PHÂN TÍCH LÍ DO VÌ SAO NGÀY CÀNG NHIỀU NGƯỜI RỜI NÔNG THÔN LÊN THÀNH THỊ GÂY NÊN CẢNH ĐÔNG ĐÚC, TẮC ĐƯỜNG, THIẾU CÁC ĐIỀU KIỆN SỐNG CẦN THIẾT..PHÂN TÍCH LÍ DO VÌ SAO NGÀY CÀNG NHIỀU NGƯỜI RỜI NÔNG THÔN LÊN THÀNH THỊ GÂY NÊN CẢNH ĐÔNG ĐÚC, TẮC ĐƯỜNG, THIẾU CÁC ĐIỀU KIỆN SỐNG CẦN THIẾT..PHÂN TÍCH LÍ DO VÌ SAO NGÀY CÀNG NHIỀU NGƯỜI RỜI NÔNG THÔN LÊN THÀNH THỊ GÂY NÊN CẢNH ĐÔNG ĐÚC, TẮC ĐƯỜNG, THIẾU CÁC ĐIỀU KIỆN SỐNG CẦN THIẾT.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
TIỂU LUẬN KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG
Đề tài:
PHÂN TÍCH LÍ DO VÌ SAO NGÀY CÀNG NHIỀU NGƯỜI RỜI NÔNG THÔN LÊN THÀNH THỊ GÂY NÊN CẢNH ĐÔNG ĐÚC, TẮC ĐƯỜNG, THIẾU CÁC
ĐIỀU KIỆN SỐNG CẦN THIẾT.
Giảng viên: PGS TS Nguyễn Thị Kim Anh Học viên: Lương Ngọc Linh
Lớp: Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
Đà Nẵng, Tháng 7 năm 2020
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN
ĐIỂM
SỐ
ĐIỂM CHỮ
GIẢNG VIÊN CHẤM 1
GIẢNG VIÊN CHẤM 2
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài 1
PHẦN NỘI DUNG 2
1 Một số vấn đề cơ bản về di dân từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam 2
1.1 Đô thị hóa và quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị 2
2 Thực trạng và nguyên nhân di dân từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam hiện nay 3
2.1 Về thực trạng 3
2.2 Những thuận lợi chủ yếu của người di dân từ nông thôn ra thành thị 4
2.3 Những khó khăn chủ yếu của người di dân từ nông thôn ra thành thị 4
3 Giải pháp 5
PHẦN KẾT LUẬN 10
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Những năm qua, nhiều đô thị nước ta đã được mở rộng về quy mô không gian Theo đó, dân số cũng như mật độ dân cư tại các khu vực nội đô ngày một tăng cao Điều đáng quan tâm là quá trình này không diễn ra đồng đều mà chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Ở đây, ngoài khía cạnh tích cực là làm gia tăng tính năng động xã hội của người lao động và thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, việc di cư từ nông thôn ra thành thị đã và đang gây áp lực không nhỏ đối với hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội, nhà ở Một trong những bất cập mà hằng ngày người dân các đô thị lớn phải "chung sống" là nạn kẹt xe, ô nhiễm môi trường Ngoài
ra, tình trạng gia tăng dân số cơ học quá nhanh ở các đô thị lớn cũng khiến công tác quản lý dân cư gặp không ít khó khăn
Song, nan giải hơn cả là càng ở những đô thị lớn, sức hút đối với dòng di cư từ nông thôn càng mạnh mẽ Thực trạng này đã và đang khiến một số đô thị phải gánh chịu nhiều sức ép về dân số và nghèo đói Nói cách khác, con đường đô thị hóa đang hiển hiện những mâu thuẫn cần được giải quyết Trước hết, quá trình ấy đang làm giảm khá lớn diện tích đất nông nghiệp ở các thành phố, tạo ra những khoảng thời gian nông nhàn và làm "dư thừa" nguồn lao động lớn ở đây Cùng đó, tính bất ổn định việc làm của người nhập cư khá cao và, như một lẽ đương nhiên, thu nhập của họ không ổn định Họ làm những việc mà người dân sở tại không muốn làm, như phụ hồ, giúp việc gia đình , trong khi chính sách quản lý đô thị ngày càng chặt chẽ cũng đã có những ảnh hưởng bất lợi đến nhóm nhập cư, nhất là với những người bán hàng rong ở các đô thị lớn Cũng bởi vậy mà hầu hết trong số họ không tiếp cận được các hệ thống an sinh
