1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008

6 29 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 278,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết trình bày việc xác định mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 bằng phương pháp phỏng vấn. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

MÔ HìNH NGUYÊN NHÂN Tử VONG TạI Hà NộI Và THàNH PHố Hồ CHí MINH NĂM 2008

ThS Trần Khánh Toàn, TS Nguyễn Phương Hoa,

1

TS Nguyễn Ngọc Linh

Đặt vấn đề

Việt Nam hiện đang trong giai đoạn chuyển

đổi dịch tễ học với “gánh nặng bệnh tật kép” của

cả các bệnh lây truyền và bệnh không lây truyền

[1,4] Một trong những bằng chứng cho việc xây

dựng chính sách ứng phó với sự chuyển đổi này

chính là thông tin về nguyên nhân tử vong Tuy

nhiên việc xác định nguyên nhân tử vong qua

khám nghiệm tử thi hoặc theo kết luận của bác sĩ

điều trị rất khó thực hiện được do phần lớn các

trường hợp tử vong xảy ra tại cộng đồng Từ

trước đến nay các báo cáo thống kê, nghiên cứu

về nguyên nhân tử vong ở Việt Nam chủ yếu dựa

vào thông tin từ các cơ sở y tế nên thường không

đầy đủ và không mang tính đại diện [4]

Trong bối cảnh đó, phương pháp điều tra

nguyên nhân tử vong qua phỏng vấn (verbal

autopsy - VA) đã ra đời từ những năm 1970 và

được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chuẩn hóa và

khuyến cáo áp dụng ở các nước có hệ thống khai

báo tử vong chưa hoàn thiện [3,6] Nguyên lý

của phương pháp này là sử dụng những thông tin thu được từ họ hàng, người thân của người đã mất về những dấu hiệu, triệu chứng và hoàn cảnh dẫn đến tử vong để hướng tới chẩn đoán nguyên nhân có thể nhất gây tử vong Bộ câu hỏi

VA của WHO cũng đã được dịch, hiệu chỉnh, thử nghiệm và áp dụng tại cơ sở thực địa FilaBavi (Ba Vì, Hà Nội) từ năm 1999 và sử dụng trong một số nghiên cứu gần đây về mô hình tử vong tại cộng đồng, chủ yếu ở khu vực nông thôn [2-5]

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát mô hình nguyên nhân tử vong qua điều tra phỏng vấn tại

2 thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh, qua đó góp phần đánh giá khả năng áp dụng rộng rãi phương pháp điều tra nguyên nhân tử vong qua phỏng vấn.

1

Bộ môn Y Học Gia đình - Trường Đại học Y Hà Nội

Mô hình nguyên nhân tử vong phản ánh gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng và là thông tin quan trọng

cho xây dựng chính sách y tế dựa vào bằng chứng Mục tiêu: Xác định mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp phỏng vấn Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 1925 trường hợp tử vong trong năm 2008 ở 24 xã phường được điều tra bằng bộ câu hỏi chuẩn của WHO Kết quả:

Chỉ 14,1% không xác định được nguyên nhân Bệnh không lây chiếm hầu hết các nguyên nhân tử vong hàng

đầu, cao nhất là bệnh mạch máu não (15,7% ở nam và 16,4% ở nữ) và bệnh đường hô hấp dưới mạn tính (7,2% và 6,3%) HIV/AIDS và lao là hai bệnh nhiễm khuẩn gây tử vong nhiều nhất với tỷ trọng thấp hơn ở nam, tập trung vào độ tuổi lao động Bệnh lý chu sinh đứng hàng thứ 2 trong các nguyên nhân tử vong ở trẻ

em Có sự khác biệt về trật tự của các nguyên nhân tử vong hàng đầu ở mỗi nhóm tuổi Kết luận: Bệnh không

lây truyền đang chiếm ưu thế áp đảo trong mô hình nguyên nhân tử vong ở 2 thành phố này cho thấy gánh nặng bệnh tật kép diễn ra sớm và nhanh hơn ở khu vực thành phố.

Từ khóa: Xác định nguyên nhân tử vong qua phỏng vấn, thành thị.

Trang 2

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện

tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, 2 trong số

16 tỉnh/thành phố thuộc 8 vùng sinh thái trên

toàn quốc tham gia dự án điều tra nguyên nhân

tử vong thông qua phỏng vấn của Bộ Y tế năm

2008 Mỗi tỉnh, thành phố sẽ chọn ngẫu nhiên

12 xã, phường dựa trên khung mẫu của Tổng

cục thống kê Đối tượng của nghiên cứu là tất cả

các trường hợp tử vong trong thời gian từ

01/01-31/12/2008 được ghi nhận tại 24 xã phường

thuộc 2 thành phố này Danh sách tử vong được

lập từ các nguồn: sổ theo dõi tử vong (A6) của

Trạm y tế, sổ đăng ký tử vong của tư pháp, sổ

đăng ký theo dõi biến động dân số của công an

xã, phường

Bộ câu hỏi xác định nguyên nhân tử vong của

WHO được hiệu chỉnh và áp dụng để phỏng vấn

người trực tiếp chăm sóc người chết hoặc người

nắm vững nhất các thông tin trong hộ gia đình

Nội dung bộ câu hỏi bao gồm các thông tin cá

nhân và hộ gia đình của người chết (tuổi, giới, học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế); tiền sử

và diễn biến bệnh tật, ốm đau, tai nạn trước khi qua đời (4) Các cán bộ y tế xã/phường đã được tập huấn kỹ lưỡng cả về nội dung bộ câu hỏi và các kỹ năng phỏng vấn tiến hành việc điều tra với sự giám sát của các nghiên cứu viên và các cán bộ ở phòng nghiệp vụ y của các Sở Y tế Tổng cộng có 1925 trường hợp tử vong đã được

điều tra phỏng vấn, chiếm tỷ lệ 96,3% ở Hà Nội

và 94,6% ở thành phố Hồ Chí Minh

Nguyên nhân tử vong, bao gồm nguyên nhân chính gây tử vong, nguyên nhân trực tiếp và các nguyên nhân phối hợp được chẩn đoán bởi các bác sĩ lâm sàng có kinh nghiệm và được các chuyên gia mã hóa theo hệ thống phân loại bệnh quốc tế ICD-10 Số liệu được phân tích dựa trên phần mềm Stata 11.0 với các test thống kê mô tả thông thường Kết quả nghiên cứu được trình bày dưới dạng cơ cấu nguyên nhân tử vong theo giới, nhóm tuổi

