1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Kinh nghiệm quản lý và xử lý rác thải, nước thải trên thế giới vì sự phát triển bền vững và những gợi mở cho Việt Nam

7 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 354,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc xem xét, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và xử lý nước thải trên thế giới, bài viết mong muốn đề xuất, gợi mở một số hướng cho công tác xử lý chất thải rắn và nước thải tại Việt Nam hướng tới mục tiêu chung là phát triển bền vững toàn diện về cả hai mặt kinh tế và môi trường.

Trang 1

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI, NƯỚC THẢI TRÊN THẾ GIỚI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ NHỮNG GỢI MỞ CHO VIỆT NAM

PGS.TS BùI QUốC LẬP1

TS NGƠ TRÀ MAI2 ThS NGUYỄN THị PHƯơNG LAN1

1 Trường Đại học Thủy Lợi; 2 Viện Vật lý - Viện Hàn lâm Khoa học và Cơng nghệ Việt Nam

1 Đặt vấn đề

Đối với chất thải rắn, cĩ nhiều cách thức phân

loại rác thải, tuy nhiên thơng thường phân chia

theo nguồn gốc phát sinh là: Sinh hoạt, cơng nghiệp

và nguy hại Theo số liệu do cơ quan bảo vệ mơi

trường Hoa Kỳ (USEPA) đưa ra năm 2018 lượng

rác thải sinh hoạt phát sinh bình quân ở các nước phát triển là 1,4-1,6kg/người/ngđ; ở các nước đang phát triển, trong đĩ cĩ Việt Nam là từ 0,8-1,2 kg/ người/ngđ Cĩ nhiều số liệu thống kê khác nhau về rác cơng nghiệp và nguy hại hàng năm, tuy nhiên theo cơng bố mới nhất của Ngân hàng Thế giới

Trong khi các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam đạt được những thành tựu đáng kể

trong phát triển kinh tế, tuy nhiên, họ cũng đang phải đối mặt với các vấn đề mơi trường liên quan đến nước thải và rác thải Rõ ràng là suy thối mơi trường nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến con người cũng như hệ sinh thái xung quanh chúng ta Nĩi một cách đơn giản, các nước trên thế giới cần phát triển kinh tế mà khơng hủy hoại mơi trường.

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, WB đã cảnh báo về một cuộc khủng khoảng rác thải, nước thải đang ngày càng nghiêm trọng và tạo gánh nặng khổng lồ về tài chính cũng như mơi trường cho Chính phủ các nước Nhận thức được điều đĩ hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới đã từng bước xây dựng các chính sách về tài chính, luật pháp; nghiên cứu cơng nghệ để xử lý chất thải, nước thải và thu được nhiều thành quả Thơng qua việc xem xét, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý và xử lý nước thải trên thế giới, bài viết mong muốn đề xuất, gợi mở một số hướng cho cơng tác xử lý chất thải rắn và nước thải tại Việt Nam hướng tới mục tiêu chung là phát triển bền vững tồn diện về cả hai mặt kinh tế và mơi trường.

Từ khĩa: Quản lý và xử lý rác thải và nước thải.

International experience in management and handle of waste and waste water for sustainable development andsuggestions for Vietnam

While countries around the world and Vietnam have achieved remarkable achievements in economic development, they are also facing environmental issues related to waste and waste water It is clear that serious environmental degradation affects the people and the ecosystem around us Countries around the world need economic development without destroying the environment

Right from the early years of the 20th century, the World Bank warned of a crisis of waste and wastewater which is becoming more and more serious and creating a huge financial and environmental burden for governments of other countries Recognizing the threats, most developing countries in the world have gradually developed financial and legal policies, technology research to treat waste and wastewater and gained a lot of success

Through reviewing and researching experience in wastewater management and treatment in the world, the article desires to proposesome solutions for solid waste and wastewater treatment in Vietnam towards the common goal which is comprehensive and sustainable development both in economic and environmental issues

key words: Management and handle waste and wastewater.

Trang 2

QUẢN LÝ RÁC THẢI, NƯỚC THẢI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ VAI TRÒ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

(WB) thì con số này là khoảng 2 tỷ tấn rác cơng

nghiệp khơng nguy hại và khoảng gần 200 triệu tấn

rác nguy hại

Đối với nước thải, để đơn giản, USEPA chỉ đưa

ra 02 loại chính là: nước thải cơng nghiệp và nước

thải sinh hoạt Nước thải sinh hoạt cũng được

tính dựa trên đầu người là 200l/người/ngđ đối với

các nước phát triển và 80-120l/người/ngđ đối với

các nước đang phát triển Nước thải cơng nghiệp

chưa cĩ con số ước tính cụ thể, tuy nhiên, dựa

vào cơng suất khai thác nước mặt, nước ngầm để

ước tính và con số được đưa ra là hàng tỷ m3/

ng.đ Trong số đĩ, chỉ cĩ khoảng 30% là được xử

lý triệt để, khoảng 70% là được xử lý nhưng chưa

đạt yêu cầu

Ở Việt Nam, sự gia tăng dân số cùng với phát

triển kinh tế - xã hội đã kéo theo nhu cầu tiêu dùng

hàng hĩa, nguyên vật liệu, năng lượng, đồng thời

làm gia tăng lượng phát sinh chất thải rắn, nước

thải với thành phần ngày càng phức tạp đã và đang

gây khĩ khăn cản trở quá trình phát triển bền vững

ở Việt Nam

Nhận thức được vấn đề đĩ, quản lý chất thải

luơn là một trong những nội dung trọng tâm trong

cơng tác quản lý mơi trường ở Việt Nam Vì vậy,

cần thiết phải tiếp tục cĩ những giải pháp hữu ích,

hiệu quả hơn trong cơng tác bảo vệ mơi trường đặc

biệt là đối với 02 vấn đề mấu chốt là chất thải rắn

và nước thải

2 kinh nghiệm quản lý và xử lý rác thải, nước thải trên thế giới

Đối mặt với cảnh báo về cuộc khủng hoảng rác thải, nước thải tồn cầu các quốc gia lớn trên thế giới đã cĩ những biện pháp quản lý và xử lý rác thải phù hợp với điều kiện riêng

Ở các nước phát triển tập trung chủ yếu tại Châu Âu, cơng tác xử lý nước thải, rác thải đã được phân tích khá nhiều trong các tài liệu chuyên ngành Trong phạm vi của bài viết chúng tơi muốn tập trung phân tích sâu vào một số nước khu vực Châu á, để cĩ thể dễ dàng học tập và áp dụng vào Việt Nam, nơi cĩ điều kiện kinh tế, xã hội, văn hĩa,

tự nhiên tương đồng hơn

2.1 Ở Nhật Bản, xử lý rác thải, nước thải được thực hiện hiệu quả nhờ thực hiện thành cơng hệ thống phân loại rác, phân tách xử lý từng nguồn nước thải và tiếp theo là áp dụng cơng nghệ xử lý, tái chế, tuần hồn hiện đại Ví dụ như đối với rác thải ở Tokyo, hệ thống phân loại rất phức tạp, tất cả rác cĩ thể đốt cháy được yêu cầu đựng vào túi đỏ, rác khơng thể đốt cháy đựng trong túi màu xanh dương trong khi giấy, nhựa, chai lọ, nhựa mềm, báo, bìa, thủy tinh và pin đựng ở túi màu trắng

