1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Mô hình tính giá đối với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm

7 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 169,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm là một trong những công cụ hữu hiệu nằm trong hệ thống quản lý tài sản cố định của doanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin hữu ích về tình hình tài sản cố định của doanh nghiệp trên nhiều góc độ khác nhau.

Trang 1

TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

mô HìnH tÍnH giá đối với tài sản cố địnH

là cây lâu naÊm, súc vật làm việc

và cHo sản pHẩm

ThS NGUYỄN HồNG NGA*

*Khoa Kế tốn Kiểm tốn - Trường Đại học Thương mại

và cho sản phẩm là một trong những cơng cụ hữu hiệu nằm trong hệ thống quản lý tài sản

cố định của doanh nghiệp nhằm cung cấp những thơng tin hữu ích về tình hình tài sản cố định của doanh nghiệp trên nhiều gĩc độ khác nhau Dựa trên những thơng tin ấy, các nhà quản lý sẽ cĩ được những phân tích chuẩn xác để ra quyết định kinh doanh phù hợp Chính vì vậy, hiểu

rõ về đặc điểm kế tốn tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm trong hoạt động sản xuất nơng nghiệp để tiến hành ghi nhận và đo lường nhằm đáp ứng nhu cầu người sử dụng thơng tin

là cơng việc cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Từ khĩa: Cây lâu năm; giá gốc; giá trị hợp lý; tài sản cố định; sản xuất nơng nghiệp; súc vật làm việc

và cho sản phẩm.

The pricing model for fixed assets which are long-lived working animals and long-lived farm plant

In agricultural production enterprises, fixed assets which are long-lived working animals and long-lived farm plant are one of the effective tools in the enterprise’s fixed asset management system which provides useful information about the situation of fixed assets of businesses on many different angles Based on this information, managers would have accurate analysis to make appropriate business decisions Therefore, understanding the characteristics of accounting for fixed assets that are long-lived working animals and long-lived farm plant in agricultural production activities for recording and measuring to meet users’ needs ofusing this information is an urgent task at the present period

Key words: Long-lived working animals and long-lived farm plant; historical cost; fair value; fixed assets; agricultural production.

1 Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, hiện nay chuẩn mực kế tốn về

nơng nghiệp chưa cĩ, nên việc hạch tốn trong các

doanh nghiệp sản xuất nơng nghiệp về cơ bản được

quy định trong chế độ kế tốn theo TT200/2014/

TT-BTC hay trong Thơng tư 24/2010/TT-BTC áp

dụng cho các hợp tác xã Tài sản cố định là cây lâu

năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm chịu sự chi

phối của chuẩn mực tài sản cố định hữu hình (VAS

03) và Thơng tư 45/2013/TT-BTC Nhìn chung

trong các chuẩn mực kế tốn Việt Nam đều quy

định giá trị ban đầu của tài sản ghi nhận theo giá gốc và chỉ được đánh giá lại khi cĩ quy định của Nhà nước Mặt khác, hiện nay ở các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nơng nghiệp tại Việt Nam cũng khơng đánh giá lại giá trị tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm tại thời điểm lập báo cáo tài chính của những kỳ kế tốn sau khi tài sản được ghi nhận Tuy nhiên, khơng giống như những loại tài sản khác, các loại vật nuơi, cây trồng chịu ảnh hưởng bởi điều kiện

tự nhiên và giá trị cĩ thể tăng lên hay giảm xuống

Trang 2

thì không phản ánh đúng thực tế Tài sản cố định

là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm

trong hoạt động sản xuất nông nghiệp có những

tính chất và đặc điểm hoàn toàn khác so với tài sản

trong các hoạt động sản xuất khác nên việc sử dụng

giá gốc là không phù hợp Trong xu thế hội nhập

và tiếp cận với chuẩn mực kế toán quốc tế, kế toán

theo nguyên tắc giá gốc sẽ dần bị thay thế bởi kế

toán theo giá trị hợp lý Do vậy, việc xác định tài

sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho

sản phẩm theo giá trị hợp lý sẽ phản ánh đầy đủ và

trung thực hơn khi các tài sản này thường xuyên có

sự biến động

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Đối với tài sản cố định trong lĩnh vực nông