Bảng 1 Phân bố tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu

Nhóm tuổi

Trong số 1925 trường

hợp tử vong được điều tra ở

2 thành phố, nam chiếm

57%; gần 2/3 nằm trong độ

tuổi từ 60 trở lên trong khi

trẻ em chỉ chiếm 2,2%; lứa

tuổi lao động từ 15-59 ở

nam chiếm tỷ lệ cao hơn so

với nữ và ngược lại từ 60

tuổi trở lên nữ chiếm tỷ lệ

lớn hơn nam Biểu đồ 1 Nguyên nhân tử vong chính của trẻ dưới 15 tuổi ở cả 2 giới

Các nguyên nhân khác 31%

Không xác định nguyên nhân 7%

Bệnh nhiễm khuẩn

khác 7%

Chết đuối 7%

Bệnh lý chu sinh 10%

Dị tật bẩm sinh, bất thường về NST 31%

Chính sách - Số 9/2012 Y tế

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trang 3

định

/đỏn

h gi

ỏ vấ

n đề

Xỏc

định

vấn

đề v

à cỏc chủ

đề c

Tổ c

hức

in tư

vấn của

cỏc b

ờn li

ờn

quan- Chu

ẩn b

ị RIA

sơ b ộ

Chu

ẩn b

ị RI A

mộ

t ph ần

Chu

ẩn b

ị cỏ

c v

ăn b

ản th

am v

ấn (b

ao

gồm

RIA

một

phầ n) v

à ph

ổ biế n

Tha

m v

ấn c

ủa c

ỏc b

ờn li

ờn q uan

T

iến h

ành

chớn

h thứ

c xin tham

vấn ,

và/h

oặc

thu t

hập cỏc t

ờ trỡn

h viế

t

tay T

iến h

ành

điều tra n

ếu c

ần th iết

Thu

thậ

p số

liệu

và p hõn

tớch

Túm

tắt c

ỏc th

am v

ấn, t

hu th

ập v

à phõn

tớch

số l

iệu

Xỏc

định cỏc

vấn

đề tồ

n tại

Chu

ẩn b

ị bỏ

o cỏ

o RI A

đầy đủ

Chu

ẩn b

ị RIA

đầy

đủ, b

ao g

ồm

túm

tắt cỏ

c tha

m vấ n

Thụ

ng q

ua b

ỏo c

ỏo R IA

Đệ t

rỡnh

lấy

chữ

ký c

ủa th

ủ trư ởng

cỏc c

ơ qu

an n

hà n ước

cú tr ỏch

nhiệ

m

Cú c

ần p hải t

ham vấn

và/h oặc c

ần

thờm

số

liệu sõu

hơn khụn

g?

ng

Nhữ

ng k

ết qu

ả ban đầu

cú g iỳp ớ

ch ch

o RI A

một phần

khụ ng?

ng

26

Nghiên cứu chính sách

Tính chung cả 2 giới, các dị tật bẩm sinh, bất thường nhiễm sắc thể (31%) và bệnh lý chu sinh (10%) là 2 nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ

em dưới 15 tuổi Chết đuối, nguyên nhân ngoại

Bảng 2 Các nguyên nhân tử vong chính ở lứa tuổi 15-59

Nam

Nguyên nhân TT

1 HIV/AIDS

2 Nguyên nhân ngoại sinh khác

3 Ung thư gan

4 Bệnh về mạch máu não

5 Các u ác tính khác

6 Tai nạn giao thông

7 Bệnh về gan

8 Ung thư phổi

9 Lao

10 Ung thư dạ dày Không xác định nguyên nhân Nguyên nhân khác

Cộng

95 19,3

47 9,6

40 8,1

40 8,1

40 8,1

39 7,9

38 7,7

22 4,5

21 4,3 15 28 66 491

3,1 5,7 13,4

Nữ

Nguyên nhân TT

1 Các u ác tính khác

2 Tai nạn giao thông

3 Bệnh về mạch máu não

4 Ung thư phổi

5 Lao

6 Ung thư vú

7 HIV/AIDS

8 Ung thư dạ dày

9 Nguyên nhân ngoại sinh khác

10 Thiếu máu cơ tim Không xác định nguyên nhân Nguyên nhân khác

Cộng

18 12,2

17 11,6

13 8,8

10 6,8

10 6,8

8 5,4

7 4,8

7 4,8

7 4,8 6

8 36 147

4,1 5,4 24,5

Trong độ tuổi 15-59, các bệnh không lây chiếm tỷ trọng chính trong mô hình tử vong ở cả

2 giới Hai bệnh nhiễm trùng đóng vai trò chính

là HIV/AIDS (là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở nam và cao thứ 7 ở nữ) và lao (thứ 5 ở nữ

Bảng 3 Các nguyên nhân tử vong chính ở lứa tuổi 60 trở lên

Nam

Nguyên nhân TT

1 Bệnh về mạch máu não

2 Hô hấp dưới mạn tính

3 Các u ác tính khác

4 Ung thư phổi

5 Thiếu máu cơ tim

6 Ung thư gan

133 22,6

66 11,2

39 6,6

35 5,9

28 4,8

24 4,1

Nữ

Nguyên nhân TT

1 Bệnh về mạch máu não

2 Đái tháo đường

3 Hô hấp dưới mạn tính

4 Các u ác tính khác

5 Các bệnh về hệ thần kinh

6 Ngã

122 18,6

53 8,1

49 7,5

34 5,2

23 3,5

20 3,0

sinh khác, các bệnh nhiễm trùng ký sinh trùng

đều chiếm tỷ lệ 7% Có 7% không xác định

được nguyên nhân

và thứ 9 ở nam) Tỷ trọng nguyên nhân tử vong

do HIV/AIDS ở nam cao hơn nữ (p<0,05) và có

sự khác biệt về trật tự các nguyên nhân tử vong hàng đầu giữa 2 giới Tỷ lệ không xác định được nguyên nhân là 5,7% ở nam và 5,4% ở nữ

Trang 4

Nam

Nguyên nhân

TT

Nữ

Nguyên nhân TT

7 Đái tháo đường

8 Lao

9 Tăng huyết áp

10 Viêm phổi

Không xác định nguyên nhân

Các nguyên nhân khác

Cộng

24 4,1

19 3,2

18 3,1 13 80 110 589

2,2 13,6 18,7

7 Ung thư phổi

8 Thiếu máu cơ tim

9 Ung thư gan

10 Tăng huyết áp Không xác định nguyên nhân Các nguyên nhân khác Cộng

18 2,7

17 2,6

16 2,4 16 152 136 656

2,4 23,2 20,7

Các bệnh không lây truyền áp đảo hoàn toàn

trong mô hình nguyên nhân tử vong của người

cao tuổi ở cả 2 giới với 2 bệnh hàng đầu là bệnh

mạch máu não và bệnh hô hấp dưới mạn tính

Viêm phổi là bệnh nhiễm khuẩn duy nhất nằm

trong danh mục các nguyên nhân tử vong chính,

Bảng 4 Các nguyên nhân tử vong chính chung cho tất cả các nhóm tuổi

Nam

Nguyên nhân

TT

1 Bệnh về mạch máu não

2 HIV/AIDS

3 Hô hấp dưới mạn tính

4 Ung thư gan

5 Ung thư phổi

6 Tai nạn giao thông

7 Bệnh về gan

8 Thiếu máu cơ tim

9 Bệnh nhiễm khuẩn và KST

10 Đái tháo đường

Không xác định nguyên nhân

Các nguyên nhân khác

Cộng

173 15,7

95 8,6

79 7,2

64 5,8

57 5,2

47 4,3

45 4,1

41 3,7

40 3,6 25 109 328 1103

2,3 9,9 29,7

Nữ

Nguyên nhân TT

1 Bệnh về mạch máu não

2 Đái tháo đường

3 Hô hấp dưới mạn tính

4 Các u ác tính khác

5 Ung thư phổi

6 Các bệnh về hệ thần kinh

7 Thiếu máu cơ tim

8 Tai nạn giao thông

9 Ngã

10 Ung thư gan Không xác định nguyên nhân Các nguyên nhân khác Cộng

135 12,2

57 5,2

52 4,7

36 3,3

28 2,5

25 2,3

23 2,1

22 2,0

22 2,0 21 162 239 822

1,9 14,7 21,7

Bệnh không lây truyền chiếm hầu hết các

vị trí hàng đầu trong mô hình tử vong chung

cho các độ tuổi ở cả 2 giới Bệnh mạch máu

não và bệnh đường hô hấp dưới vẫn là 2 nguyên nhân hay gặp nhất Các bệnh nhiễm khuẩn chỉ xuất hiện 2 lần ở vị trí thứ 2 và thứ 9

Chính sách - Số 9/2012 Y tế

gặp ở nam giới Có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê về trật tự và tỷ trọng nguyên nhân tử vong giữa 2 giới đối với một số bệnh như đái tháo

đường, bệnh đường hô hấp dưới mạn tính Tỷ lệ không xác định được nguyên nhân là 13,6% ở nam và 23,2% ở nữ

Trang 5

Kết quả điều tra tại 2 thành phố lớn nhất của

cả nước đã cho thấy sự áp đảo của các bệnh

không lây truyền trong mô hình tử vong ở tất cả

các lứa tuổi ở cả 2 giới Về tổng thể, ưu thế của

các bệnh không lây trong mô hình tử vong phù

hợp với thực trạng ở các nước đang phát triển

trong giai đoạn chuyển đổi dịch tễ học [6] và

tương tự như kết quả một số nghiên cứu trước

đây [3-5] Điều đó cho thấy tỷ lệ tử vong do

bệnh nhiễm trùng ở nước ta đã giảm đi đáng kể

nhờ sự cải thiện của điều kiện kinh tế xã hội và

sự thành công của các chương trình y tế dự

phòng Mặt khác, chúng ta cũng đang phải đối

phó với những thách thức mới đến từ các bệnh

không lây truyền [1]