Trang 3

ngầm khan hiếm, nên 80% các doanh nghiệp và

các thành phố lớn của Nhật đều tái tuần hoàn nước

thải Tỷ lệ cấp nước bổ sung chỉ chiếm khoảng 30%,

đa phần do bay hơi, thẩm thấu

Đối với các chính sách pháp luật của Nhật về

công tác bảo vệ môi trường phải kể đến: Năm 1970

Luật Kiểm soát ô nhiễm (Luật số 138) đã được ban

hành Trong phạm vi Luật này, Bộ Môi trường đã

thiết lập các tiêu chuẩn chất lượng môi trường

nước mặt và nước ngầm, trong đó, có tiêu chuẩn về

môi trường chất lượng nước thải; các quy định ngặt

nghèo và chặt chẽ về yêu cầu bắt buộc phân loại

trong thu gom chất thải rắn (chất thải rắn) Những

tiêu chuẩn này được áp dụng cho tất cả các đối

tượng kể cả người dân, doanh nghiệp và trên khắp

các vùng miền kể cả nông thôn lẫn thành thị Tuy

nhiên, chính quyền địa phương tại một số vùng đã

đề ra được những tiêu chuẩn chặt chẽ hơn cả tiêu

chuẩn quốc gia dành cho địa phương, ví dụ như

vùng vịnh Tokyo, Ise hay biển nội địa Seto

Luật Môi trường cơ bản (ban hành tháng 11/1993),

quy định kiểm soát lượng nước thải từ nhà máy; giám

sát chất thải đầu ra Giám sát liên tục đối với chất thải

đầu ra, giải pháp cho nước thải hộ gia đình trong duy

trì và xây dựng hệ thống thoát nước, trang thiết bị xử

lý nước thải khu vực nông thôn, bể tự hoại

Giao trách nhiệm thực thi các công tác bảo vệ

môi trường cho Bộ trưởng Bộ Môi trường, tỉnh

trưởng và các thị trưởng của các thành phố Chính

quyền cấp Trung ương và địa phương hợp tác chặt

chẽ nhằm bảo vệ chất lượng nước, xử lý triệt để

lượng chất thải rắn phát sinh tuân theo 3 Luật (Luật

Kiểm soát ô nhiễm, Luật Các biện pháp đặc biệt

bảo tồn môi trường biển nội địa Seto và Luật Các

biện pháp đặc biệt bảo tồn chất lượng nước hồ)

Bên cạnh các chính sách, pháp luật về kiểm soát

xử lý chất thải rắn, nước thải, Chính phủ và các cấp

chính quyền địa phương cũng như nhân dân Nhật

Bản rất nỗ lực trong việc làm sạch môi trường Tại

Nhật, có hàng nghìn tổ chức phi Chính phủ hoạt

động trong lĩnh vực môi trường, hàng trăm tờ báo

chuyên về môi trường, về xử lý chất thải và bảo tồn

đa dạng sinh học Khắp nơi trên đất nước Nhật

là các thông điệp về bảo vệ môi trường trên mọi

vào nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân Nhật Bản về trách nhiệm đối với môi trường và cuộc sống, vì thế hệ mai sau

Một ví dụ khác cho công tác bảo vệ môi trường được thực thi tốt ở Nhật là: Tại Việt Nam, năm 2019 mới bắt đầu đẩy mạnh tuyên truyền đối với chất thải nhựa, tuy nhiên ở Nhật Bản, công tác này đã được đẩy mạnh từ trước đó Điển hình như, chai lọ PET chưa trải qua quá trình lọc có thể được chuyển thành sợi may quần áo, túi, thảm và áo mưa Đồng thời, Chính phủ đánh thuế rất cao cho các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm từ nhựa mà không

có công nghệ tái chế, đồng thời miễn giảm nhiều loại thuế khi thu mua và tái chế các sản phẩm nhựa trong nước Chính phủ Nhật cũng tuyên chiến và nói không với việc nhập khẩu và tái chế các sản phẩm như: Giấy, nhựa

2.2 Tại Đông Nam Á, nếu nói về hiệu quả trong công tác xử lý chất thải và nước thải phải kể đến Singapore Singapore là nước thành công lớn nhất trong cả hai lĩnh vực là nước thải và rác thải, nói riêng, hay là công tác bảo vệ môi trường, nói chung Bên cạnh việc phân loại rác tại nguồn từ các

hộ gia đình; các doanh nghiệp nhà máy đều tái sử dụng phế liệu và tiết kiệm nguyên nhiên liệu đầu vào Nước thải sau khi được xử lý cục bộ tại nguồn phát sinh, Chính phủ sẽ thu gom, xử lý tập trung

và kiểm soát trước khi đổ thải ra các thủy vực tiếp nhận Singapore cũng ban hành hàng loạt các văn bản liên quan bảo vệ môi trường:

