1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định hướng chăm sóc sức khỏe ban đầu trong tình hình mới của Tổ chức Y tế Thế giới

8 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 234,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết trình bày định hướng chăm sóc sức khỏe ban đầu trong tình hình mới của Tổ chức Y tế Thế giới. Để hiểu rõ hơn, mời các bạn tham khảo chi tiết nội dung bài viết.

Trang 1

heo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới tại

Tuyên ngôn Alma-Ata, Chăm sóc sức khỏe

T

ban đầu (CSSKBĐ) là sự chăm sóc sức khỏe

thiết yếu, dựa trên những phương pháp và kỹ

thuật thực tiễn, có cơ sở khoa học và được chấp

nhận về mặt xã hội, phổ biến đến từng cá nhân và

gia đình trong cộng đồng, qua sự tham gia tích

cực của họ với một chi phí mà cộng đồng và

quốc gia có thể đài thọ được ở bất cứ giai đoạn

phát triển nào, trên tinh thần tự lực và tự quyết

Nó là một bộ phận hợp thành vừa của hệ thống y

tế Nhà nước mà trong đó, nó giữ vai trò trọng tâm

và là tiêu điểm chính, vừa của sự phát triển

chung về kinh tế xã hội và của cộng đồng Nó là

nơi tiếp xúc đầu tiên của người dân với hệ thống

y tế, đưa sự chăm sóc sức khỏe đến càng gần

càng tốt nơi người dân sống và lao động, trở

thành yếu tố đầu tiên của một quá trình chăm sóc

2 sức khỏe lâu dài CSSKBĐ đã trở thành một

chính sách then chốt của Tổ chức Y tế Thế giới từ

năm 1978 với Chương trình “Sức khoẻ cho mọi

người đến năm 2000” nhằm cải thiện sức khỏe

Định hướng chăm sóc sức khỏe ban đầu trong

tình hình mới của Tổ chức Y tế Thế giới

1

TS Trần Thị Mai Oanh

Bảng 1: So sánh những quan điểm của CSSKBĐ giai đoạn trước đây và

3

quan điểm mới trong CSSKBĐ hiện nay

toàn cầu, đặc biệt đối với nhân dân các nước nghèo Năm 1998, Tổ chức Y tế Thế giới đã điều chỉnh nội dung của chính sách này và đổi thành chương trình “Sức khỏe cho mọi người trong thế

kỷ 21”, trong đó đã khẳng định tiếp tục phát triển CSSKBĐ Trong mọi thời kỳ, các nước luôn coi CSSKBĐ như là một chính sách nền tảng của

hệ thống chăm sóc sức khỏe Nâng cao dịch vụ CSSKBĐ cũng là một trong những hoạt động để củng cố hệ thống chăm sóc sức khỏe

Sau hơn 30 năm thực hiện Tuyên ngôn Alma-Ata về sức khỏe cho mọi người và CSSKBĐ, đến nay trên thế giới đã có nhiều sự thay đổi lớn, tạo

ra những thách thức mới đối với CSSKBĐ Đó là

sự thay đổi về mô hình bệnh tật, cơ cấu dân số, môi trường kinh tế xã hội, sự mong đợi nhiều hơn của người dân về vấn đề công bằng trong chăm sóc sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng Trước những thay đổi này, vào năm 2008,

Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra định hướng mới

về thực hiện CSSKBĐ trong tình hình mới, với những quan điểm tóm tắt trong bảng dưới đây

Những quan tâm đổi mới CSSKBĐ hiện nay CSSKBĐ trước đây

Mở rộng sự tiếp cận gói can thiệp y tế cơ bản và

thuốc thiết yếu cho người nghèo ở vùng nông thôn

Chuyển đổi và điều chỉnh hệ thống y tế hiện có nhằm mục tiêu chăm sóc sức khỏe cho toàn dân và chương trình bảo đảm an sinh sức khỏe

Giải quyết vấn đề sức khỏe cho mọi người dân trong cộng đồng

Chú trọng tới sức khỏe bà mẹ và trẻ em

1

Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Y tế

2

Tuyên ngôn Hội nghị Alma- Ata "Sức khỏe cho mọi người từ nay đến năm 2000 và chăm sóc sức khỏe ban đầu", 12/09 1978.

3

The World Health Report 2008: Primary Health Care Now More Than Ever

Trang 2

Trong Báo cáo sức khỏe thế giới 2008, Tổ

chức Y tế Thế giới đã đưa ra bốn nội dung cải

cách của CSSKBĐ, cụ thể là:

(1) Cải cách về bao phủ toàn dân: nhằm

nâng cao công bằng trong CSSK Đây là những

cải cách đảm bảo cho hệ thống y tế hoạt động

công bằng mà trước hết là sự dịch chuyển của

một hệ thống y tế hướng tới tiếp cận toàn dân,

được thể hiện qua việc đảm bảo tính sẵn có của

dịch vụ y tế, loại trừ được các rào cản trong tiếp

cận dịch vụ y tế của người dân và thực hiện bảo

đảm an sinh sức khỏe

(2) Cải cách cung ứng dịch vụ y tế: làm cho

hệ thống y tế hướng tới con người Đây là cải

cách, tổ chức lại hệ thống cung ứng dịch vụ y tế,

trong đó chú trọng tới các dịch vụ chăm sóc sức

của người dân; làm cho dịch vụ y tế phù hợp hơn

và mang tính xã hội; có tính đáp ứng hơn đối với bối cảnh thay đổi của toàn cầu mà kết quả đầu ra của nó là mang lại sức khỏe tốt hơn cho mọi người dân Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo mạng lưới CSSKBĐ cần được tổ chức lại theo cách: (i) mang dịch vụ y tế đến gần hơn với người dân; (ii) mạng lưới CSSKBĐ đáp ứng

được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của từng nhóm dân cư; (iii) nhóm cán bộ tham gia cung cấp các dịch vụ CSSKBĐ chính là trung tâm của sự điều phối, đảm bảo sự thành công của hệ thống y tế quốc gia

(3) Cải cách chính sách công cộng: nhằm

tăng cường tuyên truyền giáo dục nâng cao sức khỏe của cộng đồng, bảo đảm cộng đồng khỏe mạnh hơn thông qua việc lồng ghép các hoạt

Tuyên truyền lối sống khỏe mạnh và làm giảm tác

động tới sức khỏe của những rủi ro về môi trường

và xã hội

Cải thiện môi trường vệ sinh, nước, hệ thống xử lý

rác thải và giáo dục sức khỏe ở tuyến thôn bản

Sử dụng các kỹ thuật đơn giản đối với đối tượng

tình nguyện viên và nhân viên y tế cộng đồng

không chuyên nghiệp

Tạo điều kiện cho đội ngũ nhân viên y tế tiếp cận

và sử dụng các kỹ thuật phù hợp và thuốc phù hợp

Thể chế hóa sự tham gia của tổ chức dân sự xã hội trong xây dựng chính sách và thể chế hóa cơ chế trách nhiệm giải trình

Sự tham gia dưới góc độ huy động nguồn lực địa

phương và quản lý trung tâm y tế thông qua Ban

sức khỏe địa phương

Các dịch vụ y tế do Nhà nước cung ứng và đảm

bảo nguồn tài chính, quản lý tập trung

Hệ thống y tế phức hợp hoạt động trong bối cảnh toàn cầu

Quản lý trong hoàn cảnh nguồn lực khan hiếm Huy động tăng nguồn lực cho y tế, hướng tới bao

phủ toàn dân Viện trợ và hỗ trợ kỹ thuật song phương Sự đoàn kết toàn cầu và học hỏi kinh nghiệm

Chăm sóc sức khỏe ban đầu có vai trò điều phối chăm sóc sức khỏe toàn diện ở tất cả các tuyến

Chăm sóc ban đầu là đối lập với chăm sóc bệnh

viện

CSSKBĐ là tốn kém, đòi hỏi đầu tư đáng kể, nhưng mang lại hiệu quả cao hơn so với giải pháp khác.

CSSKBĐ rẻ, chỉ cần mức đầu tư vừa phải

Tập trung vào một số bệnh, chủ yếu bệnh nhiễm

trùng và bệnh cấp tính

Đáp ứng một cách toàn diện đối với những mong

đợi và nhu cầu từ phía người dân, mở rộng phạm vi chăm sóc tới các nguy cơ và căn nguyên gây bệnh

Trang 3

động y tế công cộng với CSSKBĐ và hướng tới

các chính sách công cộng có lợi cho sức khỏe

mang tính liên ngành

(4) Cải cách sự lãnh đạo: thay thế hình thức

lãnh đạo kiểu hành chính mệnh lệnh hoặc hình

thức phó mặc cho tư nhân tự kinh doanh trong thị

trường y tế bằng hình thức lãnh đạo toàn diện, dân

chủ, dựa trên đàm phán (inclusive, participatory

and negotiation-based leadership) Như vậy, cải

cách lãnh đạo trong CSSKBĐ xác định vai trò và

trách nhiệm chủ yếu của nhà nước, chuyển từ sự

lãnh đạo bằng mệnh lệnh sang lãnh đạo thực hiện

các chính sách được xây dựng có sự tham gia của

cộng đồng và có sự đàm phán với các bên liên

quan Cải cách lãnh đạo CSSKBĐ đòi hỏi cân đối

được nguồn tài chính để đầu tư nâng cao năng lực

lãnh đạo và quản lý hệ thống y tế

Có thể nói, nhan đề của Báo cáo sức khỏe thế giới 2008 của WHO “Primary health care -

4

Now more than ever” đã thể hiện một cách súc

tích quan điểm của tổ chức này đối với chính sách CSSKBĐ Để tiếp tục duy trì vai trò nền tảng của CSSKBĐ trong hệ thống y tế Việt Nam

trong hoàn cảnh hiện nay, Báo cáo sức khỏe thế giới 2008 của WHO là một trong những tài liệu

tham khảo quan trọng đối với những người làm công tác hoạch định chính sách y tế

4 Tạm dịch: “Chăm sóc sức khỏe ban đầu - hãy nhiều hơn nữa”

Trang 4

Năm 1986, Việt Nam tiến hành công cuộc

Đổi mới chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang

Sự phát triển và vai trò của y tế tư nhân trong

chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam

1

Nguyễn Thị Thắng

nghĩa Đây là giai đoạn mở đầu cho những cải cách về y tế, trong đó có việc ban hành các chính sách liên quan đến sự hình thành và phát triển của khu vực y tế tư nhân Năm 1993, với sự ra

đời của Pháp lệnh số 26/PL/CTN/1993 về Hành nghề y dược tư nhân, y tế tư nhân chính thức

được công nhận là một bộ phận hoạt động trong

hệ thống y tế nước ta Để mở rộng các loại hình hoạt động tạo đà cho khu vực y tế tư nhân phát triển, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 90/1997/NQ-CP về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa cho phép thành lập bệnh viện bán công, bệnh viện tư, bệnh viện liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư nước ngoài Tới năm 1999, Nghị định

số 73/1999/NĐ-CP tiếp tục được Chính phủ ban hành nhằm kêu gọi và khuyến khích các tổ chức tư nhân và các cá nhân cùng tham gia đầu tư cho

y tế với điều kiện là không vì mục đích lợi nhuận Tuy nhiên vấn đề đánh giá và kiểm soát mục đích đầu tư không vì lợi nhuận theo qui

định của Nghị định thì chưa được qui định cụ thể trong văn bản

Sau 10 năm triển khai Pháp lệnh số 26/PL/CTN/1993, năm 2003, Pháp lệnh số

07/2003/PL - UBTVQH11 được ban hành thay

thế cho Pháp lệnh 26 nhằm bổ sung, sửa đổi một

số điều cho phù hợp với điều kiện thực tế của sự phát triển kinh tế xã hội Để tạo điều kiện khuyến khích sự tham gia của y tế tư nhân trong

hệ thống y tế nhằm cung ứng dịch vụ tốt hơn cho người dân, ngày 22/3/2005, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết

46-1

ới hầu hết các quốc gia trên thế giới, y tế tư

nhân là một cấu phần quan trọng trong

V

việc chia sẻ công tác chăm sóc sức khỏe người

dân với hệ thống y tế công lập thông qua cung

cấp các dịch vụ y tế ở một số nước, y tế tư nhân

còn tham gia vào quá trình xây dựng chính sách

với vai trò của các hội nghề nghiệp Tại Việt

Nam, y tế tư nhân đã hình thành từ những năm

cuối của thập niên 80 và chính thức được hợp

pháp hóa vào những năm đầu của thập niên 90

Với các loại hình hoạt động bao gồm bệnh viện

đa khoa / chuyên khoa, phòng khám đa khoa /

chuyên khoa, nhà hộ sinh, cơ sở dịch vụ y tế, cơ

sở vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước

ngoài , y tế tư nhân đã phát triển mạnh mẽ và

trở thành một bộ phận của hệ thống y tế, đáp ứng

nhu cầu về chăm sóc sức khỏe ngày càng đa

dạng và nâng cao của người dân

Là một bộ phận của hệ thống y tế, y tế tư nhân

đã từng bước phát huy vai trò của mình trong

công tác khám chữa bệnh ban đầu, tư vấn sức

khỏe, chăm sóc y tế và tham gia phát hiện dịch

bệnh sớm Với sự có mặt của y tế tư nhân, khả

năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân được cải

thiện Bên cạnh đó y tế tư nhân phần nào tạo ra sự

cạnh tranh với hệ thống y tế công trong việc cải

thiện chất lượng dịch vụ, nâng cấp trang thiết bị,

cơ sở vật chất, áp dụng công nghệ cao và nâng

cao vấn đề y đức trong công tác khám chữa bệnh

Các chính sách của nhà nước đối với sự

phát triển của y tế tư nhân

Trang 5

NQ-TW với định hướng phát triển khu vực y tế

tư nhân một cách rõ ràng hơn “…Nhà nước tạo

điều kiện và khuyến khích phát triển các cơ sở y

tế tư nhân Các cá nhân hoặc tổ chức tư nhân

được phép đăng ký thành lập cơ sở hành nghề y

dược, đặc biệt là các bệnh viện đa khoa, chuyên

khoa tư nhân…”[5] Để Nghị quyết 46 đi vào

thực tiễn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số

69/2008/NĐ-CP về khuyến khích xã hội hóa

trong các hoạt động giáo dục, nghề nghiệp, y tế,

văn hóa, thể thao và môi trường Theo tinh thần

của Nghị định này, các nhà đầu tư thành lập

bệnh viện sẽ được cấp hay cho thuê đất miễn phí

và được hưởng các ưu đãi về thuế Như vậy, có

thể nói các chính sách của Nhà nước đã tạo nên

một môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư

phát triển khối bệnh viện tư nhân để tham gia

vào hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh

chung

Năm 2009, Pháp lệnh số 07/2003/PL-UBTVQH11 đã được thay thế bởi Luật số 40/2009/QH12 về Khám và Chữa bệnh Theo quy định của Luật, Bộ Y tế vẫn là cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm kiểm định, cấp phép hoạt

động cho khối bệnh viện tư nhân và phân cấp cho các Sở Y tế địa phương kiểm định và cấp phép hoạt động cho các phòng khám đa khoa và chuyên khoa Trong Luật Khám và chữa bệnh cũng như các văn bản pháp luật trước đó thì vai trò của các hội nghề nghiệp, hội chuyên môn trong các quy trình thành lập, kiểm định, cấp phép đối với các cơ sở y tế tư nhân vẫn chưa được

đề cập

Sự phát triển của y tế tư nhân

Trải qua hai mươi năm hình thành và phát triển, y tế tư nhân Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng và loại hình, cung cấp một lượng không nhỏ dịch vụ y tế cho người dân

Số cơ sở YTTN qua các năm

65000

30820 27400

19836

0 10000 20000 30000 40000 50000 60000 70000

(Nguồn số liệu: Báo cáo JARH 2006 và báo cáo đánh giá hoạt động YTTN Vụ Điều trị 2007)

Nhìn vào số liệu trên biểu đồ có thể thấy số

lượng các cơ sở y tế tư nhân tăng khá nhanh

Trong vòng 10 năm số cơ sở y tế tư nhân đã tăng

gấp hơn 3 lần từ 19.836 cơ sở (năm 1998) lên tới

65.000 cơ sở (năm 2007) Bên cạnh tăng về số

lượng thì loại hình cũng ngày một đa dạng hơn

Năm 2001 trong số các cơ sở y tế tư nhân mới

chỉ bao gồm loại hình bệnh viện (14), phòng

khám đa khoa (1.139), phòng khám chuyên

khoa (16.900) và cơ sở dịch vụ y tế (7.793) thì tới năm 2005 số bệnh viện đã lên tới 48 bệnh viện, 3.020 phòng khám đa khoa, 27.665 phòng khám chuyên khoa/dịch vụ y tế và 87 nhà hộ sinh

Bệnh viện tư phát triển tương đối nhanh cả về

số lượng và qui mô giường bệnh Năm 1995, cả nước mới có 1 bệnh viện với 50 giường bệnh nhưng chỉ sau 5 năm (2000) số bệnh viện đã

Trang 6

tăng lên là 12 với tổng số giường là 749 Tới

2005, số bệnh viện đã tăng gấp đôi (48 bệnh

viện) và số giường bệnh tăng gấp hơn 4 lần

(3.245 giường) so với năm 2000 Hai năm sau

(2007), số bệnh viện tư đã lên tới 92 với tổng số

giường bệnh là 5.934 [3,4] Theo số liệu của Cục

Quản lý Khám chữa bệnh, năm 2010 số bệnh

viện tư là 121 (gấp 1,3 lần so với năm 2007) và

số giường bệnh là 6.920

Tuy số bệnh viện tư tăng tương đối nhanh qua

các năm, nhưng qui mô còn hạn chế Theo số

liệu về hoạt động y tế tư nhân năm 2009 của Bộ

Y tế thì trung bình bệnh viện tư có khoảng 79

giường bệnh, trong đó bệnh viện có số giường ít

nhất là 10 và bệnh viện có số giường cao nhất là

500 giường bệnh Tỷ lệ bệnh viện tư so với bệnh

viện công lập chiếm 8,6% (92/1.063) và tỷ lệ

tổng số giường bệnh tư nhân so với tổng số

giường bệnh công lập năm 2007 chiếm khoảng

9,3% (5.934/129.082 giường) Tất cả các bệnh

viện tư đều có các khoa cơ bản như khoa khám

bệnh, khoa cấp cứu, khoa cận lâm sàng và khoa

dược Trung bình mỗi bệnh viện có 6 khoa

(nhiều nhất là 12 khoa) So sánh với bệnh viện tư

ở các nước trong khu vực thì qui mô bệnh viện tư

ở nước ta còn nhỏ Đây có thể là do hạn chế về

nguồn vốn đầu tư vào loại hình này

Do đặc thù là kinh doanh, nên các cơ sở y tế

tư nhân đều có xu hướng tập trung ở những vùng

thành thị, đông dân, điều kiện kinh tế xã hội khá

và khả năng thu lợi nhuận cao Số liệu thống kê

của Bộ Y tế cho thấy các bệnh viện tư chủ yếu

tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội

(15/92) và Hồ Chí Minh (30/92) Các tỉnh miền

núi phía Bắc (Yên Bái) và Tây Nguyên (Đăk

Lăk), mỗi tỉnh chỉ có 1 bệnh viện tư

Với sự phát triển tương đối nhanh về số lượng

và các loại hình, y tế tư nhân đã có những đóng

góp nhất định trong sự nghiệp chăm sóc và bảo

vệ sức khỏe nhân dân Tuy nhiên với đặc điểm là

Vai trò của y tế tư nhân trong cung ứng

dịch vụ y tế

này chủ yếu cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú cho các bệnh nhân ở mức độ bệnh nhẹ Kết quả từ nghiên cứu về Điều tra y tế quốc gia 2001-2002 và Điều tra mức sống dân cư 2006 cho thấy y tế tư nhân cung cấp khoảng

từ 60-75% các dịch vụ y tế khám và điều trị ngoại trú và chỉ khoảng 4% dịch vụ nội trú [2] Bên cạnh đó, do sự phân bổ tập trung ở khu vực

đô thị nên tỷ lệ sử dụng khám chữa bệnh ngoại trú ở khu vực này cao hơn so với khu vực nông

thôn lần lượt là 42.4% và 36.7% (Kết quả từ VLSS 2008).

Tình hình sử dụng dịch vụ y tế tư nhân của người dân có xu hướng tăng Kết quả từ các nghiên cứu về sử dụng dịch vụ y tế tư nhân của người dân trong khoảng thời gian 10 năm qua cho thấy tỷ lệ sử dụng dịch vụ ở khu vực này dao

động theo chiều hướng tăng từ 19,6% - 38,9% tùy phạm vi và đối tượng nghiên cứu Theo phát hiện từ nghiên cứu của Đơn vị nghiên cứu sức khỏe cộng đồng - Bộ Y tế thì thấy rằng tỷ lệ người đến y tế tư nhân là 19,6% và mua thuốc về

tự chữa là 32,8% Nghiên cứu của Trương Việt Dũng tại 4 xã Quảng Ninh phát hiện tỷ lệ đến thầy thuốc tư chiếm 28%, và tỷ lệ tự điều trị là 22% Hoặc kết quả nghiên cứu về khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSK tại 5 huyện của Thừa Thiên Huế cho thấy tỷ lệ sử dụng y tế tư nhân là 38,9% và tự điều trị là 18,3% Một nghiên cứu mới đây về sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân tại Chí Linh, Hải Dương năm 2011 lại cho kết quả khá cao với tỷ lệ người dân tự mua thuốc về điều trị (54%), tiếp đến là đi KCB ngoại trú (34,8%) Tỷ lệ người ốm tự đi mua thuốc và KCB ngoại trú cao như vậy cho thấy xu hướng lựa chọn lĩnh vực y tế tư nhân ngày một nhiều hơn [6]

Khi nhắc tới y tế tư nhân, người ta liên tưởng tới đối tượng sử dụng thường là người có thu nhập cao (người giàu) Thực tế thì không hẳn như vậy Số liệu từ các nghiên cứu cho thấy đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, đối tượng sử dụng y tế tư nhân tương đối đa dạng

Trang 7

Tài liệu tham khảo

1 Báo cáo đánh giá công tác khám chữa bệnh năm 2004 và kế hoạch năm 2005.

2 Báo cáo điều tra y tế quốc gia, 2001-2002.

3 Bộ Y tế, (2005), Báo cáo đánh giá hệ thống y tế 2006.

4 Bộ y tế, (2009), Báo cáo hoạt động y tế tư nhân.

5 Cương Đ.V, Oanh T.T.M và cộng sự, 2007, Báo cáo đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe người

nghèo tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc và Tây nguyên, Phái đoàn ủy ban châu Âu tại Việt Nam.

như người già, người nghèo, phụ nữ và trẻ em

Số liệu từ nghiên cứu của Trần Thị Mai Oanh

về mô hình ốm đau và hành vi tìm kiếm sức khỏe

của người cao tuổi ở một vùng nông thôn Việt

Nam cho thấy tỷ lệ người trên 60 tuổi đến thầy

thuốc tư để KCB cho bệnh cấp tính chiếm

33,5% và 20,3% là mua thuốc tự điều trị Tỷ lệ

này tương đối cao so với tỷ lệ sử dụng trạm y tế

xã (18%) [7] Phát hiện từ báo cáo đánh giá tình

hình chăm sóc sức khỏe người nghèo tại 5 tỉnh

miền núi phía Bắc và Tây Nguyên do Viện

Chiến lược và Chính sách Y tế tiến hành năm

2007 thấy rằng có từ 30-40% người nghèo ở các

tỉnh miền núi phía Bắc và 20% ở Tây Nguyên tự

điều trị khi ốm đau mặc dù có bảo hiểm y tế [5]

Như vậy có thể thấy rằng, y tế tư nhân có khả

năng cung cấp các gói dịch vụ khác nhau cho

các đối tượng khác nhau

Phụ nữ sử dụng dịch vụ y tế tư nhân trong

chăm sóc sức khỏe sinh sản tương đối phổ biến

Theo kết quả của điều tra nhân khẩu học và y tế

(DHS) năm 2002 thì có tới 14% các phương tiện

tránh thai được cung ứng bởi khu vực khu vực tư

nhân Số liệu từ nghiên cứu của Tổng cục Dân số

năm 2011 cho thấy, mặc dù đặt dụng cụ tử cung

thường được thực hiện tại các cơ sở y tế nhà nước

(hơn 80% ở trạm y tế xã), tuy nhiên tỷ lệ y tế tư

nhân tham gia đặt dụng cụ tử cung chiếm tới

7,2% ở thành thị, phụ nữ sử dụng biện pháp kế

hoạch hóa gia đình ở khu vực y tế tư nhân với giá

thành tương đối cao với 175.000đ/ca hút điều

hòa kinh nguyệt tại Cao Bằng (số liệu từ nghiên

cứu hồi cứu về các yếu tố quyết định về nạo hút thai ở phụ nữ Việt Nam, 2000) Tuy nhiên, họ sẵn sàng chấp nhận vì theo họ đây là nơi có bác

sĩ chuyên môn cao trong tỉnh, mặt khác sử dụng dịch vụ tư nhân tốn ít thời gian chờ đợi và được phục vụ tận tình Phụ nữ nông thôn sử dụng y tế tư nhân để khám chữa bệnh khi bị ốm chiếm 23%, trong khi đó, lựa chọn trạm y tế xã chỉ chiếm 13,8% (Số liệu từ nghiên cứu của Lê Thị Hồng Thơm (2006) về tiếp cận và sử dụng dịch

vụ y tế cho phụ nữ nông thôn) Qua đây có thể thấy rằng, bên cạnh các dịch vụ y tế của nhà nước thì y tế tư nhân đóng vai trò không nhỏ trong lựa chọn của người phụ nữ khi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Tóm lại, y tế tư nhân đã có những đóng góp

đáng kể trong công tác chăm sóc sức khỏe người

dân Báo cáo hệ thống y tế Việt Nam 2006 cũng

chỉ rõ vai trò không thể thiếu của y tế tư nhân trong đáp ứng yêu cầu cấp bách về khám, chữa bệnh của nhân dân, từ đó phần nào giúp giảm tải cho các bệnh viện công các tuyến Sự có mặt của

y tế tư nhân đã giúp người dân có thêm lựa chọn khi khám chữa bệnh, tiếp cận dịch vụ nhanh hơn

và tiết kiệm thời gian chờ đợi [3] Nhà nước đã

có chủ trương và chính sách nhằm tăng cường vai trò và sự gắn kết của y tế tư nhân trong hệ thống y tế , tạo đà cho y tế tư nhân phát triển Tuy nhiên để khu vực y tế tư nhân phát triển bền vững và đúng định hướng công bằng và hiệu quả thì các công cụ chính sách cần được tiếp tục bổ sung một cách kịp thời và phù hợp

Trang 8

6 Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân tại CHILILAB, (2011): Thực trạng và một số đề xuất

Website http://www.vpha.org.vn/index.php/Tap-chi-Y-te-cong-cong-So-24

7 Trần Thị Mai Oanh, (2002) Mô hình ốm đau và hành vi tìm kiếm của người cao tuổi ở một vùng nông

thôn Việt Nam Luận văn thạc sĩ Y tế công cộng.

8 Thủ tướng Chính phủ, (2005), Chương trình hành động của Chính phủ, thực hiện Nghị quyết số

46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới.

9 Vụ Điều trị, (2007), Báo cáo đánh giá hoạt động y tế tư nhân.

Ngày đăng: 27/10/2020, 05:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Trải qua hai mươi năm hình thành và phát triển, y tế tư nhân Việt Nam đã phát triển nhanh  chóng cả về số lượng và loại hình, cung cấp một  lượng không nhỏ dịch vụ y tế cho người dân. - Định hướng chăm sóc sức khỏe ban đầu trong tình hình mới của Tổ chức Y tế Thế giới
r ải qua hai mươi năm hình thành và phát triển, y tế tư nhân Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng và loại hình, cung cấp một lượng không nhỏ dịch vụ y tế cho người dân (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w