Tuy nhiên xét về cơ cấu bệnh tật cụ thể, tỷ

trọng nguyên nhân tử vong do bệnh nhiễm trùng

trong các nghiên cứu khác trước đây ở Việt Nam

cùng áp dụng phương pháp VA đều lớn hơn so

với nghiên cứu của chúng tôi [2-5] Trong

nghiên cứu này, hai bệnh nhiễm trùng đóng vai

trò chủ yếu trong mô hình tử vong hiện nay là

HIV/AIDS và lao cũng chỉ chiếm tỷ trọng đáng

kể trong nhóm tuổi 15-59 Tính chung cho tất cả

các lứa tuổi, HIV/AIDS và các bệnh nhiễm

trùng, KST khác chỉ chiếm vị trí thứ 2 và thứ 9

trong số 10 nguyên nhân tử vong hàng đầu ở

nam nhưng thậm chí còn không có mặt trong số

10 nguyên nhân tử vong hay gặp ở nữ giới Khác

biệt này có thể do nghiên cứu của chúng tôi thực

hiện tại khu vực thành phố trong khi các nghiên

cứu trước đây hoặc thực hiện trên toàn quốc

hoặc chỉ tập trung ở nông thôn Với sự phát triển

nhanh hơn về kinh tế xã hội và dịch vụ y tế thì

việc chuyển đổi dịch tễ học ở các thành phố lớn

cũng diễn ra sớm hơn và gánh nặng bệnh không lây truyền cũng lớn hơn

Mặc dù tử vong do bệnh lây truyền đã giảm song điều đáng quan tâm là tỷ lệ tử vong do HIV/AIDS lại chiếm tỷ trọng khá cao trong nhóm nam lứa tuổi lao động 15-59 (19,3%), cao hơn so với các nghiên cứu trước đây [4,5] Điều

đó đòi hỏi phải có những giải pháp tích cực cho công tác phòng chống HIV/AIDS ở các thành phố lớn để giảm thiểu tác hại về kinh tế - xã hội

do căn bệnh này gây ra Mặt khác gánh nặng bệnh tật kép vẫn hiện hữu với việc dị tật bẩm sinh, bệnh lý chu sinh cùng với chết đuối và bệnh lý nhiễm trùng là những nguyên nhân tử vong chính ở trẻ em dưới 14 tuổi

Phương pháp VA được WHO khuyến cáo là một phương pháp hữu hiệu để xác định nguyên nhân tử vong trong cộng đồng ở các nước đang phát triển, nơi hệ thống thu thập thông tin tử vong chưa đầy đủ Việc áp dụng phương pháp tại cơ sở thực địa FilaBavi, nơi có hệ thống theo dõi dọc thường quy về nhân khẩu và sức khỏe, cũng đã cho kết quả với độ tin cậy cao [4] Trong nghiên cứu này, tỷ lệ được điều tra phỏng vấn chiếm đến trên 95% các trường hợp tử vong ghi nhận được trong cộng đồng tại 24 xã phường thuộc 2 thành phố Trong số 1925 trường hợp

được phỏng vấn cũng chỉ có 271 trường hợp không xác định được nguyên nhân tử vong (14,1%) Tỷ lệ không xác định được nguyên nhân cao nhất là ở độ tuổi từ 60 trở lên có lẽ vì ở

