Nguyễn Khải là một trong những nhà văn luôn tìm tòi những trải nghiệm và sáng tạo.. Trong tác phẩm đầu tay của ông vào năm 1980, với cảm xúc về cộng đồng của mình, tác giả mô tả, đánh giá, thực trạng các vấn đề thuộc về chính trị và xã hội.
Trang 1TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 5 - Tháng 01/2011
VÀ Ế Ễ Ả
HÀ HUY DŨNG (*)
TĨM TẮT
Nguyễn Khải là một trong những nhà văn luơn tìm tịi những trải nghiệm và sáng tạo Trong tác phẩm đầu tay của ơng vào năm 1980, với cảm xúc về cộng đồng của mình, tác giả mơ tả, đánh giá, thực trạng các vấn đề thuộc về chính trị và xã hội Và sau đĩ dự đốn
sự thay đổi của xã hội, khám phá thế giới nội tâm bằng kinh nghiệm của bản thân Vì vậy, trong các tác phẩm của Nguyễn Khải, phương thức trần thuật đã xuất hiện rất đa dạng và mới mẻ
ABSTRACT
Nguyen Khai is one of the writers who always looks for experience, and creativity In his first story in 1980, the writer with his community perspective describes and evaluates the reality, conveys political and social issues And then later forecasts social changes , explores the world of inner fellings with his own experience So, in his works, the narrative form appears much more diverse and innovative
1 ĐẶT VẤN ĐỀ (*)
Nguyễn Khải sáng tác rất thành cơng
ở nhiều thể loại, thể loại nào cũng được
đơng đảo bạn đọc đĩn nhận Tác phẩm
của ơng phản ánh được những tìm tịi thể
nghiệm, những trăn trở của văn xuơi hiện
đại Việt Nam Trang viết đậm nồng hơi
thở cuộc sống, kịp thời đem đến cho
người đọc những lí giải đúng đắn và khêu
gợi nhiều suy nghĩ về các vấn đề xã hội
Theo dõi lịch sử nghiên cứu truyện
và tiểu thuyết Nguyễn Khải từ khi tác
phẩm ra đời, cĩ thể nhận thấy rằng: Ban
đầu nĩ là đối tượng tranh luận của giới
phê bình, về sau nĩ trở thành đối tượng
nghiên cứu của khoa học chuyên sâu, gắn
với những tên tuổi như Lại Nguyên Ân,
Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Nguyễn Văn
Hạnh, Vương Trí Nhàn, Chu Nga, Huỳnh
Như Phương, Trần Đình Sử, Bích Thu,
Đinh Quang Tốn, Lê Ngọc Trà v.v Các
(*) ThS, Trường Cao đẳng Sư Phạm Daklak
tác giả trên chủ yếu nghiên cứu tác phẩm như một tiếng nĩi xã hội gắn với những chặng đường văn học dân tộc và thời đại, sức chinh phục của tác phẩm, cũng như chuyện văn chuyện đời của ơng Một vài ý kiến lẻ tẻ
về phương thức trần thuật, về giọng điệu, về ngơn ngữ, về ngơi kể của chủ thể kể chuyện Đến nay chưa cĩ nghiên cứu nào về người kể chuyện trong cả truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Khải như một cơng trình nghệ thuật dưới gĩc độ thi pháp học
Lê Ngọc Trà viết: “Chủ thể tường thuật
là một mặt của vấn đề tác giả trong văn học Nghiên cứu vấn đề người kể chuyện vừa tạo điều kiện để nhận thức quá trình cá thể hố
và cá nhân hố trong sáng tạo văn học, vừa
mở ra cách tiếp cận với sự thể hiện của ý thức nghệ thuật, với cái nhìn của nhà văn trong tác phẩm”
2 NỘI DUNG
2.1 Các hình thức xuất hiện của chủ thể kể chuyện trong truyện và tiểu thuyết Nguyễn Khải
Trang 2Thứ nhất, Nguyễn Khải sử dụng
phương thức trần thuật khách quan hoá
làm xuất hiện kiểu người kể chuyện ẩn –
vô nhân xưng ở hai dạng: Không bình
luận trữ tình ngoại đề và có bình luận trữ
tình ngoại đề Trong 1 truyện được
khảo sát có 33 truyện kể ở ngôi thứ ba
như ây dựng (1951), ung đột (1959 –
1961), Tầm nhìn xa (1963), hủ tịch
huyện (1971)… Đặc điểm của loại truyện
này, người kể chuyện là người ngoài cuộc
nhưng lại biết hết mọi sự Truyện chú
trọng sự gợi ý, không chấp nhận lối nói
trực tiếp công khai, ít để nhân vật thể
hiện mình Điểm nhìn linh hoạt không bị
giới hạn nghiêm ngặt bởi không gian,
thời gian Khoảng cách giữa người kể
chuyện và nhân vật được rút ngắn tối đa
Người kể chuyện hiện diện trong tác
phẩm với tư cách là bóng dáng của tác
giả Cơ hội đồng sáng tạo của bạn đọc khi
tiếp nhận tác phẩm bị hạn chế Tuy nhiên,
người kể chuyện trong truyện kể ở ngôi
thứ ba của Nguyễn Khải không bị gò bó
bởi phạm vi của người thuật chuyện mà
luôn tìm cách thể hiện mình qua những
lời bình luận trữ tình ngoại đề đã tạo nên
sức hấp dẫn riêng
Thứ hai, là phương thức trần thuật
chủ quan hoá – kiểu người kể chuyện lộ
diện xưng “tôi” trong truyện kể ở ngôi
thứ nhất Có 4 dạng sau:
Dạng người kể chuyện xưng “tôi” –
chứng kiến, quan sát, không tham gia
biến cố trong các truyện con (1959),
Nếp nhà (1987) ng giữa đám đông
(1994) Đặc điểm của người kể chuyện
này không phải là nhân vật của truyện
Người kể chuyện đứng cùng vị trí với
tác giả vừa nghe, ghi, chứng kiến và cảm
nhận
Dạng người kể chuyện xưng “tôi” có
tham gia nói chuyện với nhân vật trong các
truyện Ngư i g p hàng ngày (1981), húng
tôi và b n h n (1987), Ngư i k chuyện thuê (1993) Người kể chuyện là nhân vật
của truyện Cái “tôi” – nhà văn, cái “tôi” – nhân vật vừa là chủ thể vừa là đối tượng thẩm mĩ Dấu ấn chủ quan, cá tính nhà văn
in đậm trong tác phẩm Cái “tôi” – nhà văn xuất hiện một cách trực tiếp cùng bình diện với các nhân vật khác của truyện Điểm nhìn linh hoạt, nhiều khi người kể chuyện hoá thân vào nhân vật chính để bình luận từ bên trong Truyện kể sinh động, ngôn ngữ
đa thanh, giàu giọng điệu Người đọc có điều kiện đối thoại với nhân vật, sự đồng sáng tạo của người đọc được phát huy Dạng người kể chuyện xưng “tôi” nói
thẳng là tác giả trong các truyện ái th i
lãng mạn (1987), Ngư i v (1988), Năm tháng đã đi ua (19 9) Người kể trong
truyện là nhân vật chính của truyện Tác giả xưng tên mình “anh Khải”, “đồng chí Khải”, “thằng Khải”… khi nói chuyện với nhân vật Nhiều chi tiết, tiểu sử, sự kiện, biến cố cuộc đời được kể lại như một nhu cầu của tác giả tự nói về mình, coi mình là đối tượng của văn chương Vì mục đích để
tự khẳng định mình, nên trong truyện người
kể không còn giấu kín thế giới riêng tư mà tâm sự, giãi bày cùng bạn đọc Việc người
kể chuyện xưng “tôi” nói thẳng là tác giả đồng nghĩa với việc xác định vai trò nhà văn Tác giả nhân danh người kể chuyện phát biểu trực tiếp quan điểm nghệ thuật của mình Điểm nhìn của người kể chuyện và nhân vật không bị hạn chế, khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật gần gũi tạo ra môi trường tự do bày tỏ quan điểm suy tư của mình
Dạng người kể chuyện xưng “tôi” nhưng
không nói rõ là tác giả trong các truyện nh
h ng b vận (1991), Nhóm bạn th i kháng
Trang 3chiến (1995), hị ai (1997) Người kể
chuyện là một nhân vật của truyện Đằng
sau nhân vật là sự hoá thân của tác giả,
nhằm diễn tả đời sống tâm lí bên trong,
nhưng vẫn đảm bảo được tính khách quan
cho truyện Người kể chuyện xưng “tôi”
trong truyện của Nguyễn Khải đóng rất
nhiều vai: có khi là người dẫn chuyện, khi
