăng ở

bảng trên (bảng 2) thì mức nước biển

dâng (cm) tại khu vực ĐBSCL so với

thờii2 1980 – 1999 được trình bày ở

bảng 3:

Bảng 3 Mức nước biển dâng (cm) tại

ĐBSCL so với thời kì 1980 – 1999

Phạm vi vùng

bị ngập

Mức nước biển dâng (cm)

Diện tích ngập (km 2 )

Khu vực đồng

bằng sông Cửu

Long

Kết quả dự báo như trình diễn trên

bản đồ mực nước biển dâng ở vùng

ĐBSCL

Theo số liệu điều tra của PGS TS

Dương Văn Viện thì ĐBSCL có khoảng

790.000 ha đất mặn (20%) trong tổng số

gần 2 triệu ha tự nhiên bị ảnh hưởng mặn,

phân bố chủ yếu dọc bờ biển Đông và vùng bán đảo Cà Mau Trong đó, đất bị mặn dưới 2 tháng khoảng 100.000 ha (đều đã được sử dụng cho nông nghiệp), đất mặn từ 2-4 tháng 520.000 ha (88% sử dụng cho nông nghiệp, 9% cho rừng và 3% đất hoang), và đất mặn quanh năm chiếm khoảng 170.000 ha (34% cho rừng, 25% nuôi tôm và 36% đất hoang) Trước đây, khi công trình thuỷ lợi chưa phát triển, diện tích bị ảnh hưởng mặn 1g/l trở lên khoảng 2,1 triệu ha Nếu tính với độ mặn 0,4g/l (tiêu chuẩn cho phép của nước sinh hoạt) thì phạm vi ảnh hưởng mặn còn rộng hơn Đến nay do công trình thuỷ lợi phát triển nhiều, vùng ven biển được ngọt hóa nên diện tích bị ảnh hưởng giảm xuống còn 1,5 triệu

ha Tuy nhiên, ranh giới hưởng mặn giảm đáng kể, chỉ còn khoảng 1,3 mặn trên sông chính, sông Vàm Cỏ Tây và các kênh nối thông ra biển lại có xu thế càng ngày gia tăng

Trang 7

2.3 Đánh giá sự tổn thất môi trường

Đánh giá tổn thất môi trường

(TTMT) luôn được đề cập song hành với

phát triển bền vững, vì nó không chỉ tập

trung đánh giá những rủi ro, thiệt hại ở

hiện tại mà còn xem xét các nguy cơ có

thể xảy ra ở tương lai Để phát triển bền

vững một vùng, cần tiến hành đánh giá

tổn thương tất cả các yếu tố của vùng đó

Theo US-EPA, đánh giá TTMT của một

vùng là đánh giá sự thiệt hại, tổn thất về

sức khỏe con người và môi trường vùng

đó do tác động ô nhiễm và suy thoái môi

trường sống Khi đánh giá mức độ tổn

thương, cần đánh giá tổng hợp mức độ

tổn thất, thiệt hại về chất lượng và giá trị của

hệ thống tự nhiên - kinh tế - xã hội - môi trường, cùng với đánh giá khả năng thích nghi, chống chịu, phục hồi của hệ thống đó trước các tác động của tai biến tự nhiên và nhân sinh

Để đánh giá mức độ TTMT vùng đới bờ, tiến hành xác định được các yếu tố gây tổn thương, các đối tượng bị tổn thương và khả năng chống chịu, thích ứng của chúng, để đưa vào tính toán Chỉ số tổn thương môi trường (EVI) Ví dụ, đối với vùng đới bờ biển tại khu vực miền Trung đã có những đề xuất tính toán Chỉ số tổn thương môi trường (EVI) như trình bày dưới đây:

+ Các yếu tố gây tổn thương:

(1) Nhóm yếu tố thiên nhiên

- Bão, áp thấp nhiệt đới

- Ngập lũ

- Nước biển dâng

- Xói lở, đổ lở bờ biển

- Động đất, núi lửa, sóng thần

- Xâm nhập mặn

- Bồi lắng

(2) Nhóm yếu tố nhân sinh

- Khai thác khoáng sản

- Công nghiệp lọc dầu

- Khai thác, đánh bắt thuỷ sản

- Đô thị hóa, gia tăng dân số

- Ô nhiễm do hoạt động du lịch

- Hoạt động cảng biển

- Vận tải biển

+ Các đối tượng bị tổn thương:

(1.) Thiên nhiên

- Bờ biển

- Cảnh quan

- Rừng phòng hộ ven biển

(2) Môi trường

- Suy giảm chất lượng môi trường

- Suy thoái tài nguyên

- Suy thoái đa dạng sinh học

(3) Xã hội

- Cư dân sống ven biển

- Xáo trộn nơi ở và sinh kế

- Cơ sở y tế, giáo dục, an sinh xã hội

- Trụ sở cơ quan

- Thất nghiệp, nghèo đói

- Mâu thuẩn, xung đột

(4) Kinh tế

- Cơ sở hạ tầng: đường giao thông, cấp thoát nước, điện, viễn thông…

- Đê biển, đê chắn sóng, cầu cảng

- Khu công nghiệp, nhà máy lọc dầu

- Đánh bắt thuỷ hải sản

- Hạ tầng du lịch

- Canh tác nông nghiệp

- Công trình thuỷ lợi

- Phương tiện vận tải biển, tàu thuyền

- Sân bay

+ Khả năng chống chịu, thích ứng và phục hồi:

Trang 8

(1) Rừng phòng hộ ven biển (rừng phòng

hộ, rừng ngập mặn)

(2) Hệ thống đê (đê biển, đê chắn sóng)

(3) Cơ sở hạ tầng

(4) Công tác đánh giá, xây dựng và dự

báo, phòng chống bão lũ

(5) Nhận thức của cộng đồng về tổn thương

(6) Sự hỗ trợ chính quyền địa phương, trung ương

(6) Sự hỗ trợ từ bên ngoài (các nước, các

tổ chức phi chính phủ)

Nguồn: Đặng Trung Tú, Nguyễn Thùy Dương, Hoàng Thị Minh Thảo, Đặng Trung Thuận (2009), Biến đổi khí hậu và vấn đề tổn thương môi trường ở đới bờ miền Trung

Tuy nhiên, theo chúng tôi cần đơn

giản hóa các thông số này trên cơ sở lựa

chọn các yếu tố đánh giá cơ bản nhất để

tính toán ra chỉ số EVI, bởi vì ở trên có

nhiều thông số còn mang tính lí thuyết và

khó định lượng hóa trong thực tiễn

Đối với Vùng ĐBSCL, bước đầu

chúng tôi đề xuất lựa chọn các yếu tố đánh

giá sau đây để đưa vào tính toán chỉ số

EVI (sử dụng phương pháp tính toán tích

hợp trung bình chỉ số EVI từ 3 chỉ thị và

22 thông số):

+ Chỉ thị 1: Các yếu tố gây tổn

thương (7 thông số):

- Biến đổi về khí tượng và thuỷ văn:

thông số là: Mức gia tăng nhiệt độ và thay

đổi lượng mưa;

- Mực nước biển dâng: 2 thông số là:

Mức gia tăng mực nước biển hiện thời và

mức dự báo đến các khoảng thời gian

nghiên cứu;

- Các hiện tượng thời tiết cực đoan: 3

thông số là: Mức gia tăng thiệt hại do hạn

hán, lụt lội và dông bão;

+ Chỉ thị 2: Các đối tượng bị tổn

thương (10 thông số):

- Suy giảm tài nguyên nước: 1 thông

số là: Mức gia tăng thiếu nước sạch;

- Suy giảm tài nguyên đất: 2 thông số là: Mức tăng diện tích đất bị ngập mặn và ảnh hưởng thuỷ triều;

- Suy giảm rừng: 2 thông số là: Mức gia tăng diện tích và tần suất cháy rừng;

- Suy giảm nông lâm ngư nghiệp: 2 thông số là: Mức giảm năng suất nông nghiệp và ngư nghiệp;

- Suy giảm du lịch: 1 thông số là: Mức giảm doanh thu du lịch;

- Suy giảm sức khỏe cộng đồng: 2 thông số là: Mức tăng tỉ lệ dân cư bị nhiễm bệnh và bị chết;

+ Chỉ thị 3: Khả năng chống chịu, thích ứng và phục hồi (5 thông số):

- Rừng phòng hộ ven biển: 1 thông số là: Diện tích rừng phòng hộ và ngập mặn;

- Đê biển: 1 thông số là: Tổng chiều dài đê biển;

- Cơ chế phát triển sạch: 1 thông số là: Mức phát thải tổng lượng cacbon;

- Tài chính, nguồn lực: 1 thông số là: Mức độ đáp ứng về tài chính, nguồn lực;