- Đạo luật về môi trường và sức khoẻ cộng đồng: Đạo luật này bao hàm các vấn đề về tiếng ồn, vệ sinh công cộng, chất thải rắn, nước thải, chất thải độc hại và việc kiểm soát kinh doanh thực phẩm

Để thi hành Đạo luật này có 14 văn bản hướng dẫn thi hành

- Đạo luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường: Đạo luật này điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường và các hoạt động có mục đích liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường

- Đạo luật về hệ thống cống tiêu thoát nước: Đạo luật này được ban hành nhằm điều chỉnh việc xây dựng, duy trì và cải tạo nâng cấp các hệ thống cống

Trang 4

QUẢN LÝ RÁC THẢI, NƯỚC THẢI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ VAI TRÒ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

rãnh và hệ thống tiêu thốt nước dưới mặt đất điều

chỉnh việc xử lý nước thải thương mại cũng như các

vấn đề liên quan đến các hoạt động nêu trên

Để đảm bảo cho các đạo luật cĩ hiệu lực thi

hành, Singapore đã đặt ra các biện pháp cưỡng chế

khác nhau cho các mức vi phạm pháp luật về mơi

trường như sau:

- Biện pháp xử lý hình sự: Pháp luật mơi trường

Singapore lấy chế tài hình sự là cơng cụ cơ bản để

thực thi, biện pháp này được áp dụng đối với người

bị kết án phạt tiền, phạt tù, bắt bồi thường và đối

với những vi phạm nhỏ thì phạt cải tạo lao động

bắt buộc (chỉ áp dụng với những bị cáo đủ 16 tuổi

trở lên và đủ tiêu chuẩn y tế) Cụ thể là:

+ Hình phạt tiền: Đây là hình phạt phổ biến nhất

trong các đạo luật về mơi trường của Singapore,

phạt tiền được xem là cơng cụ hữu hiệu trong việc

tăng cường hiệu lực pháp luật về bảo vệ mơi trường

của Singapore Theo các đạo luật ở Singapore thì cĩ

nhiều mức độ phạt tiền khác nhau, tùy thuộc vào

các đạo luật khác nhau và mức độ nguy hiểm của

hành vi gây ra Ví dụ trường hợp đổ rác nơi cơng

cộng, nếu bị Tịa án kết tội thì người vi phạm sẽ bị

phạt đến 10.000$ với vi phạm lần đầu và nếu tái

phạm sẽ bị phạt tới 20.000$

Ngồi ra, các đạo luật về mơi trường của

Singapore cũng quy định phạt tiền một cách rất

linh hoạt đối với các vi phạm ít nghiêm trọng, đĩ

là việc cho phép người vi phạm trả một khoản tiền

thích hợp cho Bộ Mơi trường Singapore và vụ việc

sẽ tự kết thúc mà khơng phải đưa ra Tịa

+ Hình phạt tù: Đây là chế tài nghiêm khắc nhất

nhằm trừng trị những người vi phạm ngoan cố, khi

mà các hành vi phạm tội cĩ thể mang lại cho người

phạm tội những khoản lợi nhuận lớn nếu họ khơng

bị phát hiện và hình phạt tiền vẫn khơng ngăn chặn

được các hành vi mà người đĩ gây ra

+ Tạm giữ và tịch thu: Một số luật về mơi trường

quy định về việc tạm giữ và tịch thu các cơng cụ,

phương tiện được sử dụng vào việc phạm tội

+ Lao động cải tạo bắt buộc: Là biện pháp mà

qua thực tiễn thực thi pháp luật về mơi trường ở

Singapore cho thấy đây là một biện pháp hữu hiệu

để ngăn chặn các vi phạm nhỏ, những người vi

phạm đã bị áp dụng hình phạt lao động cải tạo bắt buộc ít khi lặp lại hành vi đã vi phạm, đặc biệt rất

ít người tái phạm Tịa án sẽ ra quyết định bắt buộc lao động cải tạo đối với người vi phạm, buộc họ phải thực hiện cơng việc nĩi trên dưới sự giám sát của các nhân viên giám sát, phù hợp với các quy định của pháp luật

+ Biện pháp hành chính: Tuy pháp luật Singapore xem chế tài hình sự là quan trọng nhất trong việc bảo vệ mơi trường nĩi chung và xử lý nước thải, chất thải nĩi riêng nhưng khơng vì thế mà xem nhẹ các chế tài hành chính và dân sự bởi nếu chỉ riêng chế tài hình sự thì khơng thể cĩ hiệu quả Khơng giống như các chế tài hình sự và dân sự thường là các biện pháp tức thời, các chế tài hành chính thường cĩ hiệu lực trong việc bảo đảm các biện pháp liên tục, đặc biệt là các hoạt động gây ơ nhiễm

Bên cạnh các chế tài về hình sự và hành chính, các Đạo luật mơi trường Singapore cũng quy định nhiều hình thức chế tài dân sự Cụ thể như: Yêu cầu cá nhân gây ơ nhiễm phải nộp phạt, bồi thường thiệt hại, chi phí và các khoản phí tổn mà cơ quan

cĩ thẩm quyền phải chịu để làm sạch mơi trường nếu cĩ các hành vi xả nước thải, rác thải và các chất thải khác chưa đạt chuẩn ra mơi trường Theo Điều

97 của Luật Bảo vệ mơi trường của Singapore thì Chính phủ cĩ thể thu giữ lại từ người sở hữu hoặc quản lý tài sản các phí tổn và chi phí đã được sử dụng trong quá trình thực hiện bất kỳ nào đã được quy định trong luật Trong vịng 14 ngày theo quy định, nếu chi phí này chưa được thanh tốn thì vụ việc sẽ được đưa ra Tịa

2.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia khác tại Châu Á

Trên thực tế, ngồi 02 nước làm tốt cơng tác bảo

vệ mơi trường như đã nêu ở trên, một số nước ở Châu á cũng đã làm tốt cơng tác xử lý nước thải và rác thải như: Thái Lan, Hàn Quốc

Hàn Quốc điển hình là thu phí đổ rác theo khối lượng, khoản tiền thu được dùng để hỗ trợ kinh phí cho việc chuyên chở rác và tái chế; phát triển cơng nghệ xử lý nước thải tạo nên “Kỳ tích sơng Hàn”, tái chế rác thải phục hồi bãi chơn lấp thành các cơng viên cây xanh (Dream Park)

Đối với Thái Lan, các quy định về bảo vệ mơi

Trang 5

Chất lượng môi trường Quốc gia năm 1992 với 7

chương, 115 điều đều đề cập đến vấn đề nước thải

và rác thải Điều đáng chú ý là Luật này dành hẳn

chương VII quy định về trách nhiệm hình sự gồm

14 tội liên quan đến bảo vệ môi trường và hình

phạt tương ứng cụ thể Ngoài Luật Tăng cường

và Bảo vệ Chất lượng môi trường Quốc gia, các

quy định về bảo vệ môi trường khác của Thái Lan

cũng được quy định tại một số luật chuyên ngành

khác có liên quan Ví dụ: Luật về Cảng, Luật Thủy

lợi công cộng có một số điều khoản liên quan đến

ngăn ngừa ô nhiễm nước Luật Thủy sản, Luật

Khoáng sản và Luật Dầu khí có quy định về kiểm

soát ô nhiễm biển, chất thải nguy hại, xả nước

thải Luật Nhà máy quy định về quản lý chất thải

công nghiệp

Như vậy có thể nói, chế tài, công nghệ, luật pháp

xử lý chất thải và nước thải ở Châu á khá đa dạng

Có quốc gia mạnh về các quy định pháp luật, có

quốc gia mạnh về công nghệ hoặc các giải pháp

khắc phục ô nhiễm Mỗi loại có những ưu điểm,

nhược điểm riêng và chỉ phù hợp với những điều

kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định Do đó, tìm

ra một phương án phù hợp với điều kiện Việt Nam

không phải là điều dễ dàng Tuy nhiên, với những

đánh giá ở mức độ chung nhất, bài viết đưa ra một

số kiến nghị như là các bài học kinh nghiệm hướng

tới mục tiêu phát triển chung cho Việt Nam

thải, nước thải cho Việt Nam

Việt Nam là quốc gia đang phát triển có mật độ dân số đứng thứ 3 ở Đông Nam á, thứ 14 trên thế giới Tính đến tháng 5/2017, cả nước đã có 802 đô thị với tỷ lệ đô thị hóa 36,6% Tốc độ đô thị hóa cao đang bộc lộ nhiều bất cập, không chỉ ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng mà còn phát sinh các vấn đề môi trường Khối lượng chất thải rắn phát sinh đã tăng nhanh chóng về số lượng, với thành phần ngày càng phức tạp gây khó khăn cho công tác thu gom, xử lý Đối với chất thải rắn sinh hoạt đô thị, lượng phát sinh phụ thuộc vào quy mô dân số đô thị Ước tính lượng chất thải rắn sinh hoạt ở các đô thị trên toàn quốc tăng 10% - 16% mỗi năm, chiếm phần lớn trong tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở các đô thị Chỉ số phát sinh chất thải cũng gia tăng theo cấp độ đô thị, đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh Công tác quản lý, xử lý chất thải rắn ở nước

ta thời gian qua chưa được áp dụng theo phương thức quản lý tổng hợp, các giải pháp giảm thiểu, tái

sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải còn chưa thực sự được chú trọng Điều này dẫn đến khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp cao, tại một số khu vực, chất thải chôn lấp ở các bãi chôn lấp tạm, lộ thiên, đã và đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe, hoạt động sản xuất của con người Việc phân loại tại nguồn mới thực hiện thí điểm, chưa được áp dụng rộng rãi Hoạt động tái chế

Trang 6

QUẢN LÝ RÁC THẢI, NƯỚC THẢI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ VAI TRÒ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC

rác thải vẫn cịn nhỏ lẻ, phần lớn mang tính tự phát,

chưa được quản lý và kiểm sốt chặt chẽ nên cĩ nguy

cơ gây ơ nhiễm mơi trường rất cao

Tỷ lệ xử lý chất thải rắn đơ thị cũng chưa đáp

ứng yêu cầu thực tế Đến tháng 11 năm 2016, cả

nước cĩ khoảng 35 nhà máy xử lý chất thải rắn tập

trung tại các đơ thị đi vào vận hành Phần lớn chất

thải rắn thơng thường vẫn được đổ thải và chơn lấp

tại các bãi chơn lấp

Cơng tác quản lý nước thải đang nhận được sự

quan tâm lớn của cộng đồng Các nguồn phát sinh

nước thải ngày càng đa dạng với lượng nước thải

phát sinh ngày càng nhiều đang đặt ra những thách

thức to lớn cho cơng tác quản lý nước thải Trong

đĩ, một số loại hình nước thải chính phải kể đến là

nước thải sinh hoạt, nước thải cơng nghiệp, nước

thải y tế và một số loại hình nước thải khác như

nước thải làng nghề, nước thải nơng nghiệp Tùy

theo khu vực, vùng miền mà tỷ lệ nước thải phát

sinh từ các nguồn là khác nhau Mặc dù việc thu

gom, xử lý nước thải đã được quan tâm thực hiện

và bước đầu đạt được những kết quả nhất định,

song, vẫn cịn nhiều khĩ khăn để quản lý hiệu quả

các loại hình nước thải

Những vấn đề trên đặt ra thách thức khơng nhỏ

cho các nhà hoạch định và thực thi các chính sách

quản lý tài nguyên và bảo vệ mơi trường, các doanh

nghiệp cũng như người dân trong giải quyết hài hịa

mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ mơi

trường nhằm hướng tới phát triển bền vững Vì

vậy, quản lý chất thải luơn là một trong những nội

dung trọng tâm trong cơng tác quản lý mơi trường

và nhận được rất nhiều sự quan tâm của Đảng và

Nhà nước Chính phủ đã cĩ nhiều biện pháp, đầu

tiên phải kể đến việc ban hành, sửa đổi hệ thống

chính sách pháp luật: Luật Bảo vệ mơi trường năm

2014; Chiến lược bảo vệ mơi trường quốc gia đến

năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược

quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm

2025 và tầm nhìn đến năm 2050 và các văn bản

dưới luật như Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày

24/4/2015 của Chính phủ phê duyệt về quản lý chất

thải và các Thơng tư hướng dẫn; Luật Tài nguyên

nước năm 2012; Nghị định số 80/2014/NĐ-CP về

thốt nước và xử lý nước thải

Vấn đề quy hoạch xử lý chất thải theo vùng đã được triển khai đối với loại hình chất thải rắn và chất thải nguy hại Ở cấp địa phương, hầu hết các tỉnh, thành phố đều đã lập và phê duyệt quy hoạch quản

lý chất thải rắn của địa phương mình, đây là một bước tiến lớn so với giai đoạn trước đĩ Trên cơ sở quy hoạch tổng thể quản lý chất thải rắn của các địa phương, rất nhiều chương trình, dự án về thu gom,

xử lý chất thải đã được triển khai, đem lại hiệu quả khá tốt cho cơng tác quản lý chất thải tại địa phương

Cụ thể: Năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh Chiến lược quốc gia về quản

lý tổng hợp chất thải rắn theo Quyết định số 419/ QĐ-TTg Tính đến tháng 12/2018 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt được Quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải rắn của 4 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung, phía Nam và vùng đồng bằng sơng Cửu Long, với 8 khu xử lý chất thải rắn liên vùng, liên tỉnh

Đối với nước thải, đã phê duyệt hàng loạt các quy hoạch hệ thống thốt nước và xử lý nước thải tại các vùng kinh tế trọng điểm: Quyết định số 1942/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống thốt nước và xử lý nước thải khu vực dân cư, khu cơng nghiệp thuộc lưu vực sơng Đồng Nai đến năm 2030; Quyết định số 681/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống thốt nước và xử lý nước thải khu vực dân cư, khu cơng nghiệp thuộc lưu vực sơng Nhuệ - sơng Đáy đến năm 2030; Quyết định số 228/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống thốt nước và xử lý nước thải khu vực dân cư, khu cơng nghiệp thuộc lưu vực sơng Cầu đến năm 2030

Ngồi ra, hàng loạt các chính sách về tài chính, cơng nghệ để nâng cao hiệu quả trong cơng tác quản lý và xử lý nước thải Tuy nhiên, hệ thống văn bản hiện nay vẫn chưa đầy đủ, cịn chồng chéo và chưa được thực thi triệt để

Cĩ thể nĩi, cơng tác quản lý chất thải tại Việt Nam cịn gặp nhiều vướng mắc Qua học hỏi kinh nghiệm thực thi các chính sách cũng như thực thi của các nước trên thế giới, nhĩm tác giả cĩ một số gợi mở giải pháp nâng cao hiệu quả cơng tác này như sau:

Trang 7

nguồn đối với tất cả các loại chất thải: nước thải,

khí thải, chất thải rắn Có các giải pháp công nghệ

phù hợp đối với từng loại hình chất thải, nước thải

tập trung Nên xử lý theo từng nhóm ngành công

nghiệp, khu dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi )

Sau khi xử lý cục bộ tiếp tục xử lý thứ cấp vì việc

tập trung nguồn thải sẽ giúp cho công tác quản lý

đầu ra dễ thực hiện hơn

Thứ hai, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện hệ

thống pháp luật về bảo vệ môi trường bảo đảm

thống nhất, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi

trường Ban hành các văn bản xử phạt với các

chế tài cụ thể, trong đó chỉ rõ cơ quan chịu trách

nhiệm thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường

Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, quán triệt và

triển khai các nội dung của Luật vào thực tiễn địa

phương, đặc biệt là những nội dung mới Kiện toàn

tổ chức và tăng cường năng lực cho các cơ quan

chuyên môn về bảo vệ môi trường tại địa phương;

chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tuyển

chọn cán bộ có chuyên môn phù hợp với yêu cầu

của công tác quản lý môi trường

Thứ ba, tăng cường đầu tư cho công nghệ xử

lý môi trường, tìm kiếm các công nghệ phù hợp

với điều kiện tự nhiên và xã hội của Việt Nam; ưu

tiên các công nghệ đã được áp dụng tại các nước

nêu trên; ưu tiên công nghệ xanh, sạch, tái chế phế

liệu Hợp tác với các tổ chức nghiên cứu khoa học ở

nước ngoài đề xuất hỗ trợ các nghiên cứu phù hợp

với Việt Nam

Ngoài ra, kiến nghị về công tác thanh tra, kiểm

tra, giám sát về môi trường; rà soát, khoanh vùng

các đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường,

rủi ro xảy ra sự cố môi trường và có các biện pháp

kiểm soát chặt chẽ hoạt động xả thải, phòng ngừa

các sự cố môi trường bằng các biện pháp kỹ thuật

– công nghệ phù hợp; xử lý dứt điểm các cơ sở gây

ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; xây dựng năng

lực ứng phó với sự cố môi trường, các vụ việc gây ô

nhiễm môi trường

4 kết luận

Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với

tình trạng môi trường ô nhiễm do rác và nước

trưởng kinh tế mà chấp nhận hy sinh môi trường sống, các nước đang phát triển thường có hệ thống quản lý chất thải không đầy đủ do thiếu nguồn lực tài chính, nhận thức yếu, hệ thống quản trị kém hiệu quả và đôi khi có các ứng dụng giải pháp công nghệ không phù hợp

Trong số các nước phát triển, Nhật Bản nổi lên như một trong số các quốc gia coi trọng bảo vệ môi trường vì sự nghiệp phát triển bền vững

Bên cạnh đó, Singapore cũng được xem là một hình mẫu về tăng trưởng bền vững đi đôi với bảo

vệ môi trường, xử lý tốt vấn đề rác thải; Hàn Quốc

và Thái Lan với các chương trình có sự hỗ trợ của Chính phủ về tái chế chất thải nên đã tương đối thành công trong công tác bảo vệ môi trường

Chính phủ Việt Nam trong những năm gần đây

đã có những bước tiến thành công trong công tác bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững Công tác quản lý chất thải rắn nên tập trung vào lựa chọn mô hình quản lý và công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt cho phù hợp dựa vào việc học hỏi một số vấn đề về các kinh nghiệm các nước Đồng thời, Việt Nam cần đánh giá ưu điểm cũng như tồn tại, hạn chế của các mô hình công nghệ xử

lý chất thải rắn hiện nay tại Việt Nam; các đề xuất, kiến nghị và giải pháp để tăng cường công tác quản

lý chất thải rắn sinh hoạt trong thời gian tới cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các biện pháp: Phân loại chất thải rắn tại nguồn, tái sử dụng nước thải, xây dựng chính sách môi trường nhất quán từ trung ương đến địa phương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh: Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005;

2 Urban Enrironmental Managenment Guidelines Thailand, 2014;

3 Localising Agenda 21 - Việt Nam, Action Planning for Sustainable Urban Development;

4 WB, Đánh giá hoạt động quản lý nước thải

đô thị tại Việt Nam, Hà Nội, 2013.

Ngày đăng: 27/10/2020, 06:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w