là nhân vật truyện, khi lại tự truyện Không
hiếm trường hợp người kể chuyện xưng
“tôi” bị người đọc đánh đồng là tác giả
Thứ ba, phương thức trần thuật kết
hợp (người kể chuyện hỗn hợp) Truyện
có nhiều dạng người kể chuyện xuất hiện
trong cùng một tác phẩm, thường là truyện
kể ở ngôi thứ nhất Đặc điểm khác biệt
của người kể chuyện trong truyện là mức
độ cá thể hoá rõ rệt, do lối kết hợp phương
thức trần thuật khách quan hoá với
phương thức trần thuật chủ quan hoá
Nghĩa là, trong truyện có 3 dạng kể: có
đoạn kể như vô nhân xưng, có đoạn “tôi”
kể, lại có đoạn một nhân vật trong truyện
đứng ra kể Người kể chuyện không bị hạn
chế điểm nhìn Cách nhìn không ngừng
được mở rộng trên nhiều bình diện Nhiều
chủ thể kể chuyện, nhiều giọng điệu Sự
kiện, tình tiết, biến cố, xung đột truyện
khó biết trước cái gì sẽ xảy ra Việc sáng
tạo nghệ thuật trần thuật kết hợp đã làm
xuất hiện một kiểu cấu trúc mở cho
truyện Loại này chiếm tỉ lệ đáng kể trong
69 truyện kể ở ngôi thứ nhất của Nguyễn
Khải Đây là minh chứng Nguyễn Khải
không ngừng tự vượt lên chính mình, “tự
làm mới mình” trong hành trình lao động
nghệ thuật Ông được coi là người đặt nền
móng cho truyện và tiểu thuyết đa thanh,
đa giọng điệu của văn xuôi tự sự Việt
Nam hiện đại
2.2 Hình tượng người kể chuyện
trong truyện và tiểu thuyết Nguyễn Khải
Điểm dễ nhận ra trong tác phẩm Nguyễn Khải là hình tượng người kể chuyện mang chất cán bộ, suy tư – triết lí và tự giễu mình
Trong tác phẩm a lạc (19 9), Đứa con
nuôi (1960), nh đội phó và ngư i th mộc
(1961), ãy đi xa hơn nữa (1962), hủ tịch
huyện (1971)… của ông viết trước những
năm 19 , luôn xuất hiện hình tượng người
kể chuyện mang chất cán bộ Lí giải hình tượng này, có lẽ một phần Nguyễn Khải là nhà văn mặc áo lính, có một thời gian dài làm cán bộ tuyên huấn Một phần trực tiếp của thế giới quan là sáng tác của ông luôn gắn liền với những chặng đường văn học dân tộc Vào những năm 6 của thế kỉ trước, cuộc sống mới, con người mới là đối tượng chủ yếu để nhà văn hướng tới nhằm ca ngợi chế độ mới Hai lí do trên đã chi phối hình tượng người kể chuyện mang chất cán bộ
Nó được thể hiện rõ qua cách quan sát của nhà văn, cách nói chuyện với nhân vật và giọng điệu của người kể chuyện Hình tượng người kể chuyện mang chất cán bộ là một điểm nhấn giúp nhà văn thể hiện thành công
ý tưởng về nhân vật cho nền văn học mới Theo ông, hình tượng người kể chuyện mang chất cán bộ ấy kết tinh được vẻ đẹp lí tưởng của con người mới trong một chế độ mới Hình tượng đó, trải qua thời gian dài của lịch
sử đều chiếm được tình cảm và dư luận của bạn đọc
Trong tác phẩm ha và con và… (1979),
Hai ông già ồng Tháp ư i (1981), p
g cu i năm (1982), ư già ch a Th m và ông đại tá về hưu (1993), ạc th i (1994)…
xuất hiện hình tượng người kể chuyện suy
tư, triết lí rất riêng Nhà văn đã cắt nghĩa hình tượng này từ phương thức trần thuật kết hợp Tác giả là người rất thích tranh luận biện giải Không ngần ngại bộc lộ trực tiếp thái độ tình cảm của mình trước con người
và hiện thực Sâu xa hơn, Nguyễn Khải
Trang 4muốn khám phá “sự thật lòng người”, để
từ đó thể hiện tất cả chiều sâu suy tư,
chiều dài sự trải nghiệm Những suy tư
triết lí về con người ở vấn đề may mắn
xui rủi, thành công hay thất bại, dại khôn,
được mất, sống chết ở đời có tác dụng
giáo dục lòng nhân ái, đề cao và coi trọng
giá trị đạo đức Những suy tư triết lí về
cách mạng ở nội dung tiến bộ hay lạc hậu
có tác dụng khích lệ ý chí Triết lí về xã
hội ở nội dung trường tồn hay bất ổn xấu
xa nhất thời, và phê phán mặt trái của xã
hội đã gợi ra nhiều bài học quý ở đời
Hình tượng người kể chuyện tự giễu
mình trong tác phẩm Những ngư i già
(1994), àm trai (1995), Ngư i ngu
(1997), ng đ i (1999), Thư ng đế
thì cư i ( ) đã phần nào thể hiện
được tình cảm thẩm mĩ của thời đại mới
Thời đại ý thức cá nhân được đề cao,
cho phép nhà văn thể nghiệm cá nhân
Hình tượng người kể chuyện tự giễu
mình không phải là hiện tượng đầu tiên,
duy nhất trong tác phẩm văn xuôi tự sự
Nhưng xét riêng trong truyện và tiểu
thuyết Nguyễn Khải, nó lại có ý nghĩa
quan trọng cho phép nhà văn tấn công
vào những cái cũ lạc hậu, lỗi thời một
cách trực diện Ở vấn đề này, Nguyễn
Khải được dư luận đánh giá là một cách
làm mới mình rất ấn tượng
Hình tượng người kể chuyện mang
chất cán bộ, suy tư triết lí và hình tượng
người kể chuyện tự giễu mình đã tạo nên
những cơn sóng ngầm suy tư, đem lại
nhiều điều mới mẻ trong cảm thụ của
người tiếp nhận Những hình tượng ấy
luôn gợi hứng thú trí tuệ làm cho người
đọc thoả mãn, bởi những giọng điệu triết
lí tranh biện, trải nghiệm cá nhân rất sâu
sắc Vì thế, Vương Trí Nhàn đã nói:
“ u n tìm hi u con ngư i th i đại với
tất cả cái hay cái d của h , nhất là mu n tìm hi u cách ngh của h , đ i s ng tinh thần của h , phải đ c Nguyễn Khải”
2.3 Tác giả và người kể chuyện trong truyện và tiểu thuyết Nguyễn Khải
Trường hợp song trùng giữa tác giả và người kể chuyện thường thấy trong truyện
kể ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” – nói rõ mình
là tác giả ( truyện), xưng “tôi” tự truyện (1 truyện), truyện kể ở ngôi thứ ba và các truyện có yếu tố tự truyện Sự song trùng giữa người kể chuyện và tác giả là một kiểu dạng trần thuật mới, táo bạo thể hiện cái
“tôi” nghệ sĩ đầy bản lĩnh Đây là một dấu hiệu đổi mới tư duy nghệ thuật trần thuật rất giàu giá trị thẩm mĩ, giàu sức truyền cảm, góp phần làm cho truyện có tính đa thanh,
đa giọng điệu
Trường hợp không song trùng giữa tác giả và người kể chuyện do đặc thù của thể loại tự sự Thực ra sự không trùng hợp giữa tác giả và người kể chuyện là sự khẳng định con người nhiều chiều trong tính phức tạp của nó Sự không song trùng này đã làm cho tác phẩm tự sự có tính đa thanh, đa giọng điệu, làm cho người đọc hình dung được hiện thực khách quan dường như mới được viết cho người hôm nay Đây cũng là một dạng phổ biến của tự sự để tác giả rộng đường bày tỏ quan điểm nghệ thuật của mình trong việc sáng tạo người kể chuyện mà không làm giảm sức truyền cảm, giá trị thẩm
mỹ của lời kể chuyện Phương thức trần thuật không song trùng giữa tác giả và người
kể chuyện thường làm cho tác phẩm tự sự đạt được mục tiêu nhận thức và khám phá hiện thực có tính khái quát hoá rộng lớn Nó
là phương thức tự sự đã được khẳng định từ lâu trong lịch sử sáng tạo văn học nghệ thuật Trường hợp không song trùng giữa tác giả và người kể chuyện trong truyện kể ở ngôi thứ nhất Trong loại truyện này xuất
Trang 5hiện người kể chuyện xưng “tôi” – chỉ
chứng kiến quan sát, không tham gia biến
cố xưng “tôi” không nói rõ mình là tác
giả và trong tác phẩm có người kể chuyện
hỗn hợp Người kể chuyện trong tác phẩm
được hình tượng hoá Trong những hình
tượng đó có hình tượng người kể chuyện
cán bộ, người kể chuyện suy tư triết lí,
giễu mình rất cụ thể và sống động Nó trở
thành chất nội sinh táo bạo thực sự làm
đổi mới nghệ thuật kể chuyện, đem đến
cho người đọc những lời văn sắc sảo thấm
đẫm chất suy tư, triết lí Đời sống tinh
thần được nhà văn khám phá, nhìn nhận
trong cảm hứng nghiên cứu, phân tích và
chiêm nghiệm rất sâu sắc Đây là một
trong những cái cơ bản làm nên sự độc
đáo - nét mới của cây bút giàu chất trí tuệ
Nguyễn Khải so với các nhà văn cùng
thời, góp phần làm phong phú diện mạo
văn học
Tự truyện làm cho người ta ý thức
được về sự thật, có khả năng nhìn thẳng
vào sự thật, phát hiện lại sâu sắc hơn
mối quan hệ giữa con người cá nhân với
con người xã hội, thúc đẩy nhu cầu đối
thoại với chính mình để phát triển Một
số truyện như Ngư i tr về (1963),
hiến s (1973), ột gi t n ng nhạt
(1980), p g cu i năm (19 )… đậm
chất tự truyện Tự truyện của nhà văn
thiên về lối kể Đó là những kỉ niệm về tuổi thơ không mấy suôn sẻ, về những bài viết ngẫm lại thấy xấu hổ và buồn được tái hiện như một giai thoại rất cảm động Mặt khác,
tự truyện của ông viết về những con người
và các mối quan hệ xã hội đã góp phần tạo nên tính cách con người ông Tự truyện với Nguyễn Khải vừa là nhu cầu tự nhận thức lại chính mình, vừa tự làm mới mình trong nghề viết Tính chất tự truyện thể hiện trong truyện và tiểu thuyết Nguyễn Khải là một tư liệu quý giúp bạn đọc hiểu rõ thêm ít nhiều
về con người ông
3 KẾT LUẬN Nguyễn Khải là một trong những nhà văn luôn tìm tòi thể nghiệm, mạnh dạn đổi mới Nếu trong những sáng tác trước năm
19 , nhà văn lấy quan điểm cộng đồng để miêu tả, đánh giá hiện thực, thường xây dựng người kể chuyện truyền tải những vấn
đề chính trị - xã hội, thì càng về sau với mục đích suy ngẫm cuộc đời, dự báo những biến đổi xã hội, tác phẩm lại thiên về khám phá đời tư thế sự, xây dựng người kể chuyện bằng sự trải nghiệm của chính mình
Vì thế, trong tác phẩm của ông, các hình thức chủ thể kể chuyện xuất hiện đa dạng hơn và nhiều hình tượng người kể chuyện
đã đạt đến đỉnh cao của sự cách tân nghệ thuật trần thuật
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn h c, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội
2 M.Bakhtin (1992), í luận và Thi pháp ti u thuyết, Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn và
giới thiệu, Bộ văn hoá Thông tin, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội
3 Nguyễn Văn Hạnh (số 9 1996), Vài ý kiến về tác giả và tác phẩm của Nguyễn Khải,
Tạp chí Văn học, Hà Nội
4 Nguyễn Khải (196 ), Nhìn lại những trang viết của mình, NXB Hội Nhà văn, Hà
Nội
5 Nguyễn Khải ( 1), Ti u thuyết Nguyễn Khải, Tập 1, ,3,4, NXB Thanh Niên
Trang 66 Nguyễn Khải ( 3), Truyện ng n 1, , NXB Hội Nhà văn Hà Nội
7 Nguyễn Khải ( 3), Truyện vừa, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội
8 Nguyễn Khải ( ), Nghề văn cũng l m công phu, Tạp văn, NXB Trẻ
9 Phùng Quý Nhâm (1991), Thẩm định văn h c, NXB Văn nghệ TP HCM
10 Huỳnh Như Phương (19 6), Th i gian của ngư i, cu n ti u thuyết có âm hư ng,
Báo Văn nghệ (14), in lại trong Văn học 197 – 1985
11 Trần Hữu Tá, Phạm Khánh Cao (1985), Ti u thuyết Việt Nam (I), ĐHSP TP HCM
12 Lê Ngọc Trà (199 ), í luận văn h c, NXB Trẻ