- Nhận thức cộng đồng: 1 thông số là: Mức độ hiểu biết của dân cư về BĐKH;

Trang 9

Hình 2 Mô hình tích hợp chỉ số EVI đề xuất

3 KẾT LUẬN

Trên thực tế, nếu quá trình biến đổi khí

hậu cứ theo đà này mà tiếp diễn, thì sinh kế

của hàng chục triệu người ở vùng ĐBSCL

sẽ bị đảo lộn cuộc sống do nước biển dâng

cao sẽ mất nhà, mất diện tích canh tác Vấn

đề này và những hệ quả của nó đang khiến

cho cuộc sống của người dân mà trong đó

người nghèo và những người cận nghèo

vùng biển, vùng đồng bằng tiếp giáp biển

bị đe dọa, mà sau đó là các tác động tiêu

cực dây chuyền sẽ ảnh hưởng tới các vùng

khác nữa ở sâu trong lục địa hoặc ở địa

hình trên cao

Từ những số liệu kịch bản (IPCC,

2007), các hội thảo về biến đổi khí hậu và

nước biển dâng trên toàn quốc, cũng như

những đánh giá sự tổn thất môi trường sơ

bộ đã cho chúng ta thấy rằng cần phải hành

động một cách thiết thực để giảm mức độ

thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra Vì vậy

cần giải quyết các mức ở cấp độ khác nhau

như: cộng đồng dân cư, chính sách và năng

lực thể chế, trong đó quan trọng nhất là xây

dựng năng lực thể chế mang tính vi mô và

vĩ mô:

Ở cấp độ cộng đồng dân cư:

+ Trong ngắn hạn: Cần xây dựng các

chương trình cụ thể phù hợp với điều kiện

tự nhiên, địa hình từng địa phương, cần có

sự hỗ trợ khẩn cấp thông qua hỗ trợ thiên

tai;

+ Về lâu dài: Cần phân định các tiểu vùng của ĐBSCL; dự báo các tác động về

tự nhiên, kinh tế, xã hội trên từng địa bàn trong từng phương án mực nước biển

dâng

Cần xây dựng bản đồ dự báo BĐKH theo cấp độ khác nhau và nâng cao năng lực thích ứng vùng bị ảnh hưởng trong các quá trình phát triển các ngành nghề khác nhau

Ở cấp độ chính sách:

+ Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để kịp thời có thông tin, số liệu được cập nhật

liên quan đến biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng ở Việt Nam; hợp tác trong công tác đào tạo nguồn nhân lực và hợp tác trong điều tra và nghiên cứu những đề tài khoa học đặt ra ở Biển Đông, cho khu vực và thế giới

+ Cần liên kết với các nước trong khu vực xây dựng chiến lược ở cấp vùng, cấp quốc gia cũng như địa phương Các yếu tố thay đổi khí hậu cần được lồng ghép với chính sách phát triển kinh tế - xã hội

Vì thế, việc cần làm sớm là nghiên cứu xác định tác động ở các mức độ của BĐKH

và điều chỉnh lại quy hoạch và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng và các tỉnh đia phương, từ đó biến thách thức của BĐKH thành cơ hội mới cho quá trình phát triển bền vững

Chỉ số EVI

Chỉ thị nguồn (1) Chỉ thị đối tượng (2) Chỉ thị thích ứng (3)

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Tài nguyên và Môi trường (6/2009), Kịch bản “Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam”

2 TS Alle L Clark (9/2009), Những thử trách về môi trường trong quy hoạch đô thị:

Vùng phụ cận, dấu chân sinh thái và biến đổi khí hậu, Chương trình nghiên cứu –

Trung tâm East-West

3 Nguyễn Ngọc Trân, (6/2009), Ứng phó với biến đổi khí hậu và biển dâng

4 Hội BVTN&MT Việt Nam (2008), Tài liệu Hội thảo: “Biến đổi khí hậu toàn cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam”

5 UNDP (2007), Báo cáo Phát triển con người 2007/2008, “Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu”

Ngày đăng: 27/10/2020, 09:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sự phân chia các phân bậc trong đới bờ biển (Iman &Nordstrom, 1974) 2.2. Tác động do mực nước biển dâng  - Quá trình biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ đến đới bờ biển và địa bàn các tỉnh, thành vùng đồng bằng sông Cửu Long
Hình 1. Sự phân chia các phân bậc trong đới bờ biển (Iman &Nordstrom, 1974) 2.2. Tác động do mực nước biển dâng (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w