xã hội và các dịch vụ khác như giáo dục, y tế Do đó, nếu không có những chính sách phù hợp, phần lớn những người di cư sẽ phải đối mặt với thực trạng là chuyển cái nghèo khó từ nơi này sang cái nghèo khó ở nơi khác mà thôi Ấy là chưa nói đến những "lệch pha" về văn hóa và lối sống, dẫn đến những hệ lụy mang tính xã hội
Trên đây là cả một vấn đề lớn mà các nhà quản lý đang hằng ngày đối diện Bởi
lẽ, đúng như đúc kết của chuyên gia đô thị từ những nước phát triển, dòng lao động di chuyển từ nông thôn ra thành thị là một quy luật kinh tế tất yếu đối với mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa Nguồn lực này thậm chí là một tiềm năng
vô tận cho tăng trưởng kinh tế Như vậy, không cách nào khác, cần phải có những giải pháp chiến lược từ góc độ chính quyền đô thị và cộng đồng để thực thi hiệu quả những vấn đề mang tính quy luật đó
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
1 Một số vấn đề cơ bản về di dân từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam
1.1 Đô thị hóa và quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng, một khu vực hoặc quốc gia Đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, hoặc mật độ dân cư, hoặc thương mại, hoặc các hoạt động khác trong một khu vực nhất định theo thời gian Quá trình đô thị hóa có thể diễn ra thông qua sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị, hoặc sự phát triển tự nhiên của dân cư hiện có Tuy nhiên, trong thực tế quá trình
đô thị hóa tại các quốc gia đang phát triển chủ yếu là thông qua quá trình chuyển dịch dân cư vì quá trình phát triển dân cư tự nhiên thường không mạnh, do mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành phố thấp hơn nông thôn
Có thể nói rằng quá trình di cư từ nông thôn vào thành thị là tiền đề, đồng thời cũng là
hệ quả tất yếu của quá trình đô thị hóa Sẽ không có quá trình đô thị hóa, nếu không có
sự di cư
Ở Việt Nam trong những năm qua, cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước, tốc độ đô thị hóa cũng diễn ra vô cùng nhanh chóng Sự phát triển mạnh mẽ của các đô thị trên phạm vi cả nước đã dẫn đến sự tập trung với quy mô và tốc độ ngày càng cao của cư dân đô thị, đặc biệt là dòng di cư của lao động nông thôn vào các thành phố tìm việc làm Chính dòng di cư lao động này đã tạo ra sự thịnh vượng cho các đô thị, song bản thân nó cũng đẻ ra vô số hệ lụy mà đô thị phải gánh chịu đó là nạn thất nghiệp, ách tắc giao thông, thiếu nhà ở, vệ sinh môi trường kém, thiếu trường học, thiếu dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe…
Việc nhận thức đúng đắn quy luật di cư để từ đó có các biện pháp hữu hiệu nhằm chủ động trong việc kiểm soát dòng di cư trong quá trình đô thị hóa luôn là bài toán hóc búa, nhưng đồng thời là mong muốn cháy bỏng của các nhà hoạch định chính sách vĩ
mô, các nhà quản lý đô thị cũng như các chính sách xã hội hiệu quả
1.2 Khái niệm di cư, di dân
Di cư hay di dân là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập, hoặc thiết lập nơi cư trú mới vào một đơn vị hành chính -địa lý trong một thời gian nhất định Di dân có thể liên quan đến sự di chuyển của một
cá nhân, một gia đình, thậm chí cả một cộng đồng Một điều có thể nhận thấy là không phải mọi sự di chuyển của con người đều được coi là di dân Từ các nghiên cứu, chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng: Di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những giới hạn về thời gian và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi
cư trú Theo cách tiếp cận trên đây, di dân có những đặc điểm là:
Một là, con người di chuyển khỏi một nơi nào đó đến một nơi khác, với một khoảng cách nhất định Nơi đi (nơi xuất cư) và nơi đến (nơi nhập cư) phải được xác định, có
Trang 7thể là vùng lãnh thổ hoặc một đơn vị hành chính Khoảng cách giữa hai điểm là độ dài
di dân Hai là, con người khi di dân bao giờ cũng với những mục đích nhất định, họ đến một nơi nào đó và ở lại đó trong một thời gian nhất định Ba là, nơi đi (xuất phát)
là nơi ở thường xuyên, được quy định theo hình thức đăng ký hộ khẩu hoặc đăng ký dân sự xác định của cấp quản lý hành chính có thẩm quyền và nơi đến là nơi ở mới Tính chất cư trú là điều kiện cần để xác định di dân Bốn là, khoảng thời gian ở lại nơi mới trong bao lâu là đặc điểm quan trọng xác định sự di chuyển đó có phải là di dân hay không
2 Thực trạng và nguyên nhân di dân từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam hiện nay.
2.1 Về thực trạng
Theo Tổng điều tra dân số năm 2014, Việt Nam hiện có khoảng 6,9 triệu người
từ 5 tuổi trở lên thay đổi nơi cư trú tới địa điểm khác trong thời gian từ năm 2009-2014 (tương đương với khoảng 7,92% tổng số dân) Con số này tăng gần 50% so với giai đoạn 1994-1999 (4,5 triệu người)(1) Đến năm 2015, cả nước có 10,2 triệu người di dân nội tỉnh và liên tỉnh(2) Gần đây, tháng 6-2016, Viện Phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh sáng (LIGHT) công bố kết quả khảo sát, theo đó, cứ 3 hộ gia đình thì có 2 người di dân
Theo kết quả điều tra dân số giữa kỳ của Tổng cục Thống kê năm 2014, tỷ suất di dân thuần của khu vực thành thị là 27,2% và của khu vực nông thôn là -13,3%, phản ánh xu hướng di dân chủ yếu vào khu vực thành thị Kết quả điều tra cũng cho thấy, đối với di dân ngoại tỉnh, luồng di dân từ nông thôn ra thành thị chiếm tỷ trọng cao nhất (44,2%) Dân cư khu vực nông thôn từ tỉnh khác chuyển đến chiếm 3,38% dân số thành thị So với giai đoạn 2004-2009, tỷ trọng luồng di dân từ nông thôn ra thành thị tăng lên (44,2% so với 30,5%), tỷ trọng luồng di dân từ thành thị đến thành thị giảm xuống từ 34,6% xuống 14,9%(3) Điều này cho thấy sức hút kinh tế của khu vực thành thị đối với khu vực nông thôn ngày càng lớn
Tuy nhiên, các số liệu nêu trên chưa bao gồm nhiều loại hình di dân như ngắn hạn, mùa vụ, những người tạm trú hay những sự di chuyển diễn ra hơn 5 năm trước khi tiến hành cuộc điều tra Vì thế nhiều chuyên gia cho rằng, số lượng người di dân thực tế ở Việt Nam thời gian này còn lớn hơn nhiều so với các con số nêu trên
Riêng đối với lao động tự do, theo thống kê mới nhất của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, cả nước hiện có 56 triệu người trong độ tuổi lao động, nhưng chỉ có khoảng 16,2 triệu người có quan hệ lao động, tức là có hợp đồng lao động, có các ràng buộc về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội …, còn lại là nông dân, lao động làng nghề Đặc biệt, trong số này có 23,5% lao động (tương đương 10,9 triệu người) làm việc trong khu vực không chính thức là lao động tự do như: thợ uốn tóc, thợ may tại nhà, thợ xây dựng tự do, người hành nghề xe ôm, giúp việc gia đình Trong đó, lao động
tự làm 15%, lao động làm thuê 5,7%, lao động gia đình không hưởng lương 1,9%(4)
Trang 82.2 Những thuận lợi chủ yếu của người di dân từ nông thôn ra
thành thị
Một là, di cư từ nông thôn ra thành thị đã giải quyết việc làm cho một lượng lớn lao động: hàng chục vạn lao động di cư đã được tuyển dụng vào làm việc trong các xí nghiệp, các cơ quan, các doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và tư nhân; hàng nghìn người lao động tự do cũng tìm được những công việc rất đa dạng mà khu vực thành thị cần có người làm, như: thu mua phế liệu, buôn bán nhỏ, giúp việc gia đình, lái xe taxi,
xe ôm, công việc xây dựng, Điều đó cho thấy, những người di cư đã đóng góp một phần đáng kể nguồn lao động cho các khu công nghiệp, các ngành dịch vụ ở thành phố, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực thành thị
Hai là, hầu hết lao động di cư ra thành phố đã đạt được mục tiêu tìm kiếm việc làm, tăng thêm thu nhập, giúp đỡ tài chính cho gia đình để cải thiện đời sống hoặc đầu
tư vào sản xuất Thông qua đó, họ đã góp phần làm giảm sức ép về lao động dư thừa tại nông thôn, giải quyết việc làm nói chung và góp phần vào công cuộc giảm nghèo ở chính quê hương họ
Ba là, môi trường sinh sống và lao động ở thành phố là điều kiện thuận lợi để lớp người di cư trẻ tuổi có thể học được nhiều điều bổ ích, mở rộng tầm hiểu biết, nâng cao tay nghề và phấn đấu để đạt được những mơ ước của mình
2.3 Những khó khăn chủ yếu của người di dân từ nông thôn ra
thành thị
Vấn đề nhà ở cho những người di cư: vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu
về di dân đề cập đến và đều thừa nhận rằng, đây là một vấn đề nan giải, một áp lực lớn đối với chính quyền thành phố Đại đa số những người di cư vào thành phố không thể mua được nhà riêng, họ phải ở thuê trong những khu nhà trọ được xây dựng tạm bợ, không đủ các điều kiện sinh hoạt tối thiểu Nhiều người cùng thuê một căn phòng chật hẹp, không đủ tiện nghi, môi trường ô nhiễm làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân họ và cả cư dân xung quanh Việc giải quyết nhà ở cho cư dân sinh sống chính thức ở thành phố chưa bao giờ là vấn đề dễ dàng đối với chính quyền thành phố, nhất là các thành phố lớn; nay lại thêm làn sóng đông đảo người di cư ồ ạt đổ về khiến cho vấn đề vốn đã khó khăn lại trở nên khó khăn gấp bội Mặc dù Nhà nước đã có những chính sách để tháo gỡ, như việc đầu tư xây dựng những khu nhà dành riêng cho người có thu nhập thấp, nhưng người di cư không dễ dàng tiếp cận được, do điều kiện tài chính của họ còn hạn hẹp Để giải quyết vấn đề này, chính quyền thành phố, các chủ xí nghiệp, doanh nghiệp phải cùng tham gia vào việc xây dựng các khu nhà ở dành cho những người lao động
Cũng do không có nhà ở nên nhiều người di cư phải sống ở những nơi công cộng, những nơi mà trước đây người ta gọi là các “xóm liều” Những đối tượng này thường không khai báo tạm trú, tạm vắng với công an khu vực nên việc quản lý họ gặp nhiều khó khăn Trong số những người di cư ra thành phố có cả những phần tử có tiền
án, tiền sự trà trộn vào các khu nhà trọ, một số thanh niên sa ngã vào các tệ nạn xã hội
Trang 9như nghiện hút, cờ bạc, trộm cắp, mại dâm, khiến cho tình hình an ninh, trật tự xã hội ở thành phố nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Ngoài ra, sự phát triển các cơ sở hạ tầng như trường học, bệnh viện, giao thông đô thị cũng không theo kịp với sự gia tăng
số lượng người di cư vào thành phố, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội
Những khó khăn trong công việc: phần lớn những người di cư tự do từ nông thôn
ra thành thị có trình độ tay nghề thấp, chưa qua đào tạo, chưa được trang bị những hiểu biết cần thiết về điều kiện lao động công nghiệp, về môi trường sinh sống ở đô thị nên
họ thường gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm, không biết bảo vệ các quyền và quyền lợi của người lao động do luật pháp quy định Đa số người lao động tự do, làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, chấp nhận làm việc không có hợp đồng lao động, không có bảo hiểm, mà chỉ thỏa thuận miệng về tiền công, việc làm với chủ sử dụng lao động Vì vậy, thời gian lao động của họ thường bị kéo dài hơn thời gian do luật định; chế độ nghỉ ngơi không bảo đảm; khi ốm đau không được chăm sóc sức khỏe
Nguy cơ bị bóc lột, lạm dụng: do trình độ văn hóa thấp, thiếu hiểu biết về pháp luật, nên họ dễ bị lạm dụng, bị bóc lột, đặc biệt là chị em phụ nữ Số lượng lao động
nữ di cư ra thành phố thường đông hơn nam giới, nhưng họ lại là nhóm người dễ bị tổn thương nhất Ngoài những khó khăn mà chị em phải đối mặt như nam giới thì họ luôn phải đề phòng nạn cướp bóc, trấn lột, bạo hành, buôn bán phụ nữ, xâm hại tình dục; đặc biệt là số lao động nữ làm việc trong các nhà hàng, khách sạn, các quán karaoke,
vũ trường, những tụ điểm vui chơi, giải trí là nhóm người có nguy cơ cao về lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục
3 Giải pháp
Thứ nhất, để giải quyết vấn đề nhà ở cho người di cư, chính quyền đô thị cần có các biện pháp phù hợp, như: quy định đối với các cơ sở tuyển dụng lao động phải bảo đảm chỗ ở cho người nhập cư gần doanh nghiệp của mình và theo quy hoạch chung; xây dựng các khu nhà ở xã hội, nhà giá rẻ cho người nhập cư có thu nhập thấp… Thứ hai, việc quản lý hộ khẩu cũng cần có cách tiếp cận thích hợp trong bối cảnh mới Người nhập cư cống hiến sức lao động của mình cho sự phát triển chung của xã hội, vì vậy không thể coi họ là công dân đô thị loại hai Trong thời gian qua, ở các thành phố lớn đã quá coi trọng hộ khẩu, thường có các biện pháp xử lý dựa vào hộ khẩu Do đó, những người nhập cư chưa có hộ khẩu thường tiếp cận hạn chế với các dịch vụ cơ bản Vì vậy, công tác quản lý hộ khẩu cần cải tiến linh hoạt hơn, dễ tiếp cận và không gây phiền hà cho người dân, tránh tình trạng lợi dụng việc có nhiều người muốn chuyển đến đô thị, khu công nghiệp tìm việc làm, một số cá nhân đã lừa gạt người nhập cư với những thông tin sai lệch để trục lợi
Thứ ba, để khắc phục tình trạng người nhập cư vào các đô thị nói chung không
có tay nghề hoặc tay nghề không cao, cần thực hiện một số giải pháp như:tăng cường công tác tuyên truyền hướng nghiệp cho học sinh ngay từ trong nhà trường phổ thông;