nghiệp, cụ thể là cây trồng sống (bearer plant),

động vật sống (bearer animal) là các tài sản dài hạn

Về bản chất chúng là một nội dung trong tài sản

sinh học (biological asset), việc đo lường các tài sản

này tương tự như việc đo lường đối với tài sản sinh

học Việc đo lường tài sản nông nghiệp theo mô

hình giá trị hợp lý đã được quy định trong chuẩn

được áp dụng chính thức vào tháng 1/2003 Đó là

sự thay đổi đáng kể đối với phương pháp đo lường trước dựa trên cơ sở giá gốc

Theo Elad, Herbohn (2011) có một số mô hình tính giá để xác định giá trị cho các tài sản sinh học Việc sử dụng các mô hình giá khác nhau có thể dẫn đến sự khác biệt về thu nhập trong ngành nông nghiệp trên toàn thế giới, và theo các chuyên gia

kế toán, IAS 41 yêu cầu cần phải xác định được giá trị hợp lý (Burnside, Schiller, 2005, Elad, Herbohn, 2011) Argilés & cộng sự (2011) đã phát triển một nghiên cứu thực nghiệm so sánh các trang trại của Tây Ban Nha sử dụng giá gốc và giá trị hợp lý trong việc đo lường tài sản sinh học, kết quả cho thấy không có sự khác biệt về đánh giá các dòng tiền trong tương lai

Việc đo lường giá trị hợp lý cho tất cả các loại tài sản sinh học ở tất cả các giai đoạn phát triển đã

bị chỉ trích vì E65 - Nông nghiệp được ban hành Damian (2014) cho rằng biện pháp kế toán duy nhất cho cả tài sản sinh học là không phù hợp, đặc biệt là đo lường giá trị hợp lý đối với tài sản

Trang 3

TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

sinh học trưởng thành khơng cịn phải trải qua quá

trình chuyển đổi sinh học Điều này đã kích hoạt

quan điểm cho rằng hoạt động này tương tự như

hoạt động sản xuất và do đĩ phải được hạch tốn

như bất động sản, nhà xưởng và thiết bị, theo IAS

16, do đĩ cho phép sử dụng mơ hình chi phí Theo

Amen (2000), khơng cĩ sự khác biệt giữa tài sản

sinh học và các tài sản khác như máy mĩc theo

quan điểm lý thuyết Do đĩ, các tài sản sinh học

phải được đo bằng cùng một cách như tài sản, nhà

máy và thiết bị Amen (2000) cho rằng tài sản sinh

học và nơng sản cĩ thể được đo bằng giá trị hợp lý

nếu một thị trường đang hoạt động tồn tại CIMA

(2000) đã khơng xem xét các tài sản sinh học đủ

khác với các loại tài sản khác để biện minh cho

cách tiếp cận duy nhất này, đặc biệt khi cĩ rất nhiều

khĩ khăn thực tế trong các giá trị thị trường liên

quan đến các cây trồng hoặc vật nuơi chưa trưởng

thành Tài sản sinh học như bất kỳ tài sản khác sẽ

được đo lường và định giá theo nguyên tắc đã được

xác lập, giá trị thấp hơn hoặc cĩ thể thực hiện được

Hoffman, Schneider, Dangerfield (2000) bình luận

với E65 việc xác định giá trị hợp lý cho tài sản sinh

học thường khơng đáng tin cậy Theo Elad (2004),

đây là một vấn đề gây nhiều tranh cãi, khơng chỉ

vì nĩ quy định mơ hình kế tốn hợp lý đầy đủ cho

các thực thể nơng nghiệp, nhưng sự thay thế cho

mơ hình giá gốc đang gây ra một loạt các vấn đề lý

thuyết và thực tiễn ảnh hưởng việc áp dụng nĩ trên

tồn thế giới

3 Cơ sở lý thuyết

* Phân loại tài sản cố định trong lĩnh vực nơng

nghiệp

Để cĩ thể phân loại tài sản cố định trong hoạt

động nơng nghiệp cần nghiên cứu đặc điểm hoạt

động nơng nghiệp theo quy định của Chuẩn mực

Kế tốn quốc tế về nơng nghiệp (IAS 41)

