Bài viết này sẽ vận dụng một số lý thuyết về địa danh hiện đại, xác định địa danh như là một di sản, nhận diện quá trình thành tạo và giá trị của di sản địa danh biển đảo Việt Nam ở những khía cạnh mà người nghiên cứu cho là thiết yếu nhất.
Trang 1Địa danh là cái mà mỗi người chúng ta
sử dụng hằng ngày, trong rất nhiều trường hợp khác nhau, trong đó
có nhiều địa danh về biển đảo, bởi
lẽ Việt Nam là một quốc gia biển đảo Đã có nhiều
người nghiên cứu địa danh trong nước cố gắng
“giải mã” ý nghĩa của từng địa danh cụ thể, chủ yếu
theo phương pháp từ nguyên học (etymology), nặng
tính kinh nghiệm (empirical) trong các chiều hướng
nghiên cứu truyền thống, cơ bản theo các lý thuyết
của nước Nga thời kỳ Xô-viết, mà chưa phải tiếp cận
theo thuyết lý địa danh học hiện đại.1 Mặt khác, ở ta
cũng chỉ tập trung vào địa danh chung của cả nước
hoặc địa danh của một thực thể hành chính cụ thể
(tỉnh, huyện) mà chưa thực sự nghiên cứu riêng về địa
danh biển đảo, tiếp cận theo phương pháp tổng thể
Trong bối cảnh nổi lên những vấn đề lớn của vùng
biển đảo hiện nay, bài viết này sẽ vận dụng một số lý
thuyết về địa danh hiện đại, xác định địa danh như là
một di sản, nhận diện quá trình thành tạo và giá trị
của di sản địa danh biển đảo Việt Nam ở những khía
cạnh mà người nghiên cứu cho là thiết yếu nhất
I Nhận diện quá trình thành tạo
1 Hai thời kỳ (phương thức) thành tạo
Quá trình thành tạo, hay nói cụ thể hơn, đó là vấn
đề địa danh biển đảo Việt Nam đã hình thành như thế
nào, là một vấn đề rất căn cốt trước khi nhận diện ra
giá trị của chúng Tôi cho rằng địa danh nói chung
hình thành từ khi loài người kết thành xã hội, bắt đầu
xuất hiện nhận thức, có ngôn ngữ để biểu đạt nhận
DI SẢN ĐỊA DANH BIỂN ĐẢO VIỆT NAM:
NHẬN DIỆN QUÁ TRÌNH THÀNH TẠO VÀ GIÁ TRỊ CỦA CHÚNG
TỪ MỘT SỐ THUYẾT LÝ ĐỊA DANH HIỆN ĐẠI
? cao cHư *
thức đó Nếu như sự định vị trước kia không khác các loài động vật khác, chỉ dựa vào bản năng sinh tồn thuần túy, thì đến đây loài người dùng phương thức mới, là tín hiệu ngôn ngữ để định vị các không gian khác nhau trên bề mặt trái đất Nói cách khác, có con người, có ngôn ngữ là có địa danh Địa danh xuất hiện
từ trước khi có nhà nước và có văn tự rất xa, và chắc chắn xa gấp nhiều lần khoảng thời gian từ khi có nhà nước và có văn tự đến nay Các địa danh tiếp tục xuất hiện, gắn với quá trình phát triển tư duy, nhận thức của loài người, với thế giới quan và nhân sinh quan
Từ khi có nhà nước hoạch định các đơn vị hành chính trong lãnh thổ của một đất nước, gắn liền với nó là yêu cầu định danh các đơn vị hành chính đó, thì các
tên địa danh chính thống (official place names) ra đời
Trong khi đó, địa danh dân gian, cái mà các nhà địa danh học thế giới hiện đại gọi là địa danh phi chính
thống (unofficial place names) tiếp tục tồn tại và sản
Trang 2sinh, lưu hành song song với địa danh chính thống.2
Địa danh chính thống là loại địa danh do nhà nước
đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện bằng văn tự, gắn liền
với một thực thể hành chính xác định rõ ranh giới,
nhằm phục vụ quản lý đất nước Còn địa danh dân
gian là loại địa danh do nhân dân tự đặt và lưu truyền,
chủ yếu bằng truyền khẩu, nhằm phục vụ cho chính
cuộc sống của mình.3 Địa danh dân gian có thể được
chính thống hóa, trở thành địa danh chính thống, chỉ
các thực thể hành chính Lược qua tiến trình chính
của địa danh thế giới, theo quan điểm của tôi, để từ
đó xét tình hình cụ thể của địa danh biển đảo Việt
Nam sẽ được xem xét cụ thể sau đây
2 Địa danh dân gian và địa danh chính thống
biển đảo Việt Nam
Nước Việt Nam cong hình chữ S, tựa như cái bao
lơn trông ra Thái Bình Dương, đương nhiên có nhiều
địa danh về biển đảo Địa danh biển đảo có thể nói
hình thành từ thời Lạc Long Quân và Âu Cơ chia
50 người con lên núi, 50 người con xuống biển, có
nghĩa rằng địa danh biển đảo đã hình thành từ rất
xa xưa Địa danh biển đảo thuộc địa hạt thủy danh
(hydronyms), nhưng ngoài cái thuật ngữ ấy được đưa
ra, thì chưa thấy có nhà nghiên cứu địa danh học Việt
Nam nào nghiên cứu thành chuyên đề riêng
Cần lưu ý rằng Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trong đó dân tộc Việt là dân tộc đa số, là chủ thể chính của tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước Xét riêng vùng biển đảo, dọc ven biển và hải đảo Việt Nam còn có lớp cư dân Sa Huỳnh, người Chăm
ở duyên hải Trung Bộ và người Khmer ở duyên hải Nam Bộ, và một ít dân tộc khác Người Việt lập quốc
từ thời Hùng Vương, cách nay ước bốn nghìn năm, đã biết đến vùng biển vịnh Bắc Bộ, sau thời kỳ nước Đại Việt phục hưng và mở rộng, từ khoảng thế kỷ thứ X, nhất là từ thế kỷ XV trở đi, thì người Việt từ khu vực cố hữu Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ lan dần về phương Nam, mãi cho đến vùng biển Hà Tiên, Phú Quốc như ngày nay Ở duyên hải Trung Bộ và duyên hải Nam Bộ cùng thời với nước Văn Lang thời vua Hùng Vương có văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Óc Eo, có nghĩa là cũng đồng thời có văn minh sớm, và dĩ nhiên về sau các vương quốc cổ Champa, Phù Nam cũng kế thừa, nhưng hai vương quốc này không sinh tồn nổi qua thử thách khắc nghiệt của lịch sử Chắc chắn là người Chăm đã đặt nhiều địa danh tiếng Chăm ở vùng biển đảo miền Trung và người Khmer cũng đặt nhiều địa danh tiếng Khmer ở vùng biển đảo Nam Bộ Người Việt Nam tiến theo tuyến biển - với cách hiểu là đi dọc đồng bằng duyên hải và đi bằng đường biển - và dần dà trở thành dân tộc đa số ở dải ven biển dài từ Trung đến Nam Bộ
Trang 3ngày nay Chính quyền phong kiến Việt Nam dùng
chữ Hán làm ngôn ngữ văn tự chính thức, và địa danh
gắn liền với hoạch định các đơn vị hành chính cũng
dùng chữ Hán, được chọn đặt theo quan niệm văn
hóa phương Đông Do vậy mà ta có thể hình dung
bức tranh tổng thể về địa danh dân gian và địa danh
chính thống vùng biển đảo Việt Nam như sau:
- Địa danh dân gian gốc tiếng Việt thời tối cổ: chủ
yếu ở vùng biển và duyên hải Bắc Bộ, chủ yếu là ngôn
ngữ thuần Việt
- Địa danh dân gian gốc tiếng Chăm thời tối cổ:
chủ yếu ở vùng biển Trung Bộ, nhất là từ khoảng
Quảng Bình đến Bình Thuận; sau đó hỗn dung với
tiếng Việt và để lại dấu vết đến ngày nay Như Phan
Rang, Phan Thiết, Cà Ná, gốc tiếng Chăm.4
- Địa danh dân gian gốc tiếng Khmer thời tối cổ:
chủ yếu ở vùng biển và duyên hải từ Bà Rịa Vũng Tàu
đến Hà Tiên ngày nay; sau hỗn dung với tiếng Việt và
để lại dấu vết đến ngày nay Như Cà Mau, gốc tiếng
Khmer.5
- Địa danh chính thống: theo hành trình mở nước
với các mốc thời gian khác nhau, hoạch định các đơn
vị hành chính mới, chủ yếu bằng chữ Hán là thứ chữ
chính thức thời bấy giờ, từ phía Bắc dần loang về
Nam, như Thuận Hóa 順 化, Quảng Nam 廣 南 (tên
thừa tuyên), Thuận Thành 順 城 (tên phủ), Gia Định 嘉
定 (tên tỉnh ở Nam Kỳ) Từ đầu thế kỷ XX về sau, chữ
Quốc ngữ Latinh thay thế chữ Hán thành chữ chính
thức của quốc gia, các địa danh chính thống được ghi
bằng chữ Quốc ngữ Latinh
Người Việt vào định cư ở vùng vốn có người Chăm,
Khmer có thể kế thừa địa danh dân gian Chăm, Khmer
sẵn có, cũng có thể đặt địa danh mới theo tiếng Việt,
hình thành địa danh dân gian tiếng Việt có niên đại
muộn Như Hòn Khói, Hòn Tre (tên các đảo nhỏ tỉnh
Khánh Hòa), Cửa Việt (tên cửa biển Quảng Trị), Vũng
Quýt (tên cửa biển tỉnh Quảng Ngãi).
Chính quyền phong kiến, nhất là sau này là thực
dân, có thể đặt mới, nhưng cũng có thể kế thừa địa
danh dân gian vốn có, chính thống hóa các địa danh
này6, để chỉ các đơn vị hành chính, như trường hợp
các địa danh Đà Nẵng, Phan Rang, Phan Thiết, Cà Mau.7
Tóm lại, tên các thực thể vùng biển và hải đảo ở
Việt Nam hình thành từ rất lâu đời, từ hai phương thức
hay hai thời kỳ, hai nguồn chính là địa danh dân gian,
có thể là dân gian, sau chính thống hóa, được nhà nước trong các thời kỳ thừa nhận thành tên gọi chính thức, bằng văn tự Địa danh dân gian có thể có gốc tiếng Việt phổ thông, tiếng Chăm, tiếng Khmer, hoặc được phổ thông hóa, hoặc hỗn hợp với tiếng Việt Địa danh dân gian và địa danh chính thống bao trùm các vùng biển và hải đảo Việt Nam, thì bên cạnh tên gọi các thực thể hành chính (thôn, xã, huyện, tỉnh, thành phố dọc theo miền duyên hải) trong bờ có tên các vũng vịnh, cửa biển, mũi đất, bãi biển, bên ngoài biển có tên các đảo, các bãi ngầm, ngoài khơi có tên
hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa với tên từng đảo
Chúng góp phần làm nên kho tàng địa danh biển đảo Việt Nam
3 Từ nguyên và biến đổi địa danh biển đảo
Từ nguyên (origins) và biến đổi địa danh là những
khái niệm lặp đi lặp lại trong các nhà nghiên cứu địa danh trong nước và trên thế giới Từ nguyên học được
gọi là Etymology, nghiên cứu từ nguyên địa danh là
lối nghiên cứu truy tầm về hình thái gốc, ngôn ngữ gốc và ý nghĩa ban đầu của mỗi địa danh cụ thể, nói vắn tắt là tầm nguyên
Điều khá bất ngờ nếu bạn đọc tiếp cận với địa danh từ nguyên Hoa Kỳ, một quốc gia mới thành lập trong vài ba thế kỷ nay và là một quốc gia giàu có văn minh hàng đầu thế giới hiện đại, nhưng tên của nhiều bang, tên của nhiều thành phố lại có gốc gác từ tên gọi dân gian, với nhiều gốc tiếng khác nhau, thậm chí
là tên dân gian của người da đỏ bản địa, là kết quả nghiên cứu thấu đáo của các nhà danh học Hoa Kỳ Tầm nguyên là tìm về gốc gác ban đầu phát sinh của một địa danh Chẳng hạn để xác định nghĩa hai
chữ Cù lao (trong Cù lao Ré, Cù lao Xanh, Cù lao Chàm),
một số nhà nghiên cứu nước ta khẳng định nó bắt
nguồn từ Pulau, nghĩa là đảo, trong ngôn ngữ Nam
Đảo mà người Chăm xưa đã dùng Tôi lần tìm thư tịch
cổ và bản đồ cổ thấy các sách báo chữ Hán thấy hai
chữ Cù lao 劬 勞 trong chữ Hán không có nghĩa gì là
đảo, và như vậy, nó chỉ dùng theo phương thức phiên
âm, không dùng nghĩa; lại thấy chữ Ré mượn chữ Lý
哩, cũng có âm là Ré, phiên tiếng Nôm, nên lần tìm
rằng chính chữ Lý trong tên đảo Lý Sơn cũng chính là chữ Ré, vốn bắt nguồn từ tên một loài cây mọc nhiều
trên đảo.8 Nói vậy để thấy việc tầm nguyên địa danh tuy có nhiều ý nghĩa, nhưng vô cùng khó khăn, và trong nhiều trường hợp không thể tìm ra, hoặc sẽ sai
Trang 4là một ma trận, nhất là các địa danh xuất hiện trong
niên đại sớm, thiếu những chứng cứ xác đáng Từ đó,
một mặt các nhà địa danh học thế giới tiếp tục theo
đuổi việc nghiên cứu địa danh theo lối tầm nguyên,
để lại những kết quả khá thú vị trong nhiều trường
hợp (như tên gốc ở Hoa Kỳ), nhưng mặt khác, một số
nhà địa danh học có vẻ như chán với cách này
Ở Việt Nam cũng diễn ra tình trạng tương tự Như
tên gọi Đồng Nai, hai ông Huỳnh Văn Tới, Phan Đình
Dũng chắc hẳn thấy cần giải mã, nên dành đến gần
20 trang trong 350 trang sách Đồng Nai góc nhìn văn
hóa để thuyết lý, nói đúng ra là bỏ công thuật lại tỉ
mỉ lối cắt nghĩa của các tác giả khác, rồi cuối cùng
kết luận rất khéo là: “Sự lý thú và hấp dẫn về một danh
xưng Đồng Nai vẫn còn là một vấn đề mở cho những ai
quan tâm”!9
Thực ra thì cũng nên thông cảm với hai tác giả
Trong địa danh có những biến đổi khá ngoắt ngoéo,
bất ngờ mà những sự suy luận bình thường sẽ không
lần ra Chẳng hạn ở quê tôi có cửa biển nay viết là
Dung Quất, thì thực tế xưa kia nó gọi là Vũng Quýt, tức
cái vụng biển có nhiều cây quýt dại mọc, từ thổ âm mà
bị phiên thành như thế (V thành D, Quýt thành Quất);
lại có chuyện như Các Lái (tên bến sông tại Thành phố
Hồ Chí Minh ngày nay, xưa có nhiều lái buôn đường
biển tụ tập nên gọi như vậy) bị biến thành Cát Lái, bởi
phát âm c và t ở miền Nam không phân biệt; quê tôi
có thôn ven biển tên gọi Thạch Than 石 湯, nghĩa là
bãi đá bày ra khi nước rút, bị viết thành Thạch Thang
khi chuyển đổi từ Hán tự sang Quốc ngữ Latinh; lại
có chuyện hai bên cửa biển Sa Kỳ có ba làng đều bắt
đầu từ chữ An là An Kỳ, An Vĩnh, An Hải, người Việt gọi
gộp vùng này là Ba Làng An, mấy ông thực dân Pháp
không biết thế nào lại phiên thành Batanggang lên
bản đồ, rồi ảnh hưởng lại người Việt cứ gọi là Ba Tâng
Gâng! Lại ở vùng Vũng Quýt có mũi núi gọi là Cổ Cò,
khi ghi vào bản đồ, thực dân viết là Coco, người Việt
cũng đọc là Co Co!
Các địa danh vùng biển đảo, cũng như các địa
danh ở các vùng khác của Việt Nam và thế giới, có
nhiều sự biến đổi trong từng địa danh và trong tổng
thể địa danh, với sự tác động của chuyển đổi dân cư và
ngôn ngữ, sự thay đổi văn tự, biến đổi do quy luật tự
thân của ngôn ngữ về ngữ âm và ngữ nghĩa, phương
ngữ, thực sự là một thách thức lớn đối với việc tầm
nguyên, tìm về gốc gác khởi thủy của nó Tình hình
ấy cho thấy, không thể truy nguyên và giải mã toàn
số lượng lớn của chúng, cũng đã là rất đáng quý
4 Nội danh và ngoại danh biển đảo Việt Nam
Người Pháp gọi đất nước họ là France, trong khi người Việt ta gọi là Pháp, người Anh gọi đất nước họ
là England, trong khi ta gọi là Anh (cổ hơn thì gọi là
Anh Cát Lợi), người Nga gọi thủ đô của họ là Mockвa,
trong khi người Anh gọi là Moscow Hiện tượng tương
tự như vậy là phổ biến khắp nơi trên thế giới, các nhà
địa danh học phương Tây gọi là exonyms (ngoại danh)
và endonyms (nội danh) Nói nôm na, thì nội danh là
địa danh của mình, do mình đặt, chỉ các thực thể ở đất nước mình, còn ngoại danh là tên gọi ở bên ngoài chỉ cho các thực thể của đất nước mình
Nói nội danh và ngoại danh có vẻ lạ lẫm không chỉ đối với mọi người nói chung và cả với những người nghiên cứu địa danh Việt Nam nói riêng, nhưng kỳ thực nó rất quan trọng Trên thế giới có Nhóm Chuyên
viên về Địa danh của Liên Hiệp Quốc (United Nations
Group of Experts on Geographical Names - UNGEGN),
nhóm này lại có Nhóm Thường trực về Ngoại danh
(Working Group on Exonyms), thành lập từ năm 2002
để chuyên xem xét về nội danh/ngoại danh Phiên họp lần thứ 12 gần đây nhất của nhóm (năm 2012)
đã cho xuất bản tập tài liệu nói về Sự phân chia lớn
về địa danh - phản ánh về định nghĩa và cách dùng nội danh và ngoại danh, dày đến 300 trang, do Paul
Woodman biên tập, Tổng cục Trắc địa và Đồ bản Ba Lan, NXB Bernadium, Warszawa xuất bản, 2012.10 Tập tài liệu do nhiều chuyên gia đến từ Vương quốc Anh, New Zealand, Ba Lan, Hungary, Tây Ban Nha, Latvia, Croatia, Cộng hòa Séc, Romania viết, chia thành 4 phần: (1) Sự phân chia nội danh/ngoại danh, (2) Phân tích ngoại danh và cách dùng, (3) Địa danh nhóm thiểu số, (4) Nội danh, ngoại danh và một minh họa
từ lịch sử Đây là một tài liệu vô cùng cần thiết và lý thú Chẳng hạn về khái niệm ngoại danh và nội danh,
GS Peter Jordan (Viện Hàn lâm Khoa học Áo) trong
Nhóm UNGEGN xác định như sau: “Nội danh là các
tên gọi từ bên trong, như tên được ban ra bởi một cộng đồng về các nhân tố lãnh thổ của họ Ngoại danh là các tên dùng bởi một cộng đồng, mà tiếp nhận từ các cộng đồng khác đối với các nhân tố lãnh thổ của họ”
Ông chỉ rõ vai trò trung tâm (the central role) của cộng
đồng trong tiến trình đặt địa danh, và đặc biệt phân biệt tính chất riêng của ngoại danh và nội danh như
sau: “Trái ngược với nội danh, ngoại danh không phải là
những biểu trưng của việc chiếm hữu và không biểu lộ
Trang 5tố đối với cộng đồng này và các mối quan hệ nó đã có
với nhân tố đó”.11
Trở lại với trường hợp địa danh biển đảo Việt Nam,
ta thấy các kiến thức về nội danh và ngoại danh rất
quan trọng Trở lên, có thể hiểu tất cả những địa danh
biển và hải đảo trong vùng lãnh hải và thuộc chủ
quyền của Việt Nam, do Việt Nam đặt, chính là nội
danh Nếu như tên gọi Biển Đông của Việt Nam là một
nội danh, thì vùng biển đảo nước ta cũng có những
ngoại danh Vùng biển này phương Tây thường ghi
là South China Sea (biển Nam Trung Hoa), quần đảo
Hoàng Sa phương Tây gọi là Paracel Islands, quần đảo
Trường Sa gọi là Spratly Islands, vịnh Bắc Bộ gọi là Guft
of Tonkin, Đà Nẵng gọi là Tourane, Hội An gọi là Faifo,
Lý Sơn gọi là Pullo Canton
Xét vùng biển đảo Việt Nam theo chiều lịch đại
lại có những ngoại danh thể hiện rõ trên các bản đồ
phương Tây như sau:
- Bản đồ India Orientalis vẽ về Đông Nam Á năm
1606
- Bản đồ do Jean-Baptiste Nolin (1657 - 1708) vẽ
năm 1687
- Bản đồ của Joachim Ottens (1663 - 1719) vẽ năm
- Bản đồ Kochinchine do người Hà Lan vẽ năm
1754.12
- Bản đồ An Nam đại quốc họa đồ của giáo sĩ Taberd vẽ xuất bản năm 1838
Tất nhiên bên cạnh bản đồ còn nhiều sách và tài liệu khác, bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Hà Lan Chắc chắn đối với Việt Nam, thì ngoại danh còn có thể là tên gọi từ phía các nước chung quanh khu vực, như Philippines, Malaysia, Indonesia, Trung Quốc và nhiều nước khác đối với các thực thể địa lý thuộc chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển đảo đang bị chiếm đóng hoặc không bị chiếm đóng
Những nội danh và ngoại danh trên vùng biển đảo nước ta có thể xem là bình thường, nếu như nó không liên quan đến tranh chấp chủ quyền và ý đồ thôn tính Nhưng rất tiếc là đã xảy ra như vậy, nên việc tìm hiểu về nội danh và ngoại danh càng cần được chú ý
Nội danh và ngoại danh vùng biển đảo trong thời đại ngày nay là một vấn đề rất nhạy cảm, đã từng xảy
ra ở nhiều vùng biển, như vùng biển giữa Nhật Bản
và Triều Tiên GS Peter Jordan cũng thừa nhận: “Cũng
Trang 6các yêu sách, nhất là khi các ngoại danh tương thích với
nội danh lịch sử (historical endonyms)”.13 Để giải quyết
các vấn đề nhập nhằng và nhạy cảm giữa nội danh
và ngoại danh trên các biển tiếp giáp (ngoại danh
bị hiểu như nội danh, gắn với yêu sách chủ quyền),
Philip W Matthews, một nhà nghiên cứu độc lập của
New Zealand có bài “Nội danh, ngoại danh và các
vùng biển”, nêu ra các giải pháp có thể cân nhắc.14
II Giá trị nhìn từ thuyết lý địa danh hiện đại
1 Địa danh biển đảo là một di sản
Nếu như địa danh học truyền thống được ví như
sưu tập vật mẫu, chú tâm vào việc sưu tập, phân loại,
tầm nguyên địa danh, giải mã nó, đề cập ý nghĩa của
nó, thì đến thời hiện đại, địa danh học mở rộng bằng
một cuộc “đảo chiều phê phán” (critical turn), thành
địa danh học phê phán (critical toponymies), mở rộng
các khái niệm về ý nghĩa văn hóa (cultural meaning)
và quyền lực xã hội (social power), nhấn mạnh đến vai
trò chính trị (political role) và vai trò kinh tế (economic
role) của địa danh Người ta cũng phải tìm đến với
nhà triết học cổ đại Platon, các nhà triết học hiện đại
như Derrida, Bertrand Russell, Foucault, Albert Camus
để tìm các khái niệm về không gian, về nơi chốn, về ý
niệm tên riêng, sự xuất hiện và ý nghĩa của nó Điều
này diễn ra như một trào lưu trên thế giới, nhưng chưa
thấy có người nghiên cứu địa danh Việt Nam nào đả
động Những người nghiên cứu địa danh Việt Nam
phần lớn lặp đi lặp lại ý tưởng “những tấm bia lịch sử -
văn hóa của đất nước”, như PGS Lê Trung Hoa đã nói.15
Tôi cho rằng ý nghĩa ẩn tàng của địa danh còn lớn
hơn nhiều Nhiều nhà địa danh học hiện đại cũng tiếp
tục đào sâu các ý nghĩa kỳ diệu của địa danh Botolv
Helleland ở Đại học Oslo (Na Uy) sau khi đặt vấn đề
một địa danh chỉ mang tính chỉ xuất (reference) mà
rỗng tuếch ý nghĩa, hay đổ đầy ý nghĩa (nghĩa rộng)
(brimful of (connotive) meaning), ông khẳng định: “Địa
danh có thể được đề cập để đại diện cho phần đời sống
cổ xưa nhất của di sản văn hóa nhân loại, trong cái bối
cảnh mà chúng được truyền lại bằng tiếng nói từ thế hệ
này sang thế hệ khác trong hàng trăm hàng ngàn năm
ở cái nơi mà chúng được đặt ra Chúng là một phần đặc
biệt trong di sản văn hóa của chúng ta ở chỗ chúng nói
với chúng ta một điều gì đó về cái nơi chúng chỉ, và về
những người đã ấn định cái tên Bởi vậy chúng cung
cấp những dữ liệu quan trọng về lịch sử và nơi chốn mà
người ta đã định cư, là một sợi dây nối với quá khứ”.16
Còn Arseny Saparov cho rằng địa danh “nằm trong số
là những nét quan trọng của quốc gia và diện mạo lãnh thổ”.17 Keith H Basso viết: “Do sự kết dính không thể
tách rời của chúng đối với nơi chốn riêng biệt, địa danh
có thể được dùng để gọi ra một loạt những liên tưởng giàu cảm xúc và trí tuệ khổng lồ - những liên tưởng về thời gian và không gian, về lịch sử và các sự kiện, về các nhân vật và các hoạt động xã hội, về tự thân một người
và các chặng của đời sống một người”.18
Còn rất nhiều ý kiến đánh giá khác về địa danh, nhưng điểm qua một số ý kiến như trên để thấy rằng trên thế giới có rất nhiều ý kiến đánh giá rất cao, rất sâu sắc về địa danh Việt Nam là một quốc gia biển đảo, và dĩ nhiên khối lượng địa danh biển đảo chiếm một phần quan trọng trong kho tàng địa danh vô cùng phong phú của cả quốc gia Không chỉ là “những tấm bia”, địa danh biển đảo Việt Nam là sự “kết nối với quá khứ”, là những biểu hiện của “biểu tượng lâu bền nhất của đất nước”, là “những liên tưởng giàu cảm xúc và trí tuệ khổng lồ” như các nhà nghiên cứu trên thế giới đã nói Có những địa danh ta không thể truy nguyên, không thể giải mã, có giải mã được đôi khi cũng không quan trọng với những nghĩa trực tiếp,
mà quan trọng hơn, là những “siêu nghĩa” như trên của địa danh
Địa danh chỉ là những cái tên, không phải những thực thể địa lý, nhưng cái độc đáo là nó tạo nên trong lòng người những giá trị rất lớn Không chỉ là những cái tên thuần túy, cần xem địa danh biển đảo Việt Nam thực sự là một di sản - thậm chí một di sản vô giá không đo đếm được - của quá trình chinh phục của các dân tộc Việt Nam trên vùng biển đảo xưa nay
2 Giá trị lịch sử - văn hóa của di sản địa danh biển đảo
Di sản địa danh biển đảo Việt Nam chắc chắn là một sự trầm tích của lịch sử và văn hóa Việt Nam trên vùng biển đảo của Tổ quốc Nói giá trị lịch sử là những
Trang 7giá trị của địa danh đánh dấu mốc lịch sử, hoặc đẻ ra
từ một sự kiện lịch sử
Là dấu vết của lịch sử, chẳng hạn ở thành phố Hạ
Long tỉnh Quảng Ninh có tên núi Bài Thơ là bởi ở nơi
đây có bài thơ của vua Lê Thánh Tông trong một lần
tuần du đã đề lên núi đá Hang Đầu Gỗ tương truyền
là sản phẩm của việc chứa gỗ cắm cọc đánh giặc ở
Vân Đồn Tại Lý Sơn, ở đảo Bé có hang gọi là hang Kẻ
Cướp, là nơi xưa kia bọn hải tặc thường làm nơi trú ẩn
Ở vùng biển Tây có đảo tên là Hải Tặc với lý do tương
tự Quần đảo Hoàng Sa, tên Nôm là bãi Cát Vàng, và
quần đảo Trường Sa, đảo Hữu Nhật, đảo Quang Ảnh là
lấy tên các vị cai đội ra thực hiện chủ quyền, đo đạc
hải trình và khai thác sản vật từ các thế kỷ trước Địa
danh biển đảo chứa những thông tin về lịch sử, do
vậy mà nó có những giá trị lịch sử thật quý giá Nếu
không có những thông tin đó gắn liền với thực thể
địa lý, chắc chắn chúng ta sẽ mất mát rất nhiều
Xét về văn hóa, thì chính sự đặt tên địa danh, ý
nghĩa của địa danh chính là văn hóa, vô cùng phong
phú và đa dạng Vùng biển, có nhiều nước nên nhiều
địa danh có chữ Hải, chữ Dương (như Hải Phòng, Hải
Dương), nhiều địa danh mang chữ Nước Mặn, Nước
Ngọt, nhiều địa danh mang chữ Diêm (làm muối) như
Tân Diêm, Tuyết Diêm, Diêm Điền, lại mang chữ Hàm
(mặn) như Hàm Tân; mặt biển là mặt bố phòng nên
xưa kia có cơ quan hải phòng, sau này đặt luôn thành
tên một thành phố, có sự cầu cho bình yên nên có
chữ Ninh, như Ninh Chử (bến bình yên) Người xưa lại
căn cứ vào đặc điểm của từng thực thể biển đảo cụ
thể mà đặt tên, như đảo có nhiều cây ré thì gọi là Cù
lao Ré, vũng có nhiều cây quýt thì gọi là vũng Quýt,
phá có ba con sông chảy ra thì gọi là phá Tam Giang,
núi giống cái chóp chài thì gọi là núi Chóp Chài; bến
có nhiều lái buôn tụ tập thì gọi là Các Lái (sau biến
âm thành Cát Lái), nơi có nhiều bè thì gọi Nhà Bè Lại
có những tên gọi nhuốm màu huyền thoại như Hạ
Long, Tiên Sa, Ngũ Hành Sơn Người Việt, cũng như
người ở nhiều nước, khi đi xa bèn mang theo bên
mình tên gọi quê cũ, để tạo cảm giác thiết thân, nên
trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có những
đảo mang địa danh “di thực” tên từ đất liền ra, như
Bình Sơn, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành Dấu ấn văn hóa của
ông cha trong hành trình chinh phục biển đảo để
lại những địa danh vô cùng phong phú, chờ người
nghiên cứu khai thác, trong từng địa danh cụ thể,
cũng như tổng thể địa danh Trong bài viết này tôi chỉ
có thể điểm qua, và xin nhấn mạnh lại điều mà các
nhà địa danh học phương Tây đã nói, nó là những nét quan trọng của đất nước, là yếu tố lâu bền của quốc gia, là sợi dây nối với quá khứ, nó tạo ra những xúc cảm và trí tuệ khổng lồ
3 Giá trị kinh tế của địa danh biển đảo
Hàng hóa hóa, thương mại hóa địa danh là việc biến địa danh trở thành một thứ hàng hóa Trên thực
tế, địa danh thuộc địa hạt ngôn ngữ, trong phạm trù
tư duy, khác với tồn tại vật chất hữu hình, thì việc hàng hóa hóa, thương mại hóa rất khó hình dung, nhưng nó đã hiện thực hóa trong thực tế trên phạm
vi thế giới
Địa danh được coi là hàng hóa hóa là sự xuất hiện
vai trò kinh tế (economic role) trong các địa danh đô
thị hiện đại, là hàng hóa hóa quyền đặt địa danh
(commodification of place-naming), ở đó địa danh như là các món hàng hóa (commodities) Đơn cử, hai
tác giả Craig Young (Tổng Giám mục Manchester) và Duncan Light (Đại học Bournemouth) nước Anh có bài “Địa danh như hàng hóa: khám phá các chiều kích kinh tế của địa danh đô thị” đăng ở tạp chí quốc tế
Nghiên cứu Đô thị và Địa phương số 39 (3) năm 2014
đề cập đến vấn đề này: “Trong những năm gần đây,
việc nghiên cứu địa danh đô thị được tiếp thêm sức sống bằng sự nổi lên của một cách tiếp cận “địa danh học phê phán” Các mục tiêu này của chính trị học văn hóa về đặt tên địa danh và những quyết định kéo theo thuộc tính địa danh đối với bối cảnh đô thị Tuy nhiên trong địa danh các thành phố hiện đại có một vai trò kinh tế (economic role) bên cạnh vai trò chính trị (political role) của chúng Đặc biệt có những yêu cầu gần đây về vấn
đề gọi tên địa danh đô thị như là các hàng hóa.”19
Thế nhưng tại nước ta, tôi chưa hề thấy một người nghiên cứu địa danh nào đề cập đến điều này Vậy có phải địa danh Việt Nam nói chung, địa danh biển đảo nói riêng chưa xuất hiện hiện tượng này? Không phải
Ta có thể thấy giá trị kinh tế hay thương mại hóa, hàng hóa hóa địa danh biển đảo Việt Nam qua các khía cạnh sau đây
3.1 Các đặc sản gắn với địa danh thành một thương hiệu
Các đặc sản vốn có gốc từ truyền thống của một
số vùng biển đảo nước ta đã gắn liền với địa danh sản sinh ra nó, mà nếu không có địa danh đó, chắc chắn
là sẽ kém hấp dẫn Rất rõ là các thương hiệu tiêu biểu sau đây:
Trang 8- Hạ Long: Là tên một vũng vịnh ở vùng Đông Bắc,
sau lấy tên cho thành phố tỉnh lỵ tỉnh Quảng Ninh Hạ
Long là kỳ quan thiên nhiên thế giới, thu hút nhiều
khách du lịch thế giới
- Lý Sơn: nổi tiếng với sản phẩm hành tỏi và các
di tích lịch sử gắn liền với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa ngoài khơi
- Nha Trang: là vịnh biển đẹp, thành phố du lịch
biển nổi tiếng
- Phan Thiết: là nơi có loại nước mắm sản xuất ở
vùng “góc lồi” của biển Đông, nơi có hai dòng hải lưu
tiếp giáp nhau của biển Đông và biển Tây, người dân
có truyền thống đi biển và đánh bắt, chế biến hải sản
rất nổi bật, đặc biệt là nước mắm Nước mắm Phan
Thiết thương hiệu trội bật
- Phú Quốc: là hòn đảo xinh đẹp ở vùng biển gần
nước bạn Campuchia, gắn với du lịch, đặc sản nước
mắm, giống chó nuôi tốt
Giả thử các địa danh như trên bỗng dưng bị đổi
bằng tên khác, thì thiệt hại sẽ là bao nhiêu, như thế
nào, ta không thể đo đếm hết
Nếu chúng ta làm một phép điều tra xã hội học,
chắc chắn các địa danh trên sẽ được biết nhiều hơn
là những địa danh chỉ các thực thể hành chính mà
nó thống thuộc: Hạ Long được biết nhiều hơn Quảng
Ninh, Phan Thiết được biết nhiều hơn là Bình Thuận,
tương tự như vậy là Phú Quốc so với Kiên Giang, Nha
Trang so với Khánh Hòa Giả thử ta làm một loại sản
phẩm cùng chất lượng, mà cái này thì ghi Nha Trang,
sản phẩm khác ghi Khánh Hòa, tôi nghĩ sản phẩm
mang tên Nha Trang sẽ bán chạy hơn nhiều so với
sản phẩm mang tên Khánh Hòa Điều ấy cho thấy ở
đây có vấn đề thương hiệu, có giá trị kinh tế của các
địa danh
3.2 Mượn tên địa danh làm thương hiệu
Quan sát kinh tế nước ta trong thời gian gần đây,
ta cũng thấy có việc mượn địa danh để tạo thương
hiệu, đặc biệt trong các công ty, tập đoàn lớn Một
hãng taxi ở thành phố Đà Nẵng mang tên Tiên Sa,
là cảng biển của thành phố này Một tập đoàn kinh
tế lớn ở miền Bắc lấy tên là Mường Thanh, một địa
danh ở vùng đất Điện Biên lịch sử với câu thơ của
Tố Hữu: “Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam Hoa mơ
lại trắng, vườn cam lại vàng” Một công ty khác lại lấy
tên Pha Đin, một cái tên khác cũng gắn liền với chiến
Đèo Lũng Lô anh hò chị hát” Và chắc chắn còn nhiều
trường hợp khác nữa Có lẽ dùng những địa danh như vậy, các doanh nghiệp dễ neo vào ấn tượng khách hàng của mình, giữa một “rừng” thương hiệu khác trong thời cạnh tranh kinh tế theo cơ chế thị trường Trong các địa danh trên, thì địa danh Mường Thanh, Pha Đin vốn xuất phát ở vùng đầu non, nhưng nó đã
“di thực” rất mạnh ở vùng biển đảo nên xin kể ở đây Cũng như vậy là tập đoàn Him Lam Land “di thực” vào Nam bên bờ sông Sài Gòn để có dự án địa ốc Him Lam Riverside
3.3 Mua quyền đặt địa danh
Quyền đặt địa danh (place naming rights) là cái
mà nhiều nhà địa danh học phương Tây hiện đại hay nhắc tới, theo đó quyền này vốn của cộng đồng hoặc nhà nước, được chuyển sang cho các doanh nghiệp Người ta hay nhắc đến trường hợp các sân vận động của các câu lạc bộ thể thao ở Anh, như sân vận động
của câu lạc bộ Arsenal mang tên Emirates, sân vận động của câu lạc bộ Manchester City mang tên Etihad
nằm trong rất nhiều trường hợp này
Ở Việt Nam, chưa thấy sân bóng đá nào trong trường hợp tương tự (có lẽ vì bóng đá chưa đạt tới đẳng cấp cao), tuy nhiên đã thấy có những trường hợp các doanh nghiệp với các dự án có diện tích rộng đặt tên mới theo ý tưởng gầy dựng thương hiệu của
họ, như dự án một khu nhà ở hiện đại ở Hà Nội đặt là
Nam Thăng Long Phú Quốc trong thời đại phát triển
mạnh về du lịch thì có Vinpearl Phú Quốc, Nha Trang
có Vinpearl Nha Trang Ở quê tôi, một khu du lịch biển được doanh nghiệp đặt tên là Thiên Đàng, một cù lao sông trên sông Trà Khúc được đặt mới là Đảo Ngọc.
Đó là những hiện tượng mới nói lên giá trị kinh
tế của địa danh biển đảo Việt Nam, và chắc hẳn bên cạnh khía cạnh tích cực, nó sẽ xuất hiện những vấn đề cần giải quyết
4 Giá trị sở hữu hay chủ quyền
Địa danh có thể vô tư về chính trị (political
innocence)20, nhưng mặt khác cũng có thể bị chính trị lợi dụng Địa danh có thể chỉ để định vị, nhưng cũng có nhiều trường hợp nó biểu thị ý nghĩa sở hữu
(possessive), chiếm hữu (appropriation) đối với cư
dân, và nếu ở bình diện quốc gia, thì đó là chủ quyền
(sovereignty) Đây cũng là những vấn đề chưa thấy
những người nghiên cứu địa danh Việt Nam nhắc tới
Trang 9ngoại danh, nói ngoại danh có thể là tất yếu, là “vô
tư”, nhưng cũng có khi nó gắn với ý đồ tranh chấp
lãnh thổ và lãnh hải Trang Wikipedia khi nói về biển
Đông cũng ghi nhận: “Biển và phần lớn các đảo không
có cư dân là chủ đề đối với các tuyên bố tranh chấp chủ
quyền bởi một số quốc gia Các tuyên bố này cũng phản
ánh trong sự khác nhau của tên gọi dùng cho các đảo
và biển”.
Nhìn chung các địa danh biển đảo Việt Nam là
những nội danh, là sự xác nhận quyền sở hữu, hơn thế
là chủ quyền của nước ta trên vùng biển đảo Sự xuất
hiện của các ngoại danh từ các nhà hàng hải Bồ Đào
Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp trong các thế kỷ trước
có thể coi là bình thường, nhưng sự xuất hiện các tên
gọi của Trung Quốc từ nửa cuối thế kỷ XX trở lại đây
không thể xem là bình thường Trung Quốc đặt quần
đảo Hoàng Sa của Việt Nam là Tây Sa, đặt quần đảo
Trường Sa là Nam Sa, cùng với bãi cạn Scarborough
mà Trung Quốc cưỡng đoạt từ Philippines rồi đặt là
Trung Sa, hợp ba nhóm đảo gọi là Tam Sa (theo cách
đọc Hán Việt) Việc đặt địa danh ở đây rõ ràng nằm
trong một hợp phần, một ý đồ thôn tính biển đảo rất
lộ liễu, không cần che giấu Để làm đối sách, từ năm
2012, Philippines gọi biển này là Biển Tây Philippines
(West Philippine Sea) Một số đảo nằm trong tranh
chấp, nhất là trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam,
cũng có những tên gọi khác nhau từ Trung Quốc,
Philippines, Malaysia, Brunei Đó thực sự là những
cuộc đấu tranh địa danh (toponymic struggles).
Như vậy, các địa danh biển đảo của Việt Nam đã
được lưu truyền trong dân tộc Việt qua nhiều thế hệ,
được ghi rõ trong sách vở từ nhiều thế kỷ trước đã
không chỉ mang giá trị định vị bình thường nữa, mà
trở thành một yếu tố để đấu tranh bảo vệ chủ quyền
Chúng mang những giá trị đặc biệt, giá trị sở hữu, giá
trị chủ quyền
III Mấy điều kết luận
Địa danh biển đảo Việt Nam thực sự là một di sản
- thậm chí một di sản văn hóa vô giá của các dân tộc
Việt Nam, là sản phẩm của quá trình dựng nước và giữ
nước nhiều ngàn năm của dân tộc ta Địa danh vùng
biển đảo có thể hình thành theo hai phương thức, hai
thời kỳ, là địa danh dân gian và địa danh chính thống,
hoặc địa danh dân gian được chính thống hóa, thể
hiện quyền lực nhà nước, chủ quyền của đất nước
trên vùng biển đảo
Tuy nhiên để khai thác và phát huy cao độ di sản
vô giá đó cần phải bằng các góc nhìn thuyết lý địa danh hiện đại, nếu không chúng ta sẽ không thể đạt tới mục tiêu của mình, nhất là trong phát triển toàn diện vùng biển đảo, bảo vệ chủ quyền của đất nước Thông qua một số thuyết lý hiện đại, chúng ta thấy
ý nghĩa sâu sắc của địa danh, các khía cạnh khác nhau của chúng, xác định cần thường xuyên bảo tồn và soi sáng các giá trị của địa danh, làm cho mọi người tiếp tục gắn bó thiết thân với từng tên gọi của biển đảo
Tổ quốc, làm nền tảng tinh thần của cả dân tộc, từ đó người ta sẽ biết phải làm gì khi các địa danh và thực thể địa lý của đất nước bị xâm phạm
Bên cạnh đó, chúng ta cần tiếp cận với địa danh học thế giới để làm sáng rõ những giá trị của địa danh biển đảo Việt Nam, đặc biệt cần kết nối với các tổ chức
quốc tế như Tổ chức Thủy đạc Quốc tế (International
Hydrographic Organization - IHO), Nhóm Thường trực
về Ngoại danh thuộc Nhóm chuyên gia Liên Hiệp
Quốc về Địa danh (UNGEGN) để tranh thủ lợi ích quốc
gia chính đáng về endonyms và exonyms.21
c.c.
cHú THÍcH
1 Có thể kể như PGS TS Lê Trung Hoa với sách Địa danh
học Việt Nam (Khoa học xã hội, 2006), Nguyễn Văn Âu với
sách Một số vấn đề địa danh học Việt Nam (Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2000), trong đó Nguyễn Văn Âu có khảo một số thủy danh (hydronyms) cụ thể như “địa danh sông ngòi”,
“địa danh hồ đầm”, “địa danh hải đảo”, đã có một số nhận
định đáng ghi nhận, nhưng tác giả cũng thừa nhận “Ở
nước ta các công trình nghiên cứu về địa danh còn quá ít ỏi
và chưa có tính lý luận sâu sắc” (trang 6) Về vấn đề này tôi
sẽ khái quát bức tranh tổng thể về tình hình địa danh học Việt Nam trong một công trình được công bố vào cuối năm nay Trong bài này tôi chỉ chọn lọc một số khía cạnh thiết yếu, dịch trực tiếp từ tư liệu nước ngoài
2 Thực ra, tùy theo tình hình cụ thể mà các nhà địa danh học trên thế giới ngày nay còn gọi đó là địa danh bản địa
(Oboriginal Placenames) hay địa danh bản xứ (Indigenous
Placenames), nhất là trong trường hợp các quốc gia mới
hình thành từ thời kỳ hậu thực dân (postcolonial) như Úc, New Zealand, hay biệt danh (Nicknames), địa danh bình dân (Popular Placenames) Ngoài ra, tôi còn tìm thấy có khái niệm địa danh dân gian xưa cổ (old folk place names),
do Sven Steffens, nhà sử học và là giám đốc Bảo tàng
Trang 10“Urban popular place names past and present: the case
of Molenbeek-Saint-Jean/Sint-Jans-Molenbeek”, bản tiếng
Anh, Brussels Studies, số 9, năm 2007.
3 Tôi đã đề xuất một số lý thuyết chung này tại quyển
sách Địa danh dân gian Quảng Ngãi, (Văn hóa Dân tộc,
2015) Sách dự án phổ biến văn hóa dân gian do Hội Văn
nghệ Dân gian Việt Nam xuất bản
4 Về gốc tiếng Chăm của các địa danh này, một số người
đã nghiên cứu, như Cà Ná có gốc tiếng Chăm là Canah
có nghĩa là ngã ba, Phan Thiết là biến âm từ Panang Thít
có nghĩa ruộng rộng bên biển, Phan Rang là biến âm của
Panrang hay Pandarang.
tiếng Khmer, có nghĩa là nước đen, do rừng tràm U Minh
tác động Hai chữ U Minh trong chữ Hán cũng có nghĩa
tương tự
6 Sự chính thống hóa tên địa danh bản địa cũng được thể
hiện qua khái niệm Approved Names (tên được chấp nhận)
trên thế giới, đơn cử trường hợp Ủy ban Liên Chính phủ
về Đo đạc và Bản đồ (ICSM), Ủy ban Tên địa lý Australasia
(Úc và New Zealand) CGNA, trong tập Guidelines for the
Consistance Use of Place Names, 2014.
7 Một số nhà nghiên cứu cho rằng hai chữ Đà Nẵng bắt
nguồn từ gốc tiếng Chăm là Danang, nghĩa là sông nguồn.
8 Trong Hán ngữ không có âm R, do vậy ta thấy người ta
cũng phiên âm Paris thành Ba Lê chính là vì vậy.
văn hóa, (Đồng Nai, 2013), 53.
10 Paul Woodman (editor), The Great Toponymic Divide
- Reflections on the difinitions and usage of endonyms
and exonyms, (Warszawa: Head Office of Geodesy and
Cartography, 2012)
11, 13 Peter Jordan, “Towards a comprehensive view at
the endonym/exonym divide”, in Paul Woodman (editor),
The Great Toponymic Divide - Reflections on the difinitions
and usage of endonyms and exonyms, (Warszawa: Head
Office of Geodesy and Cartography, 2012)
12 Các bản đồ này nay đã phổ biến khá rộng rãi, đã có
sẵn trên internet nên tôi xin phép không kể chi tiết
14 Philip W Matthews, “Endonyms, exonyms and seas”,
in Paul Woodman (editor), The Great Toponymic Divide
- Reflections on the difinitions and usage of endonyms
and exonyms, (Warszawa: Head Office of Geodesy and
Cartography, 2012)
15 Lê Trung Hoa, Địa danh học Việt Nam, (Khoa học xã
hội, 2006), 213 Có thể thấy cái ý này của Lê Trung Hoa được
lặp đi lặp lại ở khá nhiều nhà nghiên cứu địa danh, trong đó
có các luận án tiến sĩ
16 Botolv Helleland, “Place names and Identities”, Oslo
Studies in Language, số 4, 2012.
and construction of national identity in Soviet Armenia”,
Cahsiers du Monde russe, 44, 2003, 179-198.
18 Keith H Basso, Western Apache Languange and Culture
Essays in Linguistic Anthropology (Tucson: The University of
Arizona Press, 1990), 144
Commodity: Exploring the Economic Dimensions of Urban
Place Names”, International Journal of Urban and Regional
Research, số 39, 2014.
20 Từ này có thể hiểu theo hai nghĩa, nghĩa tự thân địa danh không có hàm nghĩa chính trị, theo tôi là các địa danh dân gian thời tối cổ, cũng có thể hiểu là “sự e ngại về chính
trị” (been afraid of politics), tức tự thân nó có hàm ý chính
trị nhưng người nghiên cứu lại né tránh, như có tác giả phương Tây đã viết Ở đây tôi dùng theo nghĩa thứ nhất
21 Năm 2014, khi Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương
981 sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, TS Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo Việt Nam đã
có bài “Công khai hóa địa danh biển Việt Nam”, cũng nằm trong ý chung này
TÀI LIỆU THaM KHẢo cHÍNH
1 Lê Trung Hoa 2006 Địa danh học Việt Nam Khoa học
xã hội
2 Nguyễn Văn Âu 2000 Một số vấn đề địa danh học Việt
Nam Đại học Quốc gia Hà Nội.
3 Sven Steffens 2007 “Urban popular place names past and present: the case of
Molenbeek-Saint-Jean/Sint-Jans-Molenbeek”, bản tiếng Anh Brussels Studies Số 9.
4 Nhiều tác giả, Paul Woodman biên tập 2012 The
Great Toponymic Divide - Reflections on the difinitions and usage of endonyms and exonyms Warszawa: Head Office of
Geodesy and Cartography
5 Botolv Helleland 2012 “Place names and Identities”
Oslo Studies in Language Số 4.
6 Craig Young - Ducan Light 2014 “Toponymy as Commodity: Exploring the Economic Dimensions of Urban
Place Names” International Journal of Urban and Regional
Research Số 39.
7 Jani Vuolteenaho và Lawrence D Berg (tuyển chọn)
2009 Critical Toponymies - The Contested Politics of Naming
Ashgate
8 Intergovernmental Committee Survey & Mapping
(ICSM) 2014 Guidelines for the Consistance Use of Place
Names Committee for Geographical Names in Australasia.