1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Cần tháo gỡ vướng mắc về cơ chế trong hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

4 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 138,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày vướng mắc do quy định về bảo đảm cho hoạt động bảo lãnh vay vốn, vướng mắc trong thực hiện quy định bảo toàn vốn, vướng mắc trong việc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn các ngân hàng thương mại góp vốn điều lệ Quỹ bảo lãnh tín dụng,...

Trang 1

Ngày 15 tháng 10 năm 2013, Thủ tướng

Chính phủ đã ban hành Quyết định số

58/2013/QĐ-TTg về việc ban hành Quy

chế thành lập, tổ chức hoạt động của

Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

(gọi tắt là QĐ 58) Căn cứ Quyết định trên, Hội đồng

nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa VIII, nhiệm kỳ

2011 - 2016, kỳ họp thứ 8 đã thống nhất thông qua

Đề án thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp

nhỏ và vừa thành phố tại Nghị quyết số 53/2013/

NQ-HĐND ngày 13.12.2013 Trên cơ sở đó, Chủ tịch

UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 9299/

QĐ-UBND ngày 31.12.2013 về việc thành lập Quỹ

Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa thành

phố Đà Nẵng (gọi tắt là Quỹ) và Quyết định số 1467/

QĐ-UBND ngày 07.3.2014 về việc ban hành Điều lệ tổ

chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh

nghiệp nhỏ và vừa thành phố Đà Nẵng

Qua thực tế hoạt động, Quỹ đã gặp phải những

vướng mắc phát sinh do cơ chế hoạt động theo Quyết

định số 58/2013/QĐ-TTg; cần sự nghiên cứu, tháo gỡ

từ phía Chính phủ và các bộ ngành Trung ương để

Quỹ thực sự thực hiện được vai trò hỗ trợ phát triển

doanh nghiệp nhỏ và vừa

1 Vướng mắc do quy định về bảo đảm cho hoạt

động bảo lãnh vay vốn

Điều 23, QĐ 58 quy định: “Bên được bảo lãnh phải

sử dụng tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong

tương lai thuộc quyền sở hữu của mình mà pháp luật

không cấm giao dịch để thực hiện các biện pháp bảo

đảm cho bảo lãnh vay vốn tại bên bảo lãnh theo quy

định của pháp luật về giao dịch bảo đảm”

CẦN THÁO GỠ VƯỚNG MẮC VỀ CƠ CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ BẢO LÃNH TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

? ĐoÀN NGọc VUI *

Như vậy, để được Quỹ cấp bảo lãnh tín dụng thì ngoài việc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo lãnh, doanh nghiệp còn phải có tài sản bảo đảm tại Quỹ cho khoản bảo lãnh, thậm chí tài sản đó phải

là của mình (tức là của bản thân doanh nghiệp) chứ không được của bên thứ 3

Tuy nhiên, xét cả về mặt lý luận lẫn thực tế, nếu doanh nghiệp đã có tài sản đảm bảo thì sẽ thế chấp cho ngân hàng để vay trực tiếp chứ không cần Quỹ bảo lãnh để sang ngân hàng vay vốn, vừa mất thêm khoản phí bảo lãnh, vừa mất thời gian làm hồ sơ thủ tục, phí thẩm định giá Do đó, doanh nghiệp không chấp nhận điều này nên Quỹ cũng không thể thực hiện bảo lãnh cho doanh nghiệp Đó là một thực tế, thậm chí nếu doanh nghiệp được ngân hàng xếp hạng tốt, phương án vay vốn được đánh giá là khả thi và hiệu quả thì ngân hàng vẫn có thể cho doanh nghiệp vay không có tài sản đảm bảo đối với phần tài sản còn thiếu mà không cần chứng thư bảo lãnh

Trang 2

2 Vướng mắc trong thực hiện quy định bảo

toàn vốn

Điều 32, QĐ 58 quy định: “Vốn hoạt động của Quỹ

phải được sử dụng đảm bảo an toàn vốn và tài sản”

Điều này được hiểu là Quỹ hoạt động phải bảo toàn

và phát triển vốn hoạt động Trong khi đó, hoạt động

bảo lãnh tín dụng, hay nói cách khác là “lãnh nợ” - một

hoạt động rất rủi ro; do đó mà QĐ 58 có quy định về

việc doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo tại Quỹ để

khi phát sinh rủi ro thì Quỹ xử lý tài sản đảm bảo để

thu hồi nợ nhằm thực hiện bảo toàn vốn, tuy nhiên lại

gặp phải vướng mắc như đã nêu trên

Để giải quyết vướng mắc này, theo tôi, cần phải

có cơ chế về mức trích và tạo lập Quỹ dự phòng rủi

ro đủ lớn để bù đắp khi rủi ro xảy ra mà không phải

dùng đến vốn điều lệ nhằm tránh tình trạng không

bảo toàn vốn; muốn vậy cần phải có nguồn để trích

lập dự phòng; đối với Quỹ hiện nay đó chính là nguồn

từ chênh lệch thu chi (chủ yếu từ lợi nhuận được chia

phần vốn góp của Ngân sách Nhà nước) và Quỹ dự

phòng này cần được dồn tích qua nhiều năm để tạo

một nguồn đủ lớn để bù đắp rủi ro mà không cần

phải dùng đến vốn điều lệ

3 Vướng mắc trong việc Ngân hàng Nhà nước

hướng dẫn các ngân hàng thương mại góp vốn

điều lệ Quỹ bảo lãnh tín dụng

QĐ 58 quy định việc các ngân hàng thương mại

tham gia góp vốn điều lệ Quỹ bảo lãnh và giao Ngân

hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam hướng dẫn các tổ

chức tín dụng (TCTD) trong việc góp vốn nhưng tại

Thông tư số 05/2015/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam đã không hướng dẫn nội dung này mà

lại bãi bỏ Thông tư 01/2006 về hướng dẫn các ngân

hàng thương mại góp vốn; tức là không thực hiện

QĐ 58 của Thủ tướng dẫn đến các tổ chức tín dụng

không có cơ sở để góp vốn điều lệ Quỹ mặc dù có

một số ngân hàng đã thống nhất góp vốn điều lệ cho

Quỹ

Tuy nhiên, việc quy định các ngân hàng thương

mại tham gia góp vốn điều lệ Quỹ bảo lãnh theo QĐ

58 lại trái với quy định tại Điều 103, 110, 115, 118 của

Luật các TCTD năm 2010 khi chỉ cho phép các NHTM

góp vốn vào doanh nghiệp, trong khi Quỹ Bảo lãnh

tín dụng là một tổ chức tài chính hoạt động không vì

mục tiêu lợi nhuận, nên cũng không được xem là một

quỹ đầu tư Ngoài ra, việc TCTD góp vốn để bảo lãnh

hàng bảo lãnh cho chính ngân hàng) là không hợp lý nên NHNN Việt Nam không có Thông tư hướng dẫn theo như quy định tại QĐ 58

4 các vướng mắc chính trong việc ký kết Thỏa thuận hợp tác giữa Quỹ với các ngân hàng thương mại theo Thông tư số 05/2015/TT-NHNN ngày 04.5.2015 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (TT 05)

4.1 Về tài sản đảm bảo tại Quỹ bảo lãnh tín dụng

Theo Điều 23, QĐ 58 thì doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo (TSĐB) tại Quỹ Theo Điều 7, TT 05 của NHNN thì Quỹ trả nợ thay ngay khi ngân hàng yêu cầu, nếu không thì phải chuyển TSĐB tại Quỹ cho ngân hàng xử lý để thu hồi nợ

Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, nếu doanh nghiệp đã có TSĐB thì thế chấp vay trực tiếp tại ngân hàng chứ không thế chấp cho Quỹ Ngoài ra, trường hợp doanh nghiệp đưa tài sản thế chấp cho ngân hàng thì không phải thuê đơn vị thẩm định giá TSĐB

mà do ngân hàng trực tiếp làm (sẽ được tính trừ vào những khoản khác), nhưng nếu thế chấp cho Quỹ thì doanh nghiệp phải thuê đơn vị thẩm định giá TSĐB, tốn thêm phí Chứng thư thẩm định giá Do đó, cả Quỹ

và ngân hàng đều thống nhất rằng đây là điều không thể ký được Thỏa thuận phối hợp theo TT 05