Tài sản sinh học (biological asset): Là cây trồng

và vật nuơi Cây trồng cĩ thể bao gồm các loại cây

ngắn ngày (cịn gọi là cây hằng năm) và cây dài

ngày (cịn gọi là cây lâu năm) Cụ thể cây ngắn

ngày như cây lương thực (lúa, ngơ, khoai, sắn); cây

thực phẩm (rau, đậu); cây cơng nghiệp ngắn ngày

(lạc, bơng, đay, cĩi, sả, dâu tằm ); cây phân xanh, cây làm thức ăn gia súc và các loại cây hằng năm khác Các loại cây dài ngày như chè, cà phê, cao

su, hồ tiêu, cam, bưởi, chanh, quýt Vật nuơi bao gồm gia súc (trâu, bị, lợn, dê, cừu ); gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng, chim cút ) và thủy hải sản (tơm, cua, cá ) Tài sản sinh học bao gồm tài sản tiêu dùng và tài sản sản xuất Tài sản tiêu dùng là tài sản sinh học được thu hoạch dưới hình thức sản phẩm nơng nghiệp hoặc để bán dưới dạng tài sản sinh học Tài sản tiêu dùng tạo ra doanh thu chỉ khi tài sản này được thu hoạch hoặc giết mổ đồng thời nĩ cần thỏa mãn các tiêu chuẩn của hàng tồn khi như vườn trái cây ăn quả, trại heo nuơi lớn để giết mổ bán thịt

Biến đổi sinh học (biological transformation):

Là quá trình tăng trưởng, suy thối, sản xuất và sinh sản mà tạo ra các thay đổi về chất lượng hoặc

số lượng trong tài sản sinh học Biến đổi sinh học

là một sự thay đổi tự nhiên của tài sản sinh học Nĩ bao gồm sự phát triển của động vật, thực vật, giảm sản lượng do tuổi tác, bệnh tật hoặc tạo ra thêm các tài sản sinh học khác Tài sản thay đổi thơng qua tăng trưởng (gia tăng về số lượng hoặc nâng cao chất lượng của vật nuơi và cây trồng), suy thối (giảm sút về số lượng hoặc suy giảm chất lượng của vật nuơi và cây trồng), hoặc sinh sản (tạo ra thêm cây trồng và vật nuơi)

Như vậy, tài sản cố định trong lĩnh vực nơng nghiệp về bản chất là các cây trồng sống (bearer plant), động vật sống (bearer animal), chúng đều thuộc phạm vi của tài sản sinh học (biological asset) nên tất cả những đặc điểm liên quan đến khả năng thay đổi, biến đổi sinh học đều ảnh hưởng đến việc ghi nhận và đo lường đối với các tài sản này Do đĩ, những thay đổi về mặt lượng, mặt chất

và về giá trị của các tài sản này đều cần được phản ánh đầy đủ

* Ghi nhận và đo lường đối với tài sản sinh học

Một tài sản sinh học sẽ được đo lường tại lúc ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý Sau ghi nhận ban đầu hoặc thời điểm lập báo cáo tài chính thì tài sản sinh học được đánh giá lại theo giá trị hợp lý trừ chi

Trang 4

thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ của tài sản sinh học

sẽ được ghi nhận là lãi/lỗ trong kỳ phát sinh Sản

phẩm nông nghiệp được thu hoạch từ tài sản sinh

học của doanh nghiệp nên được đo lường theo giá

trị hợp lý trừ chi phí bán tại thời điểm thu hoạch

Các sản phẩm nông nghiệp sau khi thu hoạch sẽ

được theo dõi như hàng tồn kho, tiếp tục chuyển

sang giai đoạn chế biến hoặc tiêu thụ Ngoại trừ

trường hợp sản phẩm này vẫn đang phát triển hay

vẫn còn gắn liền với tài sản sinh học thì giá trị của

nó là một phần giá trị của tài sản sinh học

Sau ghi nhận ban đầu: Các tài sản sinh học sau

ghi nhận ban đầu hoặc đánh giá lại ở mỗi kỳ được

đo lường theo giá trị hợp lý trừ chi phí bán Các

khoản tăng lên hoặc giảm xuống giữa thời điểm

đầu kỳ và cuối kỳ của tài sản sinh học sẽ được ghi

nhận là lãi/lỗ trong kỳ phát sinh Nguyên nhân của

việc tăng lên hay giảm xuống của tài sản sinh học

có thể là do biến đổi sinh học dẫn đến sự thay đổi về

chất, về lượng và quan hệ cung cầu trên thị trường

ảnh hưởng đến giá cả của tài sản sinh học Ngoài ra

yếu tố về môi trường trong hoạt động nông nghiệp

như thời tiết, dịch bệnh cũng ảnh hưởng đến việc

xác định giá trị hợp lý của tài sản sinh học

4 Thực trạng ghi nhận và đo lường đối với tài

sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho

sản phẩm

* Về thực trạng nhận diện và phân loại đối với tài

sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho

sản phẩm

Dựa theo tiêu chuẩn ghi nhận của tài sản cố

định hữu hình, đối với vườn cây lâu năm thì từng

mảnh vườn cây, hoặc cây thỏa mãn đồng thời các

tiêu chuẩn của tài sản cố định (thu được lợi ích

kinh tế từ việc sử dụng tài sản, nguyên giá được

xác định đáng tin cậy, thời gian sử dụng lâu dài, có

giá trị cụ thể) được coi là tài sản cố định hữu hình

như vườn cây cao su, vườn cây cà phê, cây gỗ sưa

Đối với súc vật làm việc và cho sản phẩm thì từng

con vật thỏa mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài

sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu

hình như đàn voi, ngựa, trâu, bò Đó là những

cho các mục đích kinh doanh của doanh nghiệp

Vì vậy, tùy theo quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm là trại bò, trại trâu cho ra sản phẩm bê con, nghé con; là những đồi chè, vườn chè cho ra sản phẩm để khai thác

là búp chè, lá chè để chế biến ra các loại chè phục

vụ tiêu dùng

* Về thực trạng ghi nhận ban đầu và sau ban đầu đối với tài sản cố định là vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm

Hiện nay, các doanh nghiệp đều tiến hành ghi nhận ban đầu và sau ban đầu đối với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm theo mô hình giá gốc Định kỳ trích khấu hao vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, tài sản cố định được theo dõi trên ba chỉ tiêu: Nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại Khi áp dụng

mô hình giá gốc, vườn cây được đầu tư, theo dõi

và đánh giá như tài sản cố định thông thường của doanh nghiệp Ở giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản, không tiến hành đánh giá lại giá trị vườn cây

Thông tin về giá trị của tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm và các khoản lãi lỗ phát sinh trong kỳ chưa được trình bày

rõ ràng, đầy đủ, có cơ sở trên hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp Khi kết thúc kỳ kế toán, giá trị của các tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm của doanh nghiệp được trình bày trên báo cáo tài chính mà cụ thể là Bảng cân đối kế toán theo giá gốc - giá trị ban đầu Nếu các tài sản này bị giảm giá hoặc bị tổn thất do mất mùa, dịch bệnh thì doanh nghiệp sẽ phải trích lập

dự phòng theo quy định Còn ngược lại, nếu giá trị các tài sản của doanh nghiệp tăng lên do quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng, vật nuôi thì khoản chênh lệch này lại không được phản ánh và ghi nhận

5 Đánh giá thực trạng ghi nhận và đo lường đối với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp

Dựa trên tình hình thực tế kế toán tài sản cố

Trang 5

TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

định trong lĩnh vực nơng nghiệp, tác giả rút ra một

vài ý kiến trao đổi như sau:

Thứ nhất, về cách phân loại đối với tài sản cố định

là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm

Tùy theo mục đích của hoạt động sản xuất mà

các đối tượng sản xuất trong nơng nghiệp cĩ thể

được phân thành tài sản cố định hay chi phí sản

xuất dở dang Chẳng hạn như ghi nhận là tài sản

cố định nếu đàn bị đĩ được nuơi để lấy sữa hoặc

sinh sản nhưng nếu nuơi để lấy thịt thì sẽ ghi nhận

các chi phí chăm sĩc, chăn nuơi như là chi phí sản

xuất dở dang cuối kỳ Tài sản cố định trong nơng

nghiệp thường được phân loại theo nhĩm hoặc

theo đàn như bị nuơi để lấy sữa hoặc sinh sản,

vườn cây lâu năm mỗi nhĩm cĩ những đặc điểm

riêng khác nhau Tài sản cố định là cơ thể sống cĩ

thể cĩ những biến đổi về thể chất từ lúc đưa vào sử

dụng đến khi thải loại như trọng lượng tăng thêm

của đàn gia súc sinh sản, cây lâu năm bị bệnh chết

Tuy nhiên, thực tế các doanh nghiệp hiện nay chưa

cĩ những cách thức nhận diện và phân loại rõ ràng

đối với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm

việc và cho sản phẩm nên sẽ thiếu tính chính xác

trong việc ghi nhận và phản ánh giá trị tài sản trên

báo cáo tài chính

Thứ hai, về cách ghi nhận và đo lường đối với

tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và

cho sản phẩm

Hiện nay, các doanh nghiệp vẫn đang lúng túng

trong việc ghi nhận và đo lường đối với tài sản cố

định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản

phẩm Do Việt Nam vẫn chưa ban hành chuẩn mực

kế tốn về nơng nghiệp nên việc ghi nhận đối với

tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và

cho sản phẩm đều được áp dụng theo chuẩn mực

kế tốn tài sản cố định hữu hình (tức tài sản ghi

nhận theo giá gốc và chỉ được đánh giá lại khi cĩ

quy định của Nhà nước) Mặt khác, hiện nay ở

các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nơng

nghiệp tại Việt Nam cũng khơng đánh giá lại giá

trị tài sản tại thời điểm lập báo cáo tài chính của

những kỳ kế tốn sau khi tài sản được ghi nhận

Trong các loại tài sản cố định hữu hình cĩ bao gồm

cả vườn cây lâu năm và đàn súc vật làm việc, mà giá trị của các tài sản này ở mỗi thời điểm thì khác nhau Trong quá trình sản xuất, chi phí phát sinh liên quan đến việc chăm sĩc, nuơi dưỡng tài sản

cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm đã được các doanh nghiệp ghi nhận ngay vào chi phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm Điều này là khơng hợp lý bởi quá trình trồng cây lâu năm hay nuơi dưỡng súc vật là quá trình lâu dài, cần cĩ sự chăm sĩc để hình thành cây cơng nghiệp hay súc vật trưởng thành cho ra sản phẩm

6 Một số đề xuất, kiến nghị hồn thiện về ghi nhận và đo lường đối với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm trong lĩnh vực nơng nghiệp

Tác giả thấy rằng cần thiết vận dụng kế tốn giá trị hợp lý trong điều kiện hiện nay, đặc biệt là vận dụng giá trị hợp lý để ghi nhận và đo lường đối với tài sản cố định trong lĩnh vực nơng nghiệp Cụ thể như sau:

Một là, giải pháp về nhận diện, phân loại đối với

tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm trong lĩnh vực nơng nghiệp

Tại thời điểm thu hoạch, tài sản sinh học sẽ được ghi nhận tách biệt với sản phẩm nơng nghiệp Ví dụ: cây cao su và mủ cao su, bị sữa và sữa sẽ được ghi nhận là cây trồng sống, động vật sống (tài sản sinh học) khi chưa thu hoạch; nhưng tại thời điểm thu hoạch thì cây cao su, bị sữa được ghi nhận là tài sản cố định và mủ cao su, sữa được ghi nhận là sản phẩm nơng nghiệp Do đĩ doanh nghiệp phải ghi nhận và xác định đối với cây lâu năm và súc vật làm việc cho sản phẩm thì được ghi nhận là tài sản

cố định hữu hình Cịn đối với cây lâu năm, súc vật làm việc khi chưa cho sản phẩm và mục đích đầu tư ban đầu để thu hoạch sản phẩm từ chính cây trồng

đĩ, hoặc sản phẩm từ chăn nuơi thì được ghi nhận vào khoản mục đầu tư xây dựng cơ bản Đối với các sản phẩm chưa thu hoạch thì được ghi nhận là sản phẩm dở dang, sản phẩm đã thu hoạch được ghi nhận là thành phẩm Đồng thời, doanh nghiệp

cĩ thể nhĩm tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm theo từng nhĩm để việc

Trang 6

dàng hơn Ví dụ, cây cao su già cho nhiều nhựa mủ

hơn nên doanh nghiệp có thể phân loại vườn cây

cao su theo từng năm tuổi để dễ dàng xác định giá

trị vườn cây, bò sữa có thể phân loại theo độ tuổi

hoặc theo lượng sữa thu được trong một ngày để dễ

dàng xác định giá trị của vật nuôi

Hai là, giải pháp về kế toán chi phí chăm sóc

đối với cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản

phẩm Để hình thành nên vườn cây công nghiệp

cho năng suất lâu dài trong nhiều năm, đòi hỏi phải

tiến hành đầu tư xây dựng cơ bản Quá trình đầu

tư xây dựng cơ bản thường diễn ra trong thời gian

dài, chẳng hạn cây cao su trải qua 7 năm (trong đó

3 năm trồng mới và 4 năm chăm sóc), cây cà phê

trải qua 3 năm (trong đó 1 năm trồng mới và 2 năm

chăm sóc) Vườn cây có thể được trồng mới bằng

những giống thực sinh trên cơ sở lựa chọn những

sản phẩm có chất lượng tốt ở những mùa vụ trước,

mùa vụ này ươm lên và giâm bầu, khi đủ thời gian

thì đưa vào trồng mới Hoặc doanh nghiệp có thể

trồng mới bằng các cây được chọn lọc chiết ghép,

đã đủ thời gian đưa vào để xây dựng cơ bản Cây

công nghiệp là các loại cây cho sản phẩm trong thời

gian dài Đặc điểm của loại cây này là sau quá trình

xây dựng cơ bản, bàn giao đưa vào sản xuất kinh

doanh sẽ cho thu hoạch sản phẩm trong nhiều năm,

tùy thuộc vào tuổi thọ của cây Sau quá trình xây

dựng cơ bản, vườn cây là tài sản cố định của doanh

nghiệp Do đó, quá trình từ khi gieo trồng đến khi

vườn cây bắt đầu có sản phẩm được xem như quá

trình đầu tư xây dựng cơ bản để hình thành nên

tài sản cố định Cây công nghiệp là các loại cây cho

sản phẩm trong thời gian dài Đặc điểm của loại

cây này là sau quá trình xây dựng cơ bản, bàn giao

đưa vào sản xuất kinh doanh sẽ cho thu hoạch sản

phẩm trong nhiều năm, tùy thuộc vào tuổi thọ của

cây Sau quá trình xây dựng cơ bản, vườn cây là tài

sản cố định của doanh nghiệp Do đó, quá trình

từ khi gieo trồng đến khi vườn cây bắt đầu có sản

phẩm được xem như quá trình đầu tư xây dựng cơ

bản để hình thành nên tài sản cố định, kế toán thực

hiện bút toán bàn giao ghi nhận giá trị tài sản cố

định là giá trị của vườn cây: Nợ tài khoản Vườn cây

sau này tính khấu hao thì chuyển vào chi phí sản xuất để tính vào giá thành sản phẩm Sau ghi nhận ban đầu, vườn cây lại được tiếp tục chăm bón, tưới tiêu để cho ra sản phẩm, những chi phí chăm sóc sau giai đoạn cây công nghiệp đã cho sản phẩm (chi phí chăm sóc nhằm duy trì hoạt động của cây

để cho ra sản phẩm ở những chu kỳ tiếp theo) thì nên tính vào chi phí sản xuất nhằm cấu thành giá thành sản phẩm thu hoạch

Đối với súc vật làm việc và cho sản phẩm, cần trải qua nhiều giai đoạn như xây dựng chuồng, trại, cho ăn, tiêm phòng, sưởi ấm Trải qua các quá trình đó, cần các chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc

để đáp ứng đủ điều kiện cho vật nuôi được tăng trưởng về chiều cao, cân nặng, dinh dưỡng… Do

đó, quá trình từ khi chăm sóc đến khi vật nuôi cho

ra sản phẩm được xem như quá trình đầu tư xây dựng cơ bản để hình thành nên tài sản cố định Sau giai đoạn sinh sản, vật nuôi cần được tiếp tục chăm sóc, các chi phí phát sinh của giai đoạn này được xác định là những chi phí phát sinh trong kỳ nhằm tiếp tục nâng cao năng suất sinh sản của vật nuôi

Ba là, giải pháp về ghi nhận ban đầu và sau ban

đầu với với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm

Các giai đoạn của tài sản cố định nói chung có thể được chia thành giai đoạn mua sắm, giai đoạn

sử dụng và giai đoạn ngừng hoạt động Theo đó, vòng đời của tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm cũng có thể được chia thành các giai đoạn tương tự (giai đoạn tăng trưởng, thời kỳ sinh sản và giảm dần khả năng sản xuất và tử vong)

Nếu doanh nghiệp vận dụng theo mô hình giá gốc thì thực hiện ghi nhận và đo lường tương tự như đối với kế toán tài sản cố định thông thường (theo mô hình giá gốc) Tức là tài sản cố định là súc vật làm việc và cho sản phẩm được nuôi dưỡng, chăm sóc và đến giai đoạn cho sản phẩm thì được ghi nhận là tài sản cố định Theo đó, giai đoạn tăng trưởng tương tự như giai đoạn hình thành để có được tài sản, nên cần được ghi nhận theo giá gốc

Trang 7

TỪ LÝ LUẬN ĐẾN THỰC TIỄN

(ghi nhận các chi phí chăm sĩc, tưới tiêu, phân

bĩn vào chi phí kinh doanh phát sinh trong kỳ)

Trong giai đoạn tăng trưởng, tài sản được khấu

hao, do đĩ việc sử dụng giá gốc là phù hợp Giai

đoạn kết thúc chu kỳ sống (tử vong), tài sản cố định

là cây lâu năm được ghi giảm trừ khỏi Bảng cân đối

kế tốn

Nếu doanh nghiệp vận dụng theo mơ hình giá,

đánh giá lại (dựa trên giá trị hợp lý) cũng thực

hiện ghi nhận và đo lường tương tự như đối với

kế tốn tài sản cố định thơng thường (theo mơ

hình giá đánh giá lại) Tuy nhiên, chỉ cĩ điểm khác

biệt là tại thời điểm đánh giá lại nếu đánh giá tăng

giá trị tài sản cố định thơng thường sẽ được ghi

nhận trên báo cáo thu nhập tồn diện khác (ghi

tăng vốn chủ sở hữu), cịn đánh giá tăng tài sản cố

định là súc vật làm việc và cho sản phẩm, ghi nhận

sự lớn lên trưởng thành thơng qua chiều cao, chu

vi, kích thước lại được ghi nhận trên báo cáo lãi

lỗ (coi như lãi được thực hiện) Cụ thể như sau:

Các chi phí phát sinh liên quan đến chăm sĩc, nuơi

dưỡng ghi nhận vào chi phí kinh doanh phát sinh

trong kỳ trên báo cáo lãi/lỗ Vào từng kỳ (cuối mỗi

năm), tài sản cố định là súc vật làm việc và cho

sản phẩm được xác định theo giá trị hợp lý trừ các

chi phí bán, khoản tăng/giảm giá trị của tài sản cố

định tại thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ được ghi nhận

vào lãi/lỗ trên báo cáo kết quả kinh doanh Sau quá

trình sinh sản và cho sản phẩm, đến giai đoạn suy

thối, tài sản bị giảm khả năng sản xuất (thay đổi

về vật lý), suy giảm về giá trị (thay đổi về giá trị)

thì cần nghiên cứu áp dụng mơ hình giá đánh giá

lại Bởi việc xác định giá trị tài sản cố định theo mơ

hình đánh giá lại (dựa trên giá trị hợp lý) sẽ phản

ánh đầy đủ và trung thực hơn Giai đoạn kết thúc

chu kỳ sống (tử vong), tài sản cố định là súc vật

làm việc và cho sản phẩm được ghi giảm trừ khỏi

bảng cân đối kế tốn, đồng thời ghi nhận khoản lỗ

trên báo cáo kết quả kinh doanh (vì lãi chưa được

thực hiện đã bị ghi giảm trừ) Tại thời điểm lập báo

cáo tài chính, nếu cĩ sự chênh lệch giữa giá gốc và

giá trị hợp lý, các doanh nghiệp nên thực hiện ghi

nhận như một khoản thu nhập, chi phí kinh doanh

trong kỳ

Kết luận

Trên đây là những ý kiến trao đổi của tác giả khi nghiên cứu áp dụng mơ hình tính giá trong kế tốn tài sản cố định đối với cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phảm Dựa trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu tiền nhiệm, nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, bài viết hy vọng sẽ giải quyết được những vướng mắc trong quá trình nhận thức và xác định giá trị tài sản thực tiễn hiện nay nhằm phục vụ cho quá trình cung cấp thơng tin cho các đối tượng sử dụng trong từng giai đoạn

cụ thể

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Amen, M (2000) Comment Letter on Exposure Draft E65 – Agriculture No 13 [online] Available on http://media.ifrs.org/ CommentsE65.zip cit 20110512;

2 Argilés, J., Slof, E (2001), New opportunities for farm accounting The European Accounting Review Vol 10 No 2, p 361–383;

3 Burnside, A., Schiller, S., “IAS 41 and the forest industry – A study of the forest products companies’ perception of the IAS 41 today” Canadian Institute of Chartered Accountants (1986) Comptabilité et Information Financière des Producteurs Agricoles;

4 Charles Elad & Kathleen Herbohn (2011), Implement fair value accounting in the agricultural sector Scotland The Institute of Chartered Accountants of Scotland;

5 CIMA (2000) Comment Letter on Exposure Draft E65 – Agriculture No 39 [online] Available on http://media.ifrs.org/ CommentsE65.zip cit.20110512;

6 Damian, M.I., Manoiu, S.M., Bonaci, C.G., Strouhal, J (2014) Bearer plants: Stakeholders’ view on the appropriate measurement model, Accounting and Management Information Systems Vol 13,

No 4, pp 719–738, 2014;

7 Hoffman, F., Schneider, E.,Dangerfield, A.(2000) Comment Letter on Exposure Draft E65 – Agriculture No 5 [online] Available

on http://media.ifrs.org/CommentsE65.zip.

Ngày đăng: 27/10/2020, 02:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu - Mô hình tính giá đối với tài sản cố định là cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu (Trang 2)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w