độ tuổi này, các triệu chứng bệnh tật thường nhiều và không đặc trưng nên có thể gây khó khăn cho việc đưa ra kết luận cuối cùng về nguyên nhân tử vong Tỷ lệ được điều tra cao và

tỷ lệ không xác định được nguyên nhân thấp gợi

ý rằng phương pháp VA có thể áp dụng với độ tin cậy cao cho cả các cuộc điều tra cắt ngang tại cộng đồng, kể cả ở khu vực thành thị [6] Tuy nhiên, một nghiên cứu so sánh đối chiếu dựa trên các trường hợp tử vong tại bệnh viện là hết sức cần thiết để đánh giá đầy đủ hơn về tính chính xác của phương pháp VA áp dụng trong cộng đồng

trong số các nguyên nhân tử vong hay gặp ở

nam giới Sự khác nhau giữa 2 giới chủ yếu là

về trật tự của các nguyên nhân tử vong chính

Tỷ trọng của đái tháo đường nữ cao hơn nam

và ngược lại tỷ trọng của HIV/AIDS ở nam lớn

hơn nữ (p<0,05) Có 9,9% ở nam và 14,7% ở

nữ không xác định được nguyên nhân

Bàn luận

Trang 6

Tài liệu tham khảo

1 Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê (2003): Báo cáo kết quả điều tra y tế quốc gia 2001-2002, Nhà xuất

bản Y học, trang 73-82

2 Trương Việt Dũng, Ngọc Hùng, Vũ Thị Vựng, Lê Trần Ngoan và cộng sự (2006): Thực trạng tử vong

của cộng đồng huyện Lâm Thao Tỉnh Phú Thọ, Tạp chí nghiên cứu y học, số 43(4) 59-63.

3 Nguyễn Phương Hoa, Nguyễn Thị Kim Chúc (2009): Các nguyên nhân gây tử vong chính tại huyện

Ba Vì, Hà Tây: kết quả từ một nghiên cứu theo dõi dọc trong 3 năm 2005-2007, Tạp chí nghiên cứu y

học, số 61(2), 88-93

4 Huong DL (2005): Mortality in Transitional Vietnam, PhD thesis at Umea University, Sweden.

5 Anh D Ngo, Chalapati Rao, Nguyen Phuong Hoa et al (2010): Mortality patterns in Vietnam, 2006:

Findings from a national verbal autopsy survey, BMC Research Note, 3:78

6 Rao C, Yang G, Hu J et al (2007): Validation of cause-of-death statistics in urban China Int J

Epidemiol, Vol 36(3), 342-51

Mô hình tử vong ở Hà Nội và thành phố Hồ

Chí Minh là sự áp đảo của các bệnh không lây

truyền, với 2 nhóm bệnh hàng đầu là bệnh lý về

mạch máu não và bệnh đường hô hấp dưới mạn

tính Bệnh lây truyền chỉ chiếm một tỷ trọng

thấp trong mô hình nguyên nhân tử vong với sự

gia tăng của HIV/AIDS trong nhóm nam ở lứa

tuổi lao động Khác biệt giữa nam và nữ chủ yếu là về trật tự của các nguyên nhân tử vong hàng đầu và tỷ trọng của một số bệnh hay gặp nhất Phương pháp phỏng vấn có tính khả thi cao trong việc áp dụng để xác định nguyên nhân tử vong tại cộng đồng ở thành phố cũng như nông thôn

Kết luận

Chính sách - Số 9/2012 Y tế

Ngày đăng: 27/10/2020, 05:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Phân bố tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu - Mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008
Bảng 1. Phân bố tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu (Trang 2)
Bảng 3. Các nguyên nhân tử vong chính ở lứa tuổi 60 trở lên - Mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008
Bảng 3. Các nguyên nhân tử vong chính ở lứa tuổi 60 trở lên (Trang 3)
Bảng 2. Các nguyên nhân tử vong chính ở lứa tuổi 15-59 - Mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008
Bảng 2. Các nguyên nhân tử vong chính ở lứa tuổi 15-59 (Trang 3)
7 Đái tháo đường 8Lao - Mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008
7 Đái tháo đường 8Lao (Trang 4)
Bảng 4. Các nguyên nhân tử vong chính chung cho tất cả các nhóm tuổi - Mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008
Bảng 4. Các nguyên nhân tử vong chính chung cho tất cả các nhóm tuổi (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w