mở các khóa bổ túc nghề ngoại khóa theo nguyện vọng, sở trường cho học sinh các lớp
Trang 10phổ thông trung học; trên cơ sở nghiên cứu cầu của nền kinh tế về số lượng và chất lượng nguồn lao động đối với từng loại hình nghề nghiệp, các trường nghề có kế hoạch tuyển sinh và đào tạo cho phù hợp
4 Khuyến nghị
Dưới góc độ lý thuyết, để lý giải cho nguồn gốc sự di dân từ khu vực nông thôn vào thành thị diễn ra trong quá trình đô thị hóa, đã có nhiều nhiều mô hình lý thuyết khác nhau, trong đó được thừa nhận rộng rãi nhất phải kể đến các mô hình khu vực kép (Dual Sector Model) của Arthur Lewis và mô hình thu nhập kỳ vọng (Expected Income Model) của Harris – Todaro
Mô hình khu vực kép giải thích hiện tượng lao động dư thừa từ khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống (đặc trưng cho nông thôn) được chuyển dịch sang các ngành sản xuất chế biến hiện đại (đặc trưng cho đô thị) trong quá trình công nghiệp hóa, với giả định rằng, trong nền kinh tế chỉ tồn tại 02 khu vực: khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống và khu vực sản xuất chế biến hiện đại Ngành nông nghiệp truyền thống phổ biến là lao động thủ công, năng suất thấp nên có mức lương thấp Ngược lại, các ngành sản xuất chế biến hiện đại thường có năng suất cận biên cao, mức lương cao hơn khu vực kinh tế nông nghiệp, và có nhu cầu tăng thêm lao động Mô hình cũng giả định việc cải thiện năng suất cận biên của lao động trong ngành nông nghiệp ít được
ưu tiên hơn tại các quốc gia đang phát triển Điều này dẫn đến xu hướng chuyển dịch các khoản “lợi nhuận ròng” thu được từ khu vực sản xuất nông nghiệp sang các ngành sản xuất công nghiệp
Do sản xuất nông nghiệp bị hạn chế về mặt diện tích đất sản xuất, do đó sản phẩm cận biên tăng thêm của một nông dân được giả định sẽ tiến đến zero theo quy luật “lợi nhuận biên giảm dần” Kết quả là, trong ngành nông nghiệp tồn tại một số lượng lao động không đóng góp làm tăng sản lượng nông nghiệp kể từ khi sản phẩm cận biên của họ bằng không Nhóm nông dân này chính là nguồn “lao động dư thừa”
từ khu vực nông nghiệp Do có sự khác biệt về tiền lương giữa ngành sản xuất nông nghiệp và các ngành sản xuất chế biến hiện đại nên đội quân lao động dư thừa này sẽ được dịch chuyển tới các ngành sản xuất khác mà không làm ảnh hưởng đến sản lượng đầu ra của ngành nông nghiệp
Nếu số lượng người lao động di chuyển từ nông nghiệp sang lĩnh vực sản xuất khác bằng với số lượng “lao động dư thừa” trong lĩnh vực nông nghiệp, phúc lợi và năng suất chung sẽ được cải thiện Tổng số sản phẩm nông nghiệp sẽ vẫn không thay đổi trong khi tổng sản phẩm công nghiệp tăng lên do việc bổ sung thêm lao động Theo thời gian, việc tăng thêm lao động sẽ làm cho năng suất lao động và mức tiền lương cận biên trong lĩnh vực sản xuất chế biến dần dần giảm xuống trong khi đó năng suất cận biên và tiền lương trong sản xuất nông nghiệp dần tăng lên do lao động kém hiệu quả bị rút bớt Kết quả là năng suất lao động cận biên trong nông nghiệp tiến tới cân bằng với năng suất lao động cận biên của các ngành sản xuất khác, mức lương trong ngành nông nghiệp cân bằng với mức lương trong các ngành sản xuất khác,