1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng quy hoạch cây xanh đô thị thành phố Thanh Hóa và đề xuất giải pháp phát triển hợp lý

16 180 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm trở lại đây, thành phố Thanh Hóa đang có những thay đổi về mặt cảnh quan đô thị. Đặc biệt là hệ thống cây xanh đô thị có sự đa dạng về chủng loại, tuy nhiên chưa được quy hoạch một cách hợp lý và không có loại cây đặc trưng. Vì vậy, nghiên cứu bước đầu đã đưa ra một số giải pháp về quy hoạch cây đặc trưng cho thành phố Thanh Hóa.

Trang 1

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG QUY HOẠCH CÂY XANH

ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ THANH HÓA VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN HỢP LÝ

ThS Nguyễn Thùy Linh

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Tóm tắt

Ngày nay khi các đô thị ngày càng phát triển thì hệ thống cây xanh ngày càng trở nên quan trọng Cây xanh là một thành phần trong các công trình kiến trúc, có vai trò hết quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề môi sinh Việc xây dựng, phát triển cây xanh đô thị giống như việc xây dựng lá phổi xanh cho thành phố giúp điều hòa không khí khi mà môi trường ngày càng ô nhiễm Đồng thời, hệ thống cây xanh đô thị còn là nơi tập trung các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí và văn hóa của người dân Trong những năm trở lại đây, thành phố Thanh Hóa đang có những thay đổi về mặt cảnh quan đô thị Đặc biệt là

hệ thống cây xanh đô thị có sự đa dạng về chủng loại, tuy nhiên chưa được quy hoạch một cách hợp lý và không có loại cây đặc trưng Vì vậy, nghiên cứu bước đầu

đã đưa ra một số giải pháp về quy hoạch cây đặc trưng cho thành phố Thanh Hóa

Từ khóa: cây xanh, quy hoạch, đô thị, Thanh Hóa

1 Tổng quan về nghiên cứu cây xanh đô thị

1.1 Nghiên cứu về cây xanh đô thị trên thế giới

Từ những thời kỳ sơ khai của nền văn minh nhân loại, cây xanh đã giữ một vai trò quan trọng về mặt trang trí cảnh quan Người Ai Cập, Brazil, Hy Lạp, Trung Hoa, và La Mã thường sử dụng cây xanh trong việc trang trí xung quanh cung điện, đền thờ và coi cây xanh là một vật linh thiêng Vườn thực vật được phát triển trong thời kỳ Trung Cổ tiêu biểu là khu vườn treo Babilon của Ai Cập Khi thương mại và giao thông phát triển, cây trồng được chuyển đi từ nước này sang nước khác và các vườn thực vật lớn nhỏ bắt đầu ra đời ở tất cả các quốc gia Kiểng cổ, Bonsai là các tác phẩm nghệ thuật đã có từ ngàn xưa trong các cung đình hay trong dân gian

Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, đô thị dần dần được hình thành và không ngừng phát triển Cùng với sự phát triển của đô thị là hệ thống cây xanh Vì cây xanh là một bộ phận quan trọng của các công trình kiến trúc, nhất là đối với các công trình kiến trúc đô thị

Đến giữa thế kỷ XX, do dân số tăng nhanh, sự phát triển của các ngành công nghiệp, sự gia tăng của các phương tiện giao thông làm cho môi trường đô thị bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Cho nên, chức năng của hệ thống cây xanh ngày càng trở nên quan trọng

Trang 2

1.2 Nghiên cứu về cây xanh đô thị ở Việt Nam

Đã từ lâu nhân dân ta sử dụng cây xanh với nhiều mục đích khác nhau như đem lại tạo bóng mát, lấy hoa quả, tạo cảnh quan cho nhà ở, cho xóm làng, cho khu di tích, cho đình chùa miếu mạo, cho dinh thự, cung đình.v.v Ngoài ra ông cha ta còn sử dụng cây xanh để tạo nên những hàng cây, dải cây chắn gió bão, chắn dòng nước lũ, chống giặc cướp bảo vệ sản xuất, bảo vệ đời sống của cộng đồng dân cư Nhìn chung thời kỳ đó còn mang tính tự phát, chủ yếu dựa vào kinh nghiệp dân gian của nhân dân ta

Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi các thành phố và đô thị ở nước ta được xây dựng và phát triển thì cây xanh đô thị- khu dân cư mới được hình thành một cách có hệ thống, mang tính đa dạng về loài, phong phú về sinh thái cảnh quan, về công dụng không gian xã hội đô thị Điển hình ở miền Bắc có thành phố Hà Nội với vườn bách thảo, vườn cây quanh phủ toàn quyền Đông Dương (nay là Phủ Chủ Tịch) được khởi công xây dựng từ năm 1890 và hoàn thành năm 1910 Các vườn cây khu biệt thự quận Ba Đình, vườn cây Pasteur (Viện vệ sinh dịch tễ), vườn cây khu bảo tàng lịch sử (Bác Cổ), vườn cây quanh nhà hát lớn và nhiều đường cây bên bờ hồ Hoàn Kiếm, hàng cây Sao đường Lò Đúc, hàng cây sấu đường Phan Đình Phùng, hàng cây Sưa đường Nguyễn Du, hàng cây xà cừ đường Láng tất cả được gây trồng hoàn chỉnh xanh tốt cho đến ngày nay Chính nhờ việc xây dựng vườm ươm sưu tập cây bản địa, cây nhập nội vào những năm 1916

Sớm hơn ở phía Nam, thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng từ những năm

1864, trong đó nổi bật có Thảo Cầm Viên do nhà thực vật học người Pháp J.B Louis Pie Rre đã tiến hành tạo dựng Ngoài ra còn có một số vườn cây Tao Đàn, vườn cây quanh Dinh Hội trường Thống Nhất, vườn trường Lê Quý Đôn, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai Vườn cây bệnh viên lao Phạm Ngọc Thạch, bệnh viện Nguyễn Trãi và nhiều đường cây xanh điển hình thuần loài mang một số đặc tính đặc sắc của thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa của nước ta

Từ rất sớm vấn đề cây xanh đô thị - khu dân cư đã được Đảng và nhà nước coi trọng Nhất là Bác Hồ đã dành sự quan tâm đặc biệt Bác đã từng phát động ngày Tết trồng cây vào mùng 5 tháng 1 (âm lịch) hằng năm

1.3 Chức năng của cây xanh đô thị

- Trước hết, hệ thống cây xanh có tác dụng cải thiện khí hậu vì chúng có khả năng ngăn chặn và lọc bức xạ mặt trời, ngăn chặn quá trình bốc hơi nước, giữ độ ẩm đất và độ ẩm không khí thông qua việc hạn chế bốc hơi nước, kiểm soát gió và lưu thông gió

giữ các chất khí bụi độc hại Ở vùng ngoại thành, cây xanh có tác dụng chống xói

Trang 3

mòn, điều hoà mực nước ngầm Cây xanh và thảm thực vật khác đóng một vai trò quan trọng trong việc làm suy giảm tiếng ồn thông qua phản xạ và hấp thụ năng lượng âm thanh Một ước tính cho thấy rằng mỗi đoạn rừng dày 30 m có thể làm giảm tiếng ồn 7db (Coder, 1996), trong khi các nghiên cứu khác báo cáo độ ồn giảm 50% nhờ các vành đai cây xanh rộng và đất mềm (Dwyer et al, 1992)

- Cây xanh có vai trò quan trọng trong kiến trúc và trang trí cảnh quan Những tính chất của cây xanh như: hình dạng (tán lá, thân cây), màu sắc (lá, hoa, thân cây, trạng mùa của lá ) là những yếu tố trang trí làm tăng giá trị thẩm mỹ của công trình kiến trúc cũng như cảnh quan chung

- Ngoài chức năng trang trí, tăng thêm vẻ đẹp thẩm mỹ cây xanh còn có tác dụng kiểm soát giao thông Việc kiểm soát giao thông bao gồm cả xe cơ giới và người đi bộ Các bụi thấp, bờ dậu, đường viền cây xanh trong vườn hoa công viên vừa có tác dụng trang trí vừa có tác dụng định hướng cho người đi bộ Hàng cây bên đường có tác dụng định hướng, nhất là vào ban đêm sự phản chiếu của các gốc cây được sơn vôi trắng là những tín hiệu chỉ dẫn cho người đi đường

- Số lượng cành nhánh chặt tỉa và đốn hạ những cây già cỗi không còn tác dụng là nguồn cung cấp gỗ củi cho dân dụng

Như vậy, ngoài chức năng là sinh vật sản xuất như trong các hệ sinh thái khác (hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái nông nghiệp ) cây xanh trong hệ sinh thái đô thị còn có chức năng quan trọng hơn đó là bảo vệ môi trường và trang trí cảnh quan: tiết kiệm năng lượng, giảm vận tốc dòng chảy bề mặt, làm sạch không khí, giảm mức độ ác liệt, tăng mức độ cố kết cộng đồng, giá trị tài sản cao, giá trị thẩm mỹ và nhiều giá trị khác

2 Tổng quan về thành phố Thanh Hóa

Hình 1: Bản đồ thành phố Thanh Hóa

Trang 4

2.1 Điều kiện tự nhiên

Thành phố Thanh Hóa là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Thanh Hóa và là một đô thị phát triển của khu vực Bắc Trung Bộ, là một trong 3 trung tâm của khu vực Bắc Trung Bộ cùng với Vinh và Huế Thị xã Thanh Hóa trở thành thành phố Thanh Hóa năm 1994 Thành phố trở thành đô thị loại I vào tháng 4 năm 2014

a Vị trí địa lý:

Thành phố Thanh Hóa nằm hai bên bờ sông Mã, có vị trí, cảnh quan sinh thái

rất thuận lợi, khí hậu ôn hòa

Phía bắc và đông bắc giáp huyện Hoằng Hóa phía nam và đông nam giáp huyện Quảng Xương, phía tây giáp huyện Đông Sơn, phía Tây Bắc giáp với huyện

Thiệu Hóa

Thành phố Thanh Hóa là cầu nối giữa Bắc bộ với Trung bộ

b Địa hình

Thành phố Thanh Hóa nằm ở trung tâm đồng bằng tỉnh Thanh Hóa, có địa hình tương đối bằng phẳng, có hướng nghiêng đều từ Tây sang Đông, độ cao trung bình 5-10m so với mặt nước biển, có nhiều núi đất, núi đá nằm rải rác Xung quanh Thành phố có các cụm núi bao quanh như: Phía Bắc là núi Hàm Rồng; Phía Tây là núi Rừng Thông, núi Nhồi, núi Voi; Phía Nam là núi Mật, núi Long Ngoài ra còn

có hệ thống sông, hồ như sông Mã, sông Hạc, hồ Thành, hồ Kim Quy

c Địa chất

Đất đai là đất phù sa cổ do sông Mã và sông Chu bồi tụ, thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt nhẹ và đất cát pha, có độ pH trung bình từ 4,5 - 5,5, đất chứa

nhiều Kali

d Khí hậu

Thành phố Thanh Hóa nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa nóng, lạnh rõ rệt:

- Mùa nóng: Bắt đầu từ cuối Xuân đến giữa mùa thu Ở khoảng thời gian này trong năm, thời tiết nắng lắm, mưa nhiều, gây ra lụt lội và hạn hán Những ngày

có gió Lào, nhiệt độ còn được đẩy cao tới 39-40oC

- Mùa lạnh: Bắt đầu từ giữa mùa thu đến hết mùa xuân năm sau Mùa này thường hay xuất hiện gió mùa Đông Bắc, lại mưa ít; đầu mùa thường hanh khô

- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1730 - 1980mm Trung bình hàng năm có trên 140 ngày mưa

Trang 5

- Độ ẩm trung bình cả năm khá cao khoảng 80 - 85%, độ ẩm xuống thấp cực điểm khi có gió mùa Đông Bắc, hanh heo (50%) và những ngày có gió Tây khô nóng (45%), đồng thời có lúc độ ẩm lên cao tới 90% vào cuối mùa Đông

- Hàng năm có khoảng 1700 giờ nắng, tháng nắng nhiều nhất là tháng 7, tháng có ít nắng nhất là tháng 2, tháng 3

- Thành phố Thanh Hóa nằm ở duyên hải miền Trung chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như gió bão, áp thấp nhiệt đới và gió mùa Đông Tốc độ trung bình khoảng 1,80 m/s Hướng gió chính là gió Đông và Đông Nam Hàng năm có khoảng 30 ngày có gió Tây hay còn giọi là gió Lào thổi vào mang theo hơi nóng Tuy nhiên, cường độ gió Lào ở thành phố Thanh Hóa không mạnh bằng ở các tỉnh miền Trung khác

- Hàng năm thường chịu ảnh hưởng trực tiếp từ 1-3 cơn bão và áp thấp nhiệt đới

2.2 Điều kiện xã hội

làm 20 phường, 17 xã Theo số liệu thống kê năm 2014, dân số thành phố Thanh

số thành thị chiếm tỷ lệ 71,04 %, dân số, nông thôn chiếm 28,96 %

Thành phố Thanh Hóa là cái nôi của nền văn hóa Đông Sơn, có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh đẹp

Trong những năm gần đây thành phố Thanh hóa đã chú trọng vào việc đầu tư trồng và chăm sóc cây xanh, bước đầu tạo nên diện mạo mới trên một số tuyến phố

3 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thực vật thân gỗ được dùng để trang trí và thực hiện các chức năng sinh thái cho không gian đô thị

3.2 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp kế thừa và hồi cứu tài liệu

- Kế thừa các tài liệu về thực vật học và các công bố về cây xanh đô thị của các tác giả có uy tín Thu thập các thông tin, tài liệu về quy hoạch đô thị và quy hoạch mảng xanh đô thị từ Sở Tài nguyên và Môi trường và Công ty Môi trường và công trình đô thị Thanh Hóa Nghiên cứu bản đồ hành chính để xác định các tuyến đường, các công viên, các công trình công cộng, các khu hành chính trên địa bàn thành phố Thanh Hóa

- Điều tra thực tế các loài cây thân gỗ được trồng trên các đường phố, các công viên, công trình công cộng, các khu hành chính trên địa bàn thành phố Thanh Hóa:

Trang 6

+ Thu mẫu, định tên khoa học: Định loại theo phương pháp hình thái so sánh của Phạm Hoàng Hộ (1999-2000-2003) Chỉnh lý tên khoa học theo “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” tập I, II và III (2001, 2003, 2005) Sắp xếp họ, chi, loài theo Brummitt (1992)

+ Đếm số lượng, đo chiều cao, đo diện tích tán cây và ghi nhận tình trạng các cây thân gỗ

- Phân loại cây xanh sử dụng trong đô thị theo Quyết định số 01/2006/QĐ-BXD ban hành TCXDVN 362: 2005 về “Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị-Tiêu chuẩn thiết kế” và Nghị định số 64/2010/NĐ-CP về “Quản lý cây xanh đô thị” bao gồm:

- Cây xanh sử dụng công cộng (cây xanh đường phố, công viên, vườn hoa và các công trình công cộng khác)

- Cây xanh sử dụng hạn chế (cây xanh trường học, bệnh viện, khuôn viên trụ sở, nhà ở, công trình tín ngưỡng )

- Cây xanh chuyên dụng (cây xanh trong vườn ươm hoặc phục vụ nghiên cứu) Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào khảo sát thực trạng cây xanh đô thị ở nhóm cây xanh sử dụng công cộng

b Phương pháp khảo sát thực địa: Năm 2014 tại các tuyến phố chính, công

viên, công sở và trường học

c Phương pháp đánh giá tổng hợp và tiếp cận hệ thống: tư liệu thực địa,

phân tích tổng hợp các yếu tố sinh thái, yếu tố môi trường, biên độ sinh thái cá thể của các loài cây xanh đô thị và tính thích ứng sinh thái trong quần xã…

4 Kết quả nghiên cứu

4.1 Thực trạng cây xanh đô thị thành phố Thanh Hóa

4.1.1 Cây xanh sử dụng công cộng

- Trên địa bàn thành phố Thanh Hóa có 23 khuôn viên, tổng diện tích 48,09

ha và hơn 5 ha diện tích mặt nước Diện tích của một số khuôn viên chính được thông kê trong bảng 1

Bảng 1: Diện tích của một số khuôn viên chính STT Tên khuôn viên Diện tích (ha)

Trang 7

Tỷ lệ diện tích đất cây xanh công cộng (gồm Công viên, vườn hoa, cây xanh

- BXD ngày 05/01/2006 tiêu chuẩn cây xanh che phủ đối với đô thị loại I- II là 6 –

Bảng 2 Tỉ lệ diện tích đất cây xanh công cộng của một số thành phố (2011)

So với các thành phố trên thế giới, tỉ lệ này vẫn còn khá khiêm tốn Tại Pari, thành phố đông dân nhất châu Âu, tỉ lệ này là 25m2/ người và cao nhất là tại Bec-lin là 50m2/người

Cây xanh trong công viên thường là các cây thuộc ngành hạt trần Điển hình tại công viên Hồ Thành thống kê cho thấy có 7 loài thân gỗ là muồng hoàng yến,

đa, phượng vĩ, bách tán, vạn tuế, thiên tuế và bàng Trong đó cây thiên tuế là loài cây đặc trưng của vùng Thanh Hóa, Ninh Bình và cây vạn tuế được đưa từ Cát tiên

ra đã được trồng rất nhiều Tại công viên Hộ An, là một công viên mới được xây dựng, đã có những nét sơ khai của việc quy hoạch cây xanh với những hàn cây Sao đen và công ty cây xanh đã sử dụng một số giải pháp kĩ thuật như sử dụng các thanh chống cho các cây mới trồng Tuy nhiên, kĩ thuật này lại chưa được áp dụng chinh xác Giữa điểm tiếp xúc của thanh chống và thân cây không có lớp đệm Lớp đệm này thường là rễ cây dương xỉ ẩm để tránh sự cọ sát của các thanh chống vào thân cây khi có gió bão Thành phố Thanh Hóa là một thành phố gần biển chịu nhiều gió bão, vì vậy việc thiếu sót trong kĩ thuật này có thể làm tăng tỉ lệ chết của các cây mới trồng

Cây xanh đường phố khoảng 30.000 cây trên tổng số 190 tuyến phố, trung bình là khoảng 157 cây/ 1 tuyến phố

Mật độ cây xanh tại một số tuyến phố chính:

- Đại Lộ Lê Lợi: khoảng 140 cây xanh/km bên, riêng cây cau vua: 50 cây/ km bên

- Hạc Thành: khoảng 100 cây xanh/km bên, riêng cây sao đen: 24 cây/ km bên

- Bà Triệu: khoảng 80 cây xanh/km bên, sao đen 40 cây/km bên, hoa sữa 21 cây/ km bên

- Dương Đình Nghệ: 90 cây xanh/km bên, Vú sữa 15 cây/km bên, Xà cừ 30 cây/km bên, bàng 10 cây/km bên

- Hà Văn Mao: Hầu như không có cây xanh

Trong đó cây bóng mát chiếm tỉ lệ 97% với các loài cây như: Sấu -

Dracontomelum deperreanum, Xà cừ - Khaya senegalensis, Phượng vĩ - Delonix

Trang 8

regia, Sao đen- Hopea odorata, Bằng lăng- Lagestroemia speciosa, Hoa sữa- Alstonia scholaris, … Bên cạnh đó có một số loài do nhân dân trồng tự phát tập

trung giống cây phát triển nhanh, cho tán sớm (bàng, trứng cá, vú sữa, xoài…) Cây

ăn quả chiếm 3% gồm các giống: vú sữa, nhãn, xoài…

Theo đánh giá sơ bộ, trên các tuyến phố hiện nay chỉ có 3 tuyến Hạc Thành, Phan Chu Trinh, Đại lộ Lê Lợi cây bóng mát được trồng thuần loại gồm Sao đen, Muồng hoàng yến, Viết, Bằng lăng, Cau vua Tuy nhiên, việc trồng Cau vua tại một số tuyến phố đã làm xóa nhòa nét đặc trưng của các đô thị tại Việt Nam Còn lại đa số trên các tuyến phố cây được trồng hỗn loài, đặc biệt thành phần loài cây cho hoa đẹp rất ít

Bảng 3 Cây trồng chủ yếu trên một số tuyến đường TP Thanh Hóa STT Tên đường Loài chủ yếu

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

Quốc lộ 1A Nguyễn Trãi Tống Duy Tân Đại lộ Lê Lợi

Lê Hoàn Phan Chu Trinh Dương Đình Nghệ

Trường Thi Triệu Quốc Đạt Hàng Đồng Minh Khai

Lê Quý Đôn Hàn Thuyên

Lê Hồng Phong Phan Bội Châu Hạc Thành

Sấu, Sao đen, Xà cừ Sao đen, Sấu, Sữa Sữa, Trứng cá, Xà cừ, Bông gòn Cau vua, Lát hoa, Sao đen, Bằng lăng Sấu, Bàng, Xà cừ, Sữa, Sao đen Muồng hoàng yến, Viết

Sấu, Sữa, Xà cừ Sấu, Xà cừ Sấu, Bàng, Bồ kết tây, Phượng vĩ

Bàng, Sấu Bàng, Xoài, Sấu Sấu, Phượng vĩ

Sấu, Bàng Sấu, Xà cừ Sấu, Sao đen Sao đen

Xét về tính đa dạng sinh học:

Qua khảo sát, nghiên cứu thu được kết quả về thành phần loài thực vật gỗ trên các tuyến phố chính gồm: 24 loài thuộc 24 chi, 17 họ, 11 bộ và được trình bày theo bảng 4:

Trang 9

Bảng 4: Phân loại thực vật thân gỗ trên các tuyên đường chính:

Chiều cao (m)

senegalensis

đậu, mã đậu)

calabura

catappa

Lai hay New Guinea

7-10

deperreanum

nước

Lagerstroemia speciosa

yến

Ấn Độ

20-30

tabularis

papyrifera

pterocarpum

cainito L

châu Phi

10-20

longan

24 Móng bò hoa

tím

Bauhinia purpurea L

Quốc, Ấn Độ, Mianma

6-10

Trang 10

Về mức độ thích nghi sinh thái tự nhiên, tỷ trọng của các loài nhập nội chiếm tỷ lệ cao (17 loài chiếm 70,83%), còn nhóm cây bản địa có tỷ lệ thấp hơn (7 loài chiếm 29,17%) Tuyệt đại đa số các loài cây là các loài thường xanh Trong 24 loài thực vật thống kê trên đường phố thành phố Thanh Hóa không có loài ngoại lai xâm hại (Theo Danh mục các loài ngoại lai xâm hại của IUCN, 2001) Tuy nhiên kết quả điều tra thực địa cho thấy trong các không gian đang qui hoạch hiện nay có loài Dướng – Broussonetia papyrifera là loài cây tiên phong đang lấn chiếm rất nhanh,

vì vậy cần giám sát chặt sự phát triển của loài cây

- Đại diện được thống kê chủ yếu nằm trong ngành Magnoliophyta, tức ngành Ngọc Lan (chiếm 100%), hầu hết các loài là cây thường xanh

Bảng 5: Sự phân bố của các loài trong ngành Ngọc lan - Magnoliophyta STT Tên khoa học Tên Việt Nam Số lượng Tỉ lệ (%)

Từ kết quả bảng 4 cho thấy, sự phân bố của các loài thực vật thân gỗ nằm trong

ngành Magnolophyta được chia thành 2 lớp: Lớp 1 lá mầm (lớp Hành) và lớp 2 lá mầm

(lớp Ngọc Lan) nhưng sự phân bố giữa 2 lớp không đồng đều, tuyệt đại đa số các loài được thống kê nằm trong lớp Ngọc Lan gồm 23 loài, chiếm 95,83% Điều đó phù hợp với tính đa dạng sinh thái và hệ thực vật vùng nhiệt đới Qua đó cho thấy tính bền vững của hệ thống cây xanh đô thị tại thành phố Thanh Hóa

Xét về cấu trúc cảnh quan: thành phần loài cây có chiều cao trên 20m với 9

loài chiếm 37.50% tổng số loài cây được điều tra Qua đó cho thấy phổ chiều cao cây gỗ trên địa bàn thành phố Thanh Hóa chủ yếu là các loài cây có chiều cao lớn (trên 20m) đó là những loài cây có đời tuổi thọ và có tính ổn định cao, cho bóng mát với độ tàn che lớn Bên cạnh đó các loài cây có độ cao thấp hơn như từ 5 - 10 m với

5 loài chiếm 20,83% và từ 10 - 20m với 10 loài chiếm 41,67% tổng số các loài phân tích cũng đang tạo cho các không gian đô thị một nét hiện đại Ngoài ra với cấu trúc tán lá, màu sắc lá, màu sắc và kiểu hoa cùng hương thơm làm tạo nên nét đặc sắc cho thành phố suốt bốn mùa

Ngày đăng: 27/10/2020, 06:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w