1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế và văn hóa vật chất truyền thống của người Việt trên vùng đất An Khê (Gia Lai)

5 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 159,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

An Khê là vùng đất phía đông của tỉnh Gia Lai, là cửa ngõ, nấc thang quan trọng nối đồng bằng Bình Định với các cao nguyên phía tây của Tổ quốc. Trên vùng đất này, từ thế kỷ XVII đã có những người Việt đầu tiên lên sinh sống.

Trang 1

A n Khê là vùng đất phía đông của

tỉnh Gia Lai, là cửa ngõ, nấc thang quan trọng nối đồng bằng Bình Định với các cao nguyên phía tây của Tổ quốc Trên vùng đất này, từ thế kỷ XVII đã có

những người Việt đầu tiên lên sinh sống Bộ phận dân

cư này cũng được xác định là những lưu dân Việt lập

nghiệp sớm nhất trên vùng đất Bắc Tây Nguyên Hơn

ba thế kỷ qua, việc kế thừa, bảo lưu những nét văn

hóa từ quê cũ cộng với sự giao thoa và tiếp biến với

cư dân Bahnar tại chỗ đã làm cho bộ phận người Việt

ở An Khê định hình những nét văn hóa truyền thống

độc đáo riêng trên vùng mà những người đồng tộc

của họ vẫn coi là miền lắm “sơn lam chướng khí”

Cũng như trên những vùng đất mới khai phá ở

phía nam, làng xóm của người Việt ở An Khê ban đầu

thường rất nhỏ Những nơi được xác định là xóm ấp

đầu tiên ở An Khê như Tây Sơn Nhì (nay là vùng Cửu

An), Tây Sơn Nhất (sau này là An Lũy, nay là phường

Tây Sơn) ban đầu mỗi xóm cũng chỉ khoảng trên dưới

10 nóc nhà Tên của các xóm thường được gọi theo

tên một loại cây cổ thụ trong vùng hoặc đặc điểm của

vùng Ví dụ, ở thôn An Điền (xã Cửu An), những cư

dân đầu tiên sống thành các xóm: xóm Cây Me, xóm

Gò Cây Bền1… sau này, do những người mới đến xin

nhập cư, cùng sự phát triển của các thế hệ con cháu

đã làm cho các làng xã trên vùng đất An Khê trở nên

đông đúc Tuy nhiên, đến năm 1945, cả làng An Điền

(xã Cửu An) cũng chỉ có khoảng 100 nóc nhà, toàn

vùng Cửu An rộng lớn cũng chưa đến 200 nóc nhà.2

Để đảm bảo an ninh, các làng thường lập những

trạm canh ở vị trí đầu làng Ở An Điền, trạm canh được

lập trên một gò đất ở phía đông, ngoài làng Khu vực

này sau được định danh là Trạm Gò

Trong làng các ngôi nhà thường nằm không xa để

bà con có thể tương trợ nhau, nhất là để hỗ trợ cùng chống kẻ thù và thú dữ Đến thập niên 30 của thế kỷ

XX, nhà cửa và cách thức làm nhà của người Việt ở vùng Bắc Tây Nguyên nói chung vẫn được Nguyễn

Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi mô tả: “Nhà cửa thường

được làm bằng gỗ, mái nhà lợp ngói Tường trét đất theo lối Nhật Bản bằng cách: rơm trộn với đất sét đâm cho nhuyễn, đem trét vào vách đã có cột song gỗ, rồi để như vậy cho thật khô Chừng bảy ngày sau lấy một thứ đất sét trắng, trộn với cát - một phần đất, ba phần cát

- trét mặt ngoài làm áo; sau hòa đất trắng khuấy cho lỏng mà quét như ở dưới ta quét vôi”.3

Nhà ở truyền thống của vùng An Khê thường là nhà trệt, mái tranh, vách thưng tre nứa hoặc trát (trét) đất Các hộ gia đình thường làm nhà theo kiểu chữ đinh (T) hoặc chữ L (giống cấu trúc nhà của người Kinh ở Bình Định, Quảng Ngãi) Bố cục nhà thông thường gồm có nhà chính và nhà ngang Trong đó, nhà chính có 3 gian 2 chái hoặc 5 gian 2 chái Kiểu nhà

này được người dân địa phương gọi là nhà mái chái.

Trang 2

Nhà mái chái ở An Khê xưa thường không cao

Độ cao từ mặt đất đến nóc chỉ khoảng 3 m, vách cao

khoảng 2 m Khung nhà bằng gỗ, được làm theo kiểu

nhà rường phổ biến ở miền Trung, vì 4 cột (nhìn mặt

cắt) có giá chiêng, đặt trên xà lỏng Đường kính thông

thường của các cột cái không lớn lắm, chỉ khoảng từ

20 - 30 cm Mỗi gian rộng khoảng 2,5 m, vì vậy mà

toàn bộ diện tích của ngôi nhà chính chỉ khoảng trên

dưới 30 m2

Những ngôi nhà đẹp là nhà được làm theo kiểu

chồng đùi, phần từ xà lỏng (hay câu đầu) trở lên có

thêm một con rường (chồng rường) vừa để giữ cho

khung nhà thêm chắc chắn, vừa để trang trí

Ở Cửu An, những ngôi nhà đơn giản thường được

làm theo kiểu 3 lỏng Kiểu nhà này có 3 cây dọc chống

từ xà ngang lên, giữ hai cây kèo không được liên kết

với nhau bởi rường Người dân địa phương giải thích:

gọi là kiểu 3 lỏng vì 3 cây chống này đứng lỏng lẻo,

không có cây bám

Để trát được vách đất, trước hết người ta phải

dựng cây mầm (dọc) và cây trĩ (ngang).4 Trước đây,

người An Khê thường lấy những cây thân gỗ nhỏ,

tròn làm cây mầm; còn cây trĩ là cây sặt, đó là một loại

cây thuộc họ song mây, không mối mọt Sau, do việc

tìm những loại cây trên khó khăn, nên cả cây mầm và

cây trĩ đều được người dân thay bằng những thanh

tre chẻ nhỏ Sau khi dựng và buộc cho cây mầm và

cây trĩ gắn kết với nhau, người ta bắt đầu trộn rơm

vào trong đất rồi đạp cho rơm và đất quyện nhuyễn

với nhau làm đất trét Để cho tường thêm láng, đẹp,

sau khoảng 7 ngày, khi bức tường đất đã khô, họ tiếp

tục lấy đất sét trắng, trộn với cát theo tỷ lệ 1 phần

đất, 3 phần cát rồi quét lớp hồ này phủ lên mặt ngoài

Cuối cùng, bước hoàn thiện bức tường là hòa đất sét

loãng mà quét như quét vôi sau này Tường nhà làm bằng cách này rất chắc chắn Những năm giữa thế kỷ

XX, nhiều gia đình ở An Khê còn thuê thợ từ Bình Định lên vẽ tranh trực tiếp vào tường nhà theo các chủ đề

“xuân, hạ, thu, đông”, hoặc “tùng, cúc, trúc, mai” , