1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Kế toán đầu tư chứng khoán kinh doanh tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

6 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 175,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này sẽ làm rõ việc kế toán chứng khoán kinh doanh tại các ngân hàng thương mại hiện nay từ quy định pháp lý hiện hành đến thực tế áp dụng của các ngân hàng, từ đó đưa ra các khuyến nghị để hoàn thiện và nâng cao chất lượng thông tin về việc đầu tư vào chứng khoán kinh doanh.

Trang 1

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

KẾ TOÁN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN KINH DOANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

ThS NGUYỄN THị QUỳNH HOA*

*Học viện Ngân hàng

mại cịn đầu tư vào chứng khốn như một kênh để tìm kiếm lợi nhuận, quản trị dịng tiền

và quản trị thanh khoản Để tìm kiếm lợi nhuận, các ngân hàng cĩ thể mua và bán chứng khốn trong ngắn hạn hưởng chênh lệch giá Những chứng khốn đầu tư với mục đích như vậy được gọi là chứng khốn kinh doanh Để xác định kết quả lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh chứng khốn này cần kế tốn các chứng khốn kinh doanh một cách phù hợp Bài viết này sẽ làm rõ việc

kế tốn chứng khốn kinh doanh tại các ngân hàng thương mại hiện nay từ quy định pháp lý hiện hành đến thực tế áp dụng của các ngân hàng, từ đĩ đưa ra các khuyến nghị để hồn thiện và nâng cao chất lượng thơng tin về việc đầu tư vào chứng khốn kinh doanh.

Từ khĩa: Chứng khốn kinh doanh, suy giảm giá trị, trích lập dự phịng.

Accounting for investment in trading securities at Vietnamese commercial banks

Apart from primary operation of providing loans to orgnizations and individuals, commercial banks also invest in securitites to earn profit, cash and liquidity management To earn profit, banks could buy and sell securities in short term and call those trading securities Proper accounting trading securities contributes to determination of profit earned from trading securities This paper is to study the accounting

of trading securities at commercial banks, including from statutory framework to banks’actual application and recommendations to improve the accounting and information quality of trading security

key words: Trading securities, devaluation, provisioning.

Theo các quy định hiện hành của Việt Nam,

Chứng khốn kinh doanh là:

- Là chứng khốn nợ, chứng khốn vốn hoặc

chứng khốn khác;

- Tổ chức tín dụng mua với chiến lược kinh

doanh, mua để bán trong thời gian khơng quá 1

năm nhằm hưởng chênh lệch giá;

- Tổ chức tín dụng khơng cĩ mục đích kiểm sốt

doanh nghiệp

1 Các quy định pháp lý hiện hành của Việt Nam về kế tốn chứng khốn kinh doanh

Do Việt Nam chưa ban hành được hệ thống chuẩn mực kế tốn về tài sản tài chính nên việc

kế tốn tài sản tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện chịu sự điều chỉnh của các văn bản chế độ kế tốn và các quy định pháp lý cĩ liên quan như Thơng tư 200/2014/TT-BTC về chế độ kế tốn doanh nghiệp, Thơng tư 228/2009/TT-BTC và Thơng tư 89/2013/TT-BTC về trích lập dự phịng,

Trang 2

toán nghiệp vụ kinh doanh, đầu tư chứng khoán

Trong đó, việc kế toán chứng khoán kinh doanh

được thực hiện như sau:

Ghi nhận ban đầu

- Chứng khoán kinh doanh được ghi nhận ban

đầu theo giá gốc (bao gồm giá mua cộng (+) các chi

phí mua trực tiếp (nếu có))

Nợ: Tài khoản chứng khoán kinh doanh thích

hợp

Có: Tài khoản thích hợp (tiền mặt, tiền gửi,

trung gian )

Trong thời gian nắm giữ

- Trong thời gian nắm giữ, giá trị ghi sổ được

ghi nhận theo giá gốc mua chứng khoán trừ khi có

sự suy giảm giá trị tài sản

- Chứng khoán nợ: Tiền lãi thu được trong thời

gian nắm giữ chứng khoán nợ kinh doanh được

hạch toán vào tài khoản thu lãi đầu tư chứng khoán

nợ tại thời điểm nhận được lãi (thực thu):

Nợ: Tài khoản thích hợp (tiền mặt, tiền gửi,

trung gian…)

Có: Tài khoản thu lãi đầu tư chứng khoán nợ

nắm giữ chứng khoán vốn hạch toán vào tài khoản thu lãi đầu tư chứng khoán vốn tại thời điểm nhận được khoản thanh toán từ doanh nghiệp phát hành cổ phiếu hoặc có quyết định pháp lý về cổ tức được hưởng:

Nợ: Tài khoản thích hợp (tiền mặt, tiền gửi, trung gian )

Có: Tài khoản thu lãi đầu tư chứng khoán vốn

Dự phòng giảm giá trị: Theo quy định hiện

hành tại Thông tư 228/TT-BTC ngày 7/12/2009 của Bộ Tài chính và Thông tư 89/TT-BTC ngày 28/6/2013, việc trích lập dự phòng tổn thất đối với các khoản chứng khoán kinh doanh phải tuân thủ các điều kiện sau:

- Đối tượng: Là các chứng khoán có đủ các điều kiện sau:

+ Là các loại chứng khoán được doanh nghiệp đầu tư theo đúng quy định của pháp luật

+ Được tự do mua bán trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập báo cáo tài chính có giá thị trường giảm so với giá đang hạch toán trên sổ kế toán

Những chứng khoán không được phép mua bán tự do trên thị trường như các chứng khoán bị

Trang 3

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

hạn chế chuyển nhượng theo quy định của pháp

luật; cổ phiếu quỹ thì khơng được lập dự phịng

giảm giá

Các tổ chức đăng ký hoạt động kinh doanh

chứng khốn như các cơng ty chứng khốn, cơng

ty quản lý quỹ được thành lập và hoạt động theo

quy định của Luật Chứng khốn, việc trích lập dự phịng giảm giá chứng khốn thực hiện theo quy định riêng

- Mức trích lập dự phịng giảm giá đầu tư chứng khốn được xác định dựa vào giá thị trường của chứng khốn và tính theo cơng thức sau:

Mức dự phịng

giảm giá đầu tư

chứng khốn

=

Số lượng chứng khốn bị giảm giá tại thời điểm lập báo cáo tài chính

X

Giá chứng khốn hạch tốn trên sổ

kế tốn

-Giá chứng khốn thực tế trên thị trường

Giá thị trường của chứng khốn được xác định

trong các trường hợp như sau:

+ Đối với chứng khốn đã niêm yết: Giá chứng

khốn thực tế trên thị trường được tính theo giá

thực tế trên các Sở Giao dịch Chứng khốn Hà Nội

(HNX) là giá giao dịch bình quân tại ngày trích lập

dự phịng; Sở Giao dịch Chứng khốn Thành phố

Hồ Chí Minh (HOSE) là giá đĩng cửa tại ngày trích

lập dự phịng

+ Đối với các loại chứng khốn chưa niêm yết

trên thị trường chứng khốn, giá chứng khốn thực

tế trên thị trường được xác định như sau:

> Đối với các Cơng ty đã đăng ký giao dịch trên

thị trường giao dịch của các cơng ty đại chúng chưa

niêm yết (UPCom) thì giá chứng khốn thực tế

trên thị trường được xác định là giá giao dịch bình

quân trên hệ thống tại ngày lập dự phịng

> Đối với các Cơng ty chưa đăng ký giao dịch ở

thị trường giao dịch của các cơng ty đại chúng thì

giá chứng khốn thực tế trên thị trường được xác

định là giá trung bình trên cơ sở giá giao dịch được

cung cấp tối thiểu bởi ba (03) cơng ty chứng khốn

tại thời điểm lập dự phịng

Trường hợp khơng thể xác định được giá

trị thị trường của chứng khốn thì các doanh

nghiệp khơng được trích lập dự phịng giảm giá

chứng khốn

+ Đối với những chứng khốn niêm yết bị hủy

giao dịch, ngừng giao dịch kể từ ngày giao dịch thứ

sáu trở đi là giá trị sổ sách tại ngày lập bảng cân đối

kế tốn gần nhất

Hạch tốn dự phịng:

Trường hợp phải trích lập thêm:

Nợ Tài khoản chi dự phịng giảm giá chứng khốn

Cĩ Tài khoản dự phịng giảm giá chứng khốn Trường hợp hồn nhập dự phịng:

Nợ Tài khoản dự phịng giảm giả chứng khốn

Cĩ Tài khoản chi dự phịng giảm giá chứng khốn

Dừng ghi nhận: Nếu IAS 39 cĩ những quy định

tương đối chi tiết về việc dừng ghi nhận thì các hướng dẫn hiện hành của Việt Nam hầu như chỉ

đề cập đến việc dừng ghi nhận khi thanh lý hoặc nhượng bán Trong đĩ, chênh lệch giữa số tiền thực thu (giá bán trừ chi phí giao dịch, nếu cĩ) với giá trị ghi sổ được hạch tốn:

Trường hợp chênh lệch dương (cĩ lãi):

Nợ: Tài khoản thích hợp (tiền mặt, tiền gửi, trung gian ): Số tiền thực thu

Cĩ: Tài khoản thu về kinh doanh chứng khốn:

Số chênh lệch thừa Cĩ: Tài khoản chứng khốn kinh doanh: Giá ghi sổ (giá gốc)

Trường hợp chênh lệch âm (bị lỗ):

Nợ: Tài khoản thích hợp (tiền mặt, tiền gửi, trung gian ): Số tiền thực thu

Nợ: Tài khoản chi về kinh doanh chứng khốn:

Số chênh lệch thiếu Cĩ: Tài khoản Chứng khốn kinh doanh: Giá ghi sổ (giá gốc)

Trang 4

tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Liên quan đến thực tế áp dụng tại các ngân hàng

hiện nay, thông qua khảo sát các Báo cáo tài chính

hợp nhất đã kiểm toán của các ngân hàng để nghiên

cứu các chính sách kế toán ngân hàng công bố về

việc ghi nhận chứng khoán kinh doanh Việc khảo

sát được thực hiện trên 31 ngân hàng thương mại

trong tổng số 35 ngân hàng thương mại của Việt

Nam (loại trừ 3 ngân hàng là Ngân hàng thương

mại cổ phần Đại Dương, Ngân hàng thương mại

cổ phần Xây dựng, Ngân hàng thương mại cổ phần

Dầu khí Toàn cầu được Ngân hàng Nhà nước mua

lại với giá 0 đồng và Ngân hàng thương mại cổ

phần Đông á hiện đang vướng vào các vụ bê bối

đang được đưa ra xét xử, không công bố báo cáo tài

chính trong vài năm trở lại đây) Trong tổng số 31

ngân hàng khảo sát có 9 ngân hàng không có các

khoản đầu tư vào chứng khoán kinh doanh, 1 ngân

hàng là Ngân hàng Nam á chỉ công bố Bảng cân

đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh và Báo cáo

Lưu chuyển tiền tệ mà không công bố Thuyết minh

Báo cáo tài chính Như vậy, qua khảo sát chính

sách kế toán đối với chứng khoán kinh doanh tại

21 ngân hàng tác giả tóm tắt được các chính sách

ghi nhận như sau:

Ghi nhận ban đầu

21/21 ngân hàng (100%) ghi nhận ban đầu các

khoản chứng khoán kinh doanh theo giá gốc

Trong quá trình nắm giữ

21/21 ngân hàng (100%) ghi nhận các khoản

chứng khoán kinh doanh theo giá gốc trừ trường

hợp có suy giảm giá trị tài sản

Ghi nhận lãi từ chứng khoán nợ phân loại vào

nhóm chứng khoán kinh doanh:

+ 4/21 (19%) ngân hàng không công bố chính

sách ghi nhận lãi phát sinh từ chứng khoán nợ

thuộc nhóm chứng khoán kinh doanh

+ 16/21 (76%) ngân hàng ghi nhận lãi phát sinh

từ chứng khoán nợ thuộc nhóm chứng khoán kinh

+ 1/21 (5%) ngân hàng ghi nhận lãi phát sinh

từ chứng khoán nợ thuộc nhóm chứng khoán kinh doanh theo dự thu

Ghi nhận cổ tức từ chứng khoán vốn phân loại vào nhóm chứng khoán kinh doanh:

+12/21 (57%) ngân hàng ghi nhận cổ tức phát sinh từ chứng khoán vốn theo thực thu

+ 6/21 (28%) ngân hàng không công bố chính sách ghi nhận cổ tức phát sinh từ chứng khoán vốn thuộc nhóm chứng khoán kinh doanh

+ 2/21 (10%) ngân hàng không có chứng khoán vốn thuộc chứng khoán kinh doanh

+ 1/21 (5%) ngân hàng ghi nhận cổ tức từ chứng khoán vốn thuộc chứng khoán kinh doanh theo dự thu

Giảm giá trị:

Đối với chứng khoán nợ: 21/21 (100%) ngân

hàng công bố rằng căn cứ trích lập đầu tiên là dựa vào giá thị trường của chứng khoán, trong đó 15/21 (71%) ngân hàng công bố nếu không xác định được giá thị trường (tức là chứng khoán không niêm yết) thì sẽ lập dự phòng rủi ro tín dụng được quy định bởi Thông tư 02 và 09, 3/21 ngân hàng công bố nếu không xác định được giá thị trường thì không trích lập dự phòng và khoản đầu tư được trình bày theo giá gốc, còn lại 3/21 ngân hàng thì không nói rõ nếu không xác định được giá thị trường thì có trích lập dự phòng không, nếu có thì căn cứ vào tiêu chí nào để trích

Đối với chứng khoán vốn:

+ 2/21 (10%) ngân hàng không có chứng khoán vốn thuộc chứng khoán kinh doanh

+ 4/21 (20%) ngân hàng không công bố nếu không xác định được giá thị trường thì có trích lập

dự phòng hay không + 15/21 (70%) ngân hàng công bố rõ nếu không xác định được giá thị trường thì không trích lập

dự phòng

Trang 5

NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI

3 Tồn tại và kiến nghị

Như vậy, cĩ thể nhận thấy kế tốn chứng khốn

kinh doanh tại các Ngân hàng thương mại tồn tại

một số vấn đề sau:

- Việc ghi nhận lãi và cổ tức phát sinh từ chứng

khốn nợ và chứng khốn vốn đang được phân loại

vào mục chứng khốn kinh doanh cịn nhiều sai

sĩt Một số ngân hàng cơng bố rằng ghi nhận lãi

phát sinh từ chứng khốn nợ theo dự thu Điều này

đi ngược lại các quy định hiện hành về ghi nhận lãi

phát sinh từ chứng khốn nợ thuộc nhĩm chứng

khốn kinh doanh Một số khác lại ghi nhận cả lãi

và cổ tức phát sinh từ chứng khốn nợ và chứng

khốn vốn theo thực thu Điều này cũng khơng

đúng vì cả IFRS và Việt Nam đều quy định cổ tức

được ghi nhận khi quyền pháp lý về cổ tức được

thiết lập Một số Ngân hàng khác thậm chí khơng

cơng bố chính sách ghi nhận lãi và cổ tức từ chứng

khốn kinh doanh

- Giảm giá trị chứng khốn kinh doanh và lập

dự phịng: Qua khảo sát chúng ta cĩ thể nhận thấy

việc xác định và trích lập dự phịng đối với chứng

khốn kinh doanh cịn chưa cĩ sự nhất quán:

+ Đối với chứng khốn nợ, một số ngân hàng

coi giá thị trường là căn cứ đầu tiên, nếu khơng xác

định được giá thị trường (trái phiếu chưa niêm yết)

thì sẽ coi đây là một khoản cho vay và trích lập dự

phịng rủi ro tín dụng theo quy định của Thơng tư

02 và Thơng tư 09; một số ngân hàng khác cơng bố

khơng trích lập dự phịng nếu khơng xác định được

giá thị trường, cịn một số khác khơng cơng bố rõ

cĩ trích lập dự phịng hay khơng và nếu cĩ thì cơ

sở trích lập là gì

+ Đối với chứng khốn vốn: một số ngân

hàng cơng bố nếu khơng xác định được giá thị

trường thì sẽ khơng trích lập dự phịng và một

số ngân hàng khác thì khơng cơng bố rõ cĩ trích

lập dự phịng hay khơng và nếu cĩ thì cơ sở trích

lập là gì

Từ các tồn tại như trên, tác giả xin đưa ra một

số kiến nghị như sau:

Đối với việc ghi nhận lãi và cổ tức phát sinh từ chứng khốn nợ và chứng khốn vốn

Đề nghị các ngân hàng thương mại nhất quán ghi nhận lãi phát sinh từ chứng khốn nợ khi thu được tiền (nguyên tắc thực thu) và ghi nhận cổ tức

từ chứng khốn vốn khi thu tiền hoặc khi quyền pháp lý đối với cổ tức được xác nhận (nguyên tắc

cơ sở dồn tích) theo đúng quy định hiện hành của

cả Việt Nam và quốc tế Lý do của việc ghi nhận trên là vì đối với chứng khốn nợ, ghi nhận thu nhập bằng cách dự thu đối với lãi phát sinh mà chưa thu được là khơng cần thiết vì đây là chứng khốn kinh doanh, mua vào với mục đích bán ra trong ngắn hạn nên rất cĩ thể chứng khốn sẽ được bán trước khi đến kỳ thu lãi, do vậy cĩ thể khơng thu được lãi đã dự thu Cịn đối với chứng khốn vốn, khi quyền pháp lý về nhận cổ tức đã được xác lập thì dù chủ sở hữu cĩ bán cổ phiếu đi thì vẫn

cĩ quyền nhận cổ tức Do vậy, ghi nhận khoản thu nhập tương ứng với phải thu khi quyền nhận cổ tức được xác lập là hồn tồn hợp lý

Tuy nhiên, nếu chỉ ghi nhận lãi của chứng khốn nợ theo thực thu mà vẫn giữ nguyên các quy định khác như ghi nhận các khoản chứng khốn kinh doanh theo giá gốc kèm theo trích lập dự phịng khi giá thị trường thấp hơn giá trị ghi sổ thì việc ghi nhận thu nhập lãi phát sinh từ chứng khốn nợ thuộc nhĩm chứng khốn kinh doanh theo thực thu như hiện nay lại trở nên khơng hợp

lý Bởi thoạt nhìn thì việc ghi nhận này khá tương đồng với IFRS vì IFRS cũng áp dụng nguyên tắc thực thu để ghi nhận thu nhập lãi từ chứng khốn

nợ thuộc nhĩm chứng khốn kinh doanh Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ hơn sẽ nhận thấy sự khác biệt giữa Việt Nam và IFRS dù cùng áp dụng thực thu IFRS chỉ ghi nhận thu nhập lãi khi đã thu được bằng tiền chứ khơng ghi nhận thu nhập lãi dự thu khi đến kỳ là bởi: Chứng khốn kinh doanh là loại nắm giữ để bán trong ngắn hạn nên cĩ thể chứng khốn này sẽ được bán trước khi kỳ thu lãi, vậy nên việc ghi nhận một khoản dự thu là khơng cần thiết Và việc khơng ghi nhận lãi dự thu như vậy sẽ

Trang 6

chứng khoán kinh doanh vì đến cuối kỳ khi lập báo

cáo tài chính, chứng khoán kinh doanh được đánh

giá theo giá trị hợp lý, số lãi phát sinh nhưng chưa

thu được sẽ tác động tới giá trị hợp lý của chứng

khoán và được ghi nhận vào thu nhập khi đánh giá

chứng khoán theo giá trị hợp lý Việt Nam không

dự thu trong khi không điều chỉnh theo giá trị hợp

lý trong trường hợp chứng khoán tăng giá thì tại

thời điểm lập báo cáo tài chính không phản ánh hết

lợi ích (thu nhập) của người nắm giữ chứng khoán

cũng như giá trị của chứng khoán

Vì thế, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước

nên tiến tới áp dụng nguyên tắc hạch toán theo giá

trị hợp lý thay vì giá gốc đối với chứng khoán kinh

doanh, đặc biệt là đối với các chứng khoán đã niêm

yết Lý do là vì việc chỉ thực hiện ghi nhận khi giảm

giá trị đối với chứng khoán kinh doanh mà không

điều chỉnh khi chứng khoán tăng giá là quá thận

trọng, chưa phản ánh đúng giá trị thực của công

cụ này Nhất là trong lộ trình bắt buộc các ngân

hàng thương mại áp dụng Chuẩn mực quốc tế để

lập và trình bày báo cáo tài chính trong 5-7 năm tới

đây thì việc áp dụng sớm quy định điều chỉnh các

chứng khoán nắm giữ để bán theo giá trị hợp lý là

việc nên làm Khi đó, những thay đổi về giá trị hợp

lý được ghi nhận là lãi hay lỗ trên báo cáo kết quả

kinh doanh:

Nợ/Có: Tài khoản Chứng khoán kinh doanh

Nợ/Có: Tài khoản Thu/Chi về kinh doanh

chứng khoán

Đối với việc giảm giá trị và lập dự phòng chứng

khoán kinh doanh

Việc áp dụng một cách thiếu nhất quán các quy

định về xác định giảm giá trị và lập dự phòng đối với

chứng khoán kinh doanh tại các ngân hàng thương

mại Việt Nam hiện nay như đã chỉ ra ở phần 2 một

phần xuất phát từ việc thiếu các hướng dẫn đồng

bộ và logic của các quy định pháp lý hiện hành

Một trong số đó là Việt Nam hiện tại vẫn chưa ban

hành chuẩn mực kế toán về suy giảm giá trị dẫn tới

Các văn bản pháp quy về trích lập dự phòng hiện tại là thông tư 228 và 89 hầu như chỉ đề cập đến căn cứ để trích lập dự phòng theo giá thị trường Như vậy, đây thực chất là dự phòng giảm giá chứ chưa đúng nghĩa là giảm giá trị Bởi giá thị trường, theo quy định của thông tư 228, được xác định chủ yếu thông qua giá niêm yết trên thị trường chứng khoán hay sàn UpCom hoặc được cung cấp bởi 3 công ty chứng khoán và trong nhiều trường hợp giá này không phản ánh một cách đầy đủ và hợp lý giá trị của chứng khoán Điều này một phần cũng bởi Việt Nam chưa ban hành chuẩn mực kế toán về giá trị hợp lý Chính những bất cập và thiếu đồng

bộ trong quy định hiện hành đã dẫn tới việc mỗi ngân hàng lại có một cách làm khác nhau theo cách hiểu của riêng mình Vì vậy, Việt Nam cần sớm bán hành các chuẩn mực về suy giảm giá trị hay tổn thất tài sản, chuẩn mực giá trị hợp lý và các chuẩn mực về công cụ tài chính Từ đó, việc hạch toán các chứng khoán nắm giữ để bán hay chứng khoán kinh doanh sẽ được thực hiện theo xu thế chung của quốc tế là theo giá trị hợp lý IFRS không đưa ra khái niệm giảm giá trị riêng cho chứng khoán kinh doanh Bất kỳ sự suy giảm giá trị nào đều được thể hiện vào giá trị hợp lý của chứng khoán, và do đó

đã được phản ánh vào các báo cáo tài chính thông qua việc phản ánh các chứng khoán theo giá trị hợp lý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Thông tư 200/2014/TT-BTC về chế độ kế toán doanh nghiệp;

2 Thông tư 228/2009/TT-BTC và Thông tư 89/2013/TT-BTC về trích lập dự phòng;

3 Công văn 7459/NHNN-KTTC về hướng dẫn hạch toán nghiệp vụ kinh doanh, đầu

tư chứng khoán;

4 IAS 39: Công cụ tài chính - Ghi nhận và Đo lường;

5 IFRS9: Công cụ tài chính.

Ngày đăng: 27/10/2020, 06:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w