4.2 Về việc chấp nhận Chứng thư bảo lãnh

Đến nay, hầu hết các ngân hàng không chấp nhận Chứng thư của Quỹ do theo QĐ 58 thì chứng thư của Quỹ là chứng thư có điều kiện, nhưng các ngân hàng chỉ chấp nhận chứng thư vô điều kiện và không hủy ngang

Các TCTD đề nghị Chứng thư bảo lãnh của Quỹ

là cam kết thanh toán vô điều kiện, Quỹ có trách

nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh ngay khi nhận được văn bản yêu cầu của ngân hàng, nhưng điều này là trái với QĐ 58; do đó Quỹ và ngân hàng không thể thực hiện được việc ký Thỏa thuận phối hợp

4.3 Vướng mắc trong công tác phối hợp thẩm định

Do 2 bên thẩm định dựa trên 2 cơ sở khác nhau: Ngân hàng thẩm định dựa trên các báo cáo tài chính (BCTC) nội bộ, còn Quỹ thẩm định dựa trên BCTC quyết toán thuế hoặc đã được kiểm toán dẫn đến kết quả khác nhau, thậm chí trái ngược nhau

Ngân hàng có thể bỏ qua những sai sót của doanh

Trang 3

doanh nghiệp phải chứng minh vốn tự có thực hiện

phương án vay vốn, vốn điều lệ,… nhưng quy định

tại QĐ 58 thì đặt trọng yếu đối với những vấn đề này

Phương án sản xuất kinh doanh/dự án đầu tư

doanh nghiệp nộp cho ngân hàng xác định doanh

thu, chi phí theo báo cáo nội bộ; trong khi phương

án sản xuất kinh doanh/dự án đầu tư doanh nghiệp

nộp cho Quỹ phải phù hợp với báo cáo tài chính được

kiểm toán hoặc nộp cho cơ quan thuế Điều này dẫn

đến sự chênh lệch về số liệu giữa Quỹ và ngân hàng

trong đánh giá hiệu quả và khả năng hoàn trả vốn

vay đúng hạn của phương án sản xuất kinh doanh/

dự án đầu tư

Vướng mắc trong việc chứng minh 15% vốn chủ

sở hữu tham gia dự án đầu tư, phương án sản xuất

kinh doanh: với phương án sản xuất kinh doanh, ngân

hàng và Quỹ chấp nhận doanh thu và chi phí khác

nhau, vòng quay vốn lưu động khác nhau dẫn đến

việc tính toán nhu cầu vốn cho phương án, xác định

vốn tự có tham gia phương án cũng khác nhau Trong

khi Quỹ bắt buộc phải kiểm soát việc doanh nghiệp

phải chứng minh có 15% vốn chủ sở hữu tham gia dự

án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh thì ngân

hàng vì có nhiều biện pháp kiểm tra, giám sát khác

như quản lý dòng tiền nên không yêu cầu doanh

nghiệp phải chứng minh các nguồn vốn tham gia

phương án sản xuất kinh doanh/dự án đầu tư Hiện

nay, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa hướng dẫn cụ thể

về việc chứng minh 15% vốn chủ sở hữu tham gia vào

phương án này

4.4 Vướng mắc về các thủ tục trước khi thực hiện

nghĩa vụ trả nợ thay

a) Về thực hiện mọi biện pháp thu hồi nợ

Hiện nay, khi doanh nghiệp không trả nợ đúng

hạn thì TCTD chỉ thực hiện thủ tục nhắc nợ mà không

áp dụng mọi biện pháp thu hồi nợ (bao gồm cả

điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ) theo quy định

tại Điều 28, QĐ 58; do đó, Quỹ không có cơ sở để trả

nợ thay

Tuy nhiên, các TCTD lại cho rằng việc yêu cầu TCTD

phải thực hiện tất cả các biện pháp thu hồi nợ trước

khi đề nghị Quỹ trả nợ thay là trái với quy trình đòi nợ

của ngân hàng Do theo quy định, các TCTD không

bắt buộc phải thực hiện tất cả các biện pháp thu hồi

nợ vì việc xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn

nợ là Quyền, không phải nghĩa vụ của ngân hàng và

đã được quy định tại hợp đồng tín dụng với doanh nghiệp Khi quá hạn, các khoản nợ tự động nhảy nhóm nợ Do đó khi rủi ro xảy ra, TCTD yêu cầu Quỹ thực hiện ngay thủ tục trả nợ mà không thực hiện hết tất cả các biện pháp thu hồi nợ

b) Về trách nhiệm chứng minh TCTD đang cho vay đúng mục đích

Trường hợp TCTD cho vay có TSĐB tại ngân hàng (không cần dựa trên Chứng thư bảo lãnh), trong quá trình cho vay nếu khách hàng sử dụng vốn không

đúng mục đích (do cố ý, hoặc do yếu tố khách quan

khác…) làm cho quá trình kiểm tra sử dụng vốn của

ngân hàng không hoàn toàn được chính xác, khi có rủi ro xảy ra, TCTD có quyền xử lý tài sản, tự ngân hàng có thể chủ động làm được

Tuy nhiên, nếu cho vay trên Chứng thư bảo lãnh của Quỹ mà ngân hàng không chứng minh được việc kịp thời phát hiện và không kiểm tra việc sử dụng vốn vay không đúng, không đầy đủ thì Quỹ từ chối trả nợ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng

Đối với khoản cho vay theo hạn mức thì ngân hàng không tách bạch được phần nào giải ngân bằng Chứng thư Quỹ bảo lãnh, phần nào giải ngân bằng TSĐB của doanh nghiệp tại ngân hàng, do đó rất khó xác định việc sử dụng vốn vay đúng mục đích trên Chứng thư bảo lãnh của Quỹ

Ngoài ra, QĐ 58 yêu cầu TCTD gửi hồ sơ đầy đủ hợp lệ cho Quỹ; tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước chưa

có hướng dẫn nêu rõ hồ sơ nào, như thế nào là hợp

lệ, việc yêu cầu sử dụng đầy đủ các biện pháp thu hồi

nợ cần quy định cụ thể vì mỗi ngân hàng có một quy trình, biện pháp thu hồi nợ khác nhau hoặc theo quy trình đòi nợ của ngân hàng

4.5 Về thời hạn hiệu lực của bảo lãnh vay vốn

Tại Điều 30 QĐ 58 quy định chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh vay vốn trong đó có trường hợp thời hạn hiệu lực của bảo lãnh vay vốn đã hết Tuy nhiên, không hướng dẫn cụ thể về cách xác định Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh vay vốn

Trong khi đó, cũng theo QĐ 58: nếu doanh nghiệp không trả được nợ, theo quy định tại Điều 28 về thực hiện cam kết bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp để thu hồi nợ

(bao gồm cả điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ…)

trước khi đề nghị Quỹ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Trang 4

Như vậy, khi thực hiện các thủ tục này, ngân hàng

mới đề nghị Quỹ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nhưng

khi đó hợp đồng bảo lãnh, chứng thư bảo lãnh đã hết

hiệu lực vì đã hết thời hạn bảo lãnh, không thể đề

nghị Quỹ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh

Theo quy định tại Điều 16 QĐ 58 thì thời hạn bảo

lãnh tín dụng được xác định phù hợp với thời hạn

vay vốn đã thỏa thuận giữa bên được bảo lãnh và tổ

chức tín dụng Tuy nhiên, thời hạn bảo lãnh của Quỹ

chưa tính thời gian thực hiện các thủ tục để thực hiện

nghĩa vụ bảo lãnh

Thực tế hiện nay tại các Quỹ bảo lãnh, thời hạn

hiệu lực bảo lãnh là thời hạn bảo lãnh của Chứng

thư bảo lãnh Do đó đây là vướng mắc lớn trong việc

thống nhất giữa Quỹ, doanh nghiệp và ngân hàng

Theo tôi, đề nghị Ngân hàng Nhà nước có thể quy

định: thời hạn hiệu lực của Chứng thư bảo lãnh = thời

hạn bảo lãnh = thời hạn vay vốn của HĐTD + 3 tháng

xử lý nợ

Với những vướng mắc trên, Quỹ và các TCTD

không ký kết được với nhau Thỏa thuận hợp tác theo

Thông tư 05 của Ngân hàng Nhà nước Một vấn đề

nữa cần phải trao đổi thêm là: mặc dù có nhiều nội

dung, quy định trong QĐ 58 cần phải có hướng dẫn

chi tiết nhưng QĐ 58 không có quy định cụ thể nào

yêu cầu NHNN hướng dẫn các quy trình một cách chi

tiết, do đó NHNN không có cơ sở pháp lý để hướng

dẫn sâu, kỹ hơn tại TT 05

Mặt khác, QĐ 58 quy định trách nhiệm của NHNN

trong việc kiểm tra, giám sát quy trình bảo lãnh của

Quỹ, nhưng NHNN Việt Nam lại gặp phải vướng mắc

do đối với quản lý Nhà nước của Quỹ bảo lãnh thì

Quỹ được thành lập để thực hiện mục tiêu phát triển

kinh tế - xã hội ở địa phương và nguồn vốn của Quỹ

là từ Ngân sách địa phương, cơ chế tổ chức hoạt động được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính vì vậy NHNN không thể thực hiện chức năng thanh tra hoạt động của Quỹ mà chỉ có trách nhiệm thanh tra, giám sát các TCTD có quan hệ phối hợp trong cho vay với Quỹ

Về hiệu lực chế tài của TT 05 thì TT 05 ban hành trên cơ sở các TCTD và Quỹ thỏa thuận phối hợp với nhau những nội dung phù hợp quy định pháp luật,

Bộ luật Dân sự và QĐ 58 Hơn nữa, theo Luật các TCTD quy định các TCTD có quyền tự chủ trong kinh doanh,

có quyền từ chối việc cấp tín dụng cũng như cung cấp các dịch vụ của ngân hàng nếu thấy không có lợi hoặc trái với các quy định của pháp luật Do đó nguyên tắc của TT 05 là do Quỹ và các TCTD tự thỏa thuận

Kết luận

Ngay từ khi mới ban hành, QĐ 58 đã có nhiều vướng mắc, đặc biệt là tại Điều 23 (việc yêu cầu doanh nghiệp phải có tài sản bảo đảm tại Quỹ) và Điều 28 (điều kiện Quỹ trả nợ thay), nên các TCTD rất

“ngại” trong việc cho vay có bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, dẫn đến chưa đạt được mục tiêu

hỗ trợ cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn vay tại các TCTD

Mặt khác, nếu bảo lãnh theo cơ chế không có TSĐB tại Quỹ Bảo lãnh tín dụng và Chứng thư bảo lãnh là vô điều kiện không hủy ngang thì cũng dẫn đến “bất cân xứng” giữa nghĩa vụ và quyền lợi của Quỹ, doanh nghiệp và TCTD Vì như vậy sẽ đẩy toàn

bộ rủi ro về phía Quỹ, trong khi TCTD thì có được thêm khách hàng, thu được lãi suất, doanh nghiệp thì được rút vốn hoạt động SXKD, nhưng Quỹ thì chỉ thu một khoản phí bảo lãnh rất nhỏ, mang tính tượng trưng, doanh thu không thể bù đắp được rủi ro dẫn đến mất vốn

Từ thực tế hoạt động của Quỹ, toàn bộ các vướng mắc tại QĐ 58 đã được phản ánh trung thực nhất những khó khăn vướng mắc Hi vọng rằng, trong thời gian đến các cơ quan Trung ương sẽ nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cơ chế bảo lãnh tín dụng phù hợp với thực tế, hài hòa, chia sẻ giữa nghĩa vụ, rủi ro và quyền lợi của Quỹ, doanh nghiệp và TCTD để hoạt động bảo lãnh tín dụng đi vào trong thực tế, thực sự phát huy tác dụng hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Đ.N.V.

Ngày đăng: 26/10/2020, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm