Nội dung bài viết trình bày việc xác định mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 bằng phương pháp phỏng vấn. Mời các bạn tham khảo!
Trang 1MÔ HìNH NGUYÊN NHÂN Tử VONG TạI Hà NộI Và THàNH PHố Hồ CHí MINH NĂM 2008
ThS Trần Khánh Toàn, TS Nguyễn Phương Hoa,
1
TS Nguyễn Ngọc Linh
Đặt vấn đề
Việt Nam hiện đang trong giai đoạn chuyển
đổi dịch tễ học với “gánh nặng bệnh tật kép” của
cả các bệnh lây truyền và bệnh không lây truyền
[1,4] Một trong những bằng chứng cho việc xây
dựng chính sách ứng phó với sự chuyển đổi này
chính là thông tin về nguyên nhân tử vong Tuy
nhiên việc xác định nguyên nhân tử vong qua
khám nghiệm tử thi hoặc theo kết luận của bác sĩ
điều trị rất khó thực hiện được do phần lớn các
trường hợp tử vong xảy ra tại cộng đồng Từ
trước đến nay các báo cáo thống kê, nghiên cứu
về nguyên nhân tử vong ở Việt Nam chủ yếu dựa
vào thông tin từ các cơ sở y tế nên thường không
đầy đủ và không mang tính đại diện [4]
Trong bối cảnh đó, phương pháp điều tra
nguyên nhân tử vong qua phỏng vấn (verbal
autopsy - VA) đã ra đời từ những năm 1970 và
được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chuẩn hóa và
khuyến cáo áp dụng ở các nước có hệ thống khai
báo tử vong chưa hoàn thiện [3,6] Nguyên lý
của phương pháp này là sử dụng những thông tin thu được từ họ hàng, người thân của người đã mất về những dấu hiệu, triệu chứng và hoàn cảnh dẫn đến tử vong để hướng tới chẩn đoán nguyên nhân có thể nhất gây tử vong Bộ câu hỏi
VA của WHO cũng đã được dịch, hiệu chỉnh, thử nghiệm và áp dụng tại cơ sở thực địa FilaBavi (Ba Vì, Hà Nội) từ năm 1999 và sử dụng trong một số nghiên cứu gần đây về mô hình tử vong tại cộng đồng, chủ yếu ở khu vực nông thôn [2-5]
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát mô hình nguyên nhân tử vong qua điều tra phỏng vấn tại
2 thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh, qua đó góp phần đánh giá khả năng áp dụng rộng rãi phương pháp điều tra nguyên nhân tử vong qua phỏng vấn.
1
Bộ môn Y Học Gia đình - Trường Đại học Y Hà Nội
Mô hình nguyên nhân tử vong phản ánh gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng và là thông tin quan trọng
cho xây dựng chính sách y tế dựa vào bằng chứng Mục tiêu: Xác định mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp phỏng vấn Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 1925 trường hợp tử vong trong năm 2008 ở 24 xã phường được điều tra bằng bộ câu hỏi chuẩn của WHO Kết quả:
Chỉ 14,1% không xác định được nguyên nhân Bệnh không lây chiếm hầu hết các nguyên nhân tử vong hàng
đầu, cao nhất là bệnh mạch máu não (15,7% ở nam và 16,4% ở nữ) và bệnh đường hô hấp dưới mạn tính (7,2% và 6,3%) HIV/AIDS và lao là hai bệnh nhiễm khuẩn gây tử vong nhiều nhất với tỷ trọng thấp hơn ở nam, tập trung vào độ tuổi lao động Bệnh lý chu sinh đứng hàng thứ 2 trong các nguyên nhân tử vong ở trẻ
em Có sự khác biệt về trật tự của các nguyên nhân tử vong hàng đầu ở mỗi nhóm tuổi Kết luận: Bệnh không
lây truyền đang chiếm ưu thế áp đảo trong mô hình nguyên nhân tử vong ở 2 thành phố này cho thấy gánh nặng bệnh tật kép diễn ra sớm và nhanh hơn ở khu vực thành phố.
Từ khóa: Xác định nguyên nhân tử vong qua phỏng vấn, thành thị.
Trang 2Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện
tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, 2 trong số
16 tỉnh/thành phố thuộc 8 vùng sinh thái trên
toàn quốc tham gia dự án điều tra nguyên nhân
tử vong thông qua phỏng vấn của Bộ Y tế năm
2008 Mỗi tỉnh, thành phố sẽ chọn ngẫu nhiên
12 xã, phường dựa trên khung mẫu của Tổng
cục thống kê Đối tượng của nghiên cứu là tất cả
các trường hợp tử vong trong thời gian từ
01/01-31/12/2008 được ghi nhận tại 24 xã phường
thuộc 2 thành phố này Danh sách tử vong được
lập từ các nguồn: sổ theo dõi tử vong (A6) của
Trạm y tế, sổ đăng ký tử vong của tư pháp, sổ
đăng ký theo dõi biến động dân số của công an
xã, phường
Bộ câu hỏi xác định nguyên nhân tử vong của
WHO được hiệu chỉnh và áp dụng để phỏng vấn
người trực tiếp chăm sóc người chết hoặc người
nắm vững nhất các thông tin trong hộ gia đình
Nội dung bộ câu hỏi bao gồm các thông tin cá
nhân và hộ gia đình của người chết (tuổi, giới, học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế); tiền sử
và diễn biến bệnh tật, ốm đau, tai nạn trước khi qua đời (4) Các cán bộ y tế xã/phường đã được tập huấn kỹ lưỡng cả về nội dung bộ câu hỏi và các kỹ năng phỏng vấn tiến hành việc điều tra với sự giám sát của các nghiên cứu viên và các cán bộ ở phòng nghiệp vụ y của các Sở Y tế Tổng cộng có 1925 trường hợp tử vong đã được
điều tra phỏng vấn, chiếm tỷ lệ 96,3% ở Hà Nội
và 94,6% ở thành phố Hồ Chí Minh
Nguyên nhân tử vong, bao gồm nguyên nhân chính gây tử vong, nguyên nhân trực tiếp và các nguyên nhân phối hợp được chẩn đoán bởi các bác sĩ lâm sàng có kinh nghiệm và được các chuyên gia mã hóa theo hệ thống phân loại bệnh quốc tế ICD-10 Số liệu được phân tích dựa trên phần mềm Stata 11.0 với các test thống kê mô tả thông thường Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng cơ cấu nguyên nhân tử vong theo giới, nhóm tuổi
Bảng 1 Phân bố tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
Nhóm tuổi
Trong số 1925 trường
hợp tử vong được điều tra ở
2 thành phố, nam chiếm
57%; gần 2/3 nằm trong độ
tuổi từ 60 trở lên trong khi
trẻ em chỉ chiếm 2,2%; lứa
tuổi lao động từ 15-59 ở
nam chiếm tỷ lệ cao hơn so
với nữ và ngược lại từ 60
tuổi trở lên nữ chiếm tỷ lệ
lớn hơn nam Biểu đồ 1 Nguyên nhân tử vong chính của trẻ dưới 15 tuổi ở cả 2 giới
Các nguyên nhân khác 31%
Không xác định nguyên nhân 7%
Bệnh nhiễm khuẩn
khác 7%
Chết đuối 7%
Bệnh lý chu sinh 10%
Dị tật bẩm sinh, bất thường về NST 31%
Chính sách - Số 9/2012 Y tế
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trang 3định
/đỏn
h gi
ỏ vấ
n đề
Xỏc
định
vấn
đề v
à cỏc chủ
đề c
Tổ c
hức
in tư
vấn của
cỏc b
ờn li
ờn
quan- Chu
ẩn b
ị RIA
sơ b ộ
Chu
ẩn b
ị RI A
mộ
t ph ần
Chu
ẩn b
ị cỏ
c v
ăn b
ản th
am v
ấn (b
ao
gồm
RIA
một
phầ n) v
à ph
ổ biế n
Tha
m v
ấn c
ủa c
ỏc b
ờn li
ờn q uan
T
iến h
ành
chớn
h thứ
c xin tham
vấn ,
và/h
oặc
thu t
hập cỏc t
ờ trỡn
h viế
t
tay T
iến h
ành
điều tra n
ếu c
ần th iết
Thu
thậ
p số
liệu
và p hõn
tớch
Túm
tắt c
ỏc th
am v
ấn, t
hu th
ập v
à phõn
tớch
số l
iệu
Xỏc
định cỏc
vấn
đề tồ
n tại
Chu
ẩn b
ị bỏ
o cỏ
o RI A
đầy đủ
Chu
ẩn b
ị RIA
đầy
đủ, b
ao g
ồm
túm
tắt cỏ
c tha
m vấ n
Thụ
ng q
ua b
ỏo c
ỏo R IA
Đệ t
rỡnh
lấy
chữ
ký c
ủa th
ủ trư ởng
cỏc c
ơ qu
an n
hà n ước
cú tr ỏch
nhiệ
m
Cú c
ần p hải t
ham vấn
và/h oặc c
ần
thờm
số
liệu sõu
hơn khụn
g?
ng
Nhữ
ng k
ết qu
ả ban đầu
cú g iỳp ớ
ch ch
o RI A
một phần
khụ ng?
ng
26
Nghiên cứu chính sách
Tính chung cả 2 giới, các dị tật bẩm sinh, bất thường nhiễm sắc thể (31%) và bệnh lý chu sinh (10%) là 2 nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ
em dưới 15 tuổi Chết đuối, nguyên nhân ngoại
Bảng 2 Các nguyên nhân tử vong chính ở lứa tuổi 15-59
Nam
Nguyên nhân TT
1 HIV/AIDS
2 Nguyên nhân ngoại sinh khác
3 Ung thư gan
4 Bệnh về mạch máu não
5 Các u ác tính khác
6 Tai nạn giao thông
7 Bệnh về gan
8 Ung thư phổi
9 Lao
10 Ung thư dạ dày Không xác định nguyên nhân Nguyên nhân khác
Cộng
95 19,3
47 9,6
40 8,1
40 8,1
40 8,1
39 7,9
38 7,7
22 4,5
21 4,3 15 28 66 491
3,1 5,7 13,4
Nữ
Nguyên nhân TT
1 Các u ác tính khác
2 Tai nạn giao thông
3 Bệnh về mạch máu não
4 Ung thư phổi
5 Lao
6 Ung thư vú
7 HIV/AIDS
8 Ung thư dạ dày
9 Nguyên nhân ngoại sinh khác
10 Thiếu máu cơ tim Không xác định nguyên nhân Nguyên nhân khác
Cộng
18 12,2
17 11,6
13 8,8
10 6,8
10 6,8
8 5,4
7 4,8
7 4,8
7 4,8 6
8 36 147
4,1 5,4 24,5
Trong độ tuổi 15-59, các bệnh không lây chiếm tỷ trọng chính trong mô hình tử vong ở cả
2 giới Hai bệnh nhiễm trùng đóng vai trò chính
là HIV/AIDS (là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở nam và cao thứ 7 ở nữ) và lao (thứ 5 ở nữ
Bảng 3 Các nguyên nhân tử vong chính ở lứa tuổi 60 trở lên
Nam
Nguyên nhân TT
1 Bệnh về mạch máu não
2 Hô hấp dưới mạn tính
3 Các u ác tính khác
4 Ung thư phổi
5 Thiếu máu cơ tim
6 Ung thư gan
133 22,6
66 11,2
39 6,6
35 5,9
28 4,8
24 4,1
Nữ
Nguyên nhân TT
1 Bệnh về mạch máu não
2 Đái tháo đường
3 Hô hấp dưới mạn tính
4 Các u ác tính khác
5 Các bệnh về hệ thần kinh
6 Ngã
122 18,6
53 8,1
49 7,5
34 5,2
23 3,5
20 3,0
sinh khác, các bệnh nhiễm trùng ký sinh trùng
đều chiếm tỷ lệ 7% Có 7% không xác định
được nguyên nhân
và thứ 9 ở nam) Tỷ trọng nguyên nhân tử vong
do HIV/AIDS ở nam cao hơn nữ (p<0,05) và có
sự khác biệt về trật tự các nguyên nhân tử vong hàng đầu giữa 2 giới Tỷ lệ không xác định được nguyên nhân là 5,7% ở nam và 5,4% ở nữ
Trang 4Nam
Nguyên nhân
TT
Nữ
Nguyên nhân TT
7 Đái tháo đường
8 Lao
9 Tăng huyết áp
10 Viêm phổi
Không xác định nguyên nhân
Các nguyên nhân khác
Cộng
24 4,1
19 3,2
18 3,1 13 80 110 589
2,2 13,6 18,7
7 Ung thư phổi
8 Thiếu máu cơ tim
9 Ung thư gan
10 Tăng huyết áp Không xác định nguyên nhân Các nguyên nhân khác Cộng
18 2,7
17 2,6
16 2,4 16 152 136 656
2,4 23,2 20,7
Các bệnh không lây truyền áp đảo hoàn toàn
trong mô hình nguyên nhân tử vong của người
cao tuổi ở cả 2 giới với 2 bệnh hàng đầu là bệnh
mạch máu não và bệnh hô hấp dưới mạn tính
Viêm phổi là bệnh nhiễm khuẩn duy nhất nằm
trong danh mục các nguyên nhân tử vong chính,
Bảng 4 Các nguyên nhân tử vong chính chung cho tất cả các nhóm tuổi
Nam
Nguyên nhân
TT
1 Bệnh về mạch máu não
2 HIV/AIDS
3 Hô hấp dưới mạn tính
4 Ung thư gan
5 Ung thư phổi
6 Tai nạn giao thông
7 Bệnh về gan
8 Thiếu máu cơ tim
9 Bệnh nhiễm khuẩn và KST
10 Đái tháo đường
Không xác định nguyên nhân
Các nguyên nhân khác
Cộng
173 15,7
95 8,6
79 7,2
64 5,8
57 5,2
47 4,3
45 4,1
41 3,7
40 3,6 25 109 328 1103
2,3 9,9 29,7
Nữ
Nguyên nhân TT
1 Bệnh về mạch máu não
2 Đái tháo đường
3 Hô hấp dưới mạn tính
4 Các u ác tính khác
5 Ung thư phổi
6 Các bệnh về hệ thần kinh
7 Thiếu máu cơ tim
8 Tai nạn giao thông
9 Ngã
10 Ung thư gan Không xác định nguyên nhân Các nguyên nhân khác Cộng
135 12,2
57 5,2
52 4,7
36 3,3
28 2,5
25 2,3
23 2,1
22 2,0
22 2,0 21 162 239 822
1,9 14,7 21,7
Bệnh không lây truyền chiếm hầu hết các
vị trí hàng đầu trong mô hình tử vong chung
cho các độ tuổi ở cả 2 giới Bệnh mạch máu
não và bệnh đường hô hấp dưới vẫn là 2 nguyên nhân hay gặp nhất Các bệnh nhiễm khuẩn chỉ xuất hiện 2 lần ở vị trí thứ 2 và thứ 9
Chính sách - Số 9/2012 Y tế
gặp ở nam giới Có sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê về trật tự và tỷ trọng nguyên nhân tử vong giữa 2 giới đối với một số bệnh như đái tháo
đường, bệnh đường hô hấp dưới mạn tính Tỷ lệ không xác định được nguyên nhân là 13,6% ở nam và 23,2% ở nữ
Trang 5Kết quả điều tra tại 2 thành phố lớn nhất của
cả nước đã cho thấy sự áp đảo của các bệnh
không lây truyền trong mô hình tử vong ở tất cả
các lứa tuổi ở cả 2 giới Về tổng thể, ưu thế của
các bệnh không lây trong mô hình tử vong phù
hợp với thực trạng ở các nước đang phát triển
trong giai đoạn chuyển đổi dịch tễ học [6] và
tương tự như kết quả một số nghiên cứu trước
đây [3-5] Điều đó cho thấy tỷ lệ tử vong do
bệnh nhiễm trùng ở nước ta đã giảm đi đáng kể
nhờ sự cải thiện của điều kiện kinh tế xã hội và
sự thành công của các chương trình y tế dự
phòng Mặt khác, chúng ta cũng đang phải đối
phó với những thách thức mới đến từ các bệnh
không lây truyền [1]
Tuy nhiên xét về cơ cấu bệnh tật cụ thể, tỷ
trọng nguyên nhân tử vong do bệnh nhiễm trùng
trong các nghiên cứu khác trước đây ở Việt Nam
cùng áp dụng phương pháp VA đều lớn hơn so
với nghiên cứu của chúng tôi [2-5] Trong
nghiên cứu này, hai bệnh nhiễm trùng đóng vai
trò chủ yếu trong mô hình tử vong hiện nay là
HIV/AIDS và lao cũng chỉ chiếm tỷ trọng đáng
kể trong nhóm tuổi 15-59 Tính chung cho tất cả
các lứa tuổi, HIV/AIDS và các bệnh nhiễm
trùng, KST khác chỉ chiếm vị trí thứ 2 và thứ 9
trong số 10 nguyên nhân tử vong hàng đầu ở
nam nhưng thậm chí còn không có mặt trong số
10 nguyên nhân tử vong hay gặp ở nữ giới Khác
biệt này có thể do nghiên cứu của chúng tôi thực
hiện tại khu vực thành phố trong khi các nghiên
cứu trước đây hoặc thực hiện trên toàn quốc
hoặc chỉ tập trung ở nông thôn Với sự phát triển
nhanh hơn về kinh tế xã hội và dịch vụ y tế thì
việc chuyển đổi dịch tễ học ở các thành phố lớn
cũng diễn ra sớm hơn và gánh nặng bệnh không lây truyền cũng lớn hơn
Mặc dù tử vong do bệnh lây truyền đã giảm song điều đáng quan tâm là tỷ lệ tử vong do HIV/AIDS lại chiếm tỷ trọng khá cao trong nhóm nam lứa tuổi lao động 15-59 (19,3%), cao hơn so với các nghiên cứu trước đây [4,5] Điều
đó đòi hỏi phải có những giải pháp tích cực cho công tác phòng chống HIV/AIDS ở các thành phố lớn để giảm thiểu tác hại về kinh tế - xã hội
do căn bệnh này gây ra Mặt khác gánh nặng bệnh tật kép vẫn hiện hữu với việc dị tật bẩm sinh, bệnh lý chu sinh cùng với chết đuối và bệnh lý nhiễm trùng là những nguyên nhân tử vong chính ở trẻ em dưới 14 tuổi
Phương pháp VA được WHO khuyến cáo là một phương pháp hữu hiệu để xác định nguyên nhân tử vong trong cộng đồng ở các nước đang phát triển, nơi hệ thống thu thập thông tin tử vong chưa đầy đủ Việc áp dụng phương pháp tại cơ sở thực địa FilaBavi, nơi có hệ thống theo dõi dọc thường quy về nhân khẩu và sức khỏe, cũng đã cho kết quả với độ tin cậy cao [4] Trong nghiên cứu này, tỷ lệ được điều tra phỏng vấn chiếm đến trên 95% các trường hợp tử vong ghi nhận được trong cộng đồng tại 24 xã phường thuộc 2 thành phố Trong số 1925 trường hợp
được phỏng vấn cũng chỉ có 271 trường hợp không xác định được nguyên nhân tử vong (14,1%) Tỷ lệ không xác định được nguyên nhân cao nhất là ở độ tuổi từ 60 trở lên có lẽ vì ở
độ tuổi này, các triệu chứng bệnh tật thường nhiều và không đặc trưng nên có thể gây khó khăn cho việc đưa ra kết luận cuối cùng về nguyên nhân tử vong Tỷ lệ được điều tra cao và
tỷ lệ không xác định được nguyên nhân thấp gợi
ý rằng phương pháp VA có thể áp dụng với độ tin cậy cao cho cả các cuộc điều tra cắt ngang tại cộng đồng, kể cả ở khu vực thành thị [6] Tuy nhiên, một nghiên cứu so sánh đối chiếu dựa trên các trường hợp tử vong tại bệnh viện là hết sức cần thiết để đánh giá đầy đủ hơn về tính chính xác của phương pháp VA áp dụng trong cộng đồng
trong số các nguyên nhân tử vong hay gặp ở
nam giới Sự khác nhau giữa 2 giới chủ yếu là
về trật tự của các nguyên nhân tử vong chính
Tỷ trọng của đái tháo đường nữ cao hơn nam
và ngược lại tỷ trọng của HIV/AIDS ở nam lớn
hơn nữ (p<0,05) Có 9,9% ở nam và 14,7% ở
nữ không xác định được nguyên nhân
Bàn luận
Trang 6Tài liệu tham khảo
1 Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê (2003): Báo cáo kết quả điều tra y tế quốc gia 2001-2002, Nhà xuất
bản Y học, trang 73-82
2 Trương Việt Dũng, Ngọc Hùng, Vũ Thị Vựng, Lê Trần Ngoan và cộng sự (2006): Thực trạng tử vong
của cộng đồng huyện Lâm Thao Tỉnh Phú Thọ, Tạp chí nghiên cứu y học, số 43(4) 59-63.
3 Nguyễn Phương Hoa, Nguyễn Thị Kim Chúc (2009): Các nguyên nhân gây tử vong chính tại huyện
Ba Vì, Hà Tây: kết quả từ một nghiên cứu theo dõi dọc trong 3 năm 2005-2007, Tạp chí nghiên cứu y
học, số 61(2), 88-93
4 Huong DL (2005): Mortality in Transitional Vietnam, PhD thesis at Umea University, Sweden.
5 Anh D Ngo, Chalapati Rao, Nguyen Phuong Hoa et al (2010): Mortality patterns in Vietnam, 2006:
Findings from a national verbal autopsy survey, BMC Research Note, 3:78
6 Rao C, Yang G, Hu J et al (2007): Validation of cause-of-death statistics in urban China Int J
Epidemiol, Vol 36(3), 342-51
Mô hình tử vong ở Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh là sự áp đảo của các bệnh không lây
truyền, với 2 nhóm bệnh hàng đầu là bệnh lý về
mạch máu não và bệnh đường hô hấp dưới mạn
tính Bệnh lây truyền chỉ chiếm một tỷ trọng
thấp trong mô hình nguyên nhân tử vong với sự
gia tăng của HIV/AIDS trong nhóm nam ở lứa
tuổi lao động Khác biệt giữa nam và nữ chủ yếu là về trật tự của các nguyên nhân tử vong hàng đầu và tỷ trọng của một số bệnh hay gặp nhất Phương pháp phỏng vấn có tính khả thi cao trong việc áp dụng để xác định nguyên nhân tử vong tại cộng đồng ở thành phố cũng như nông thôn
Kết luận
Chính sách - Số 9/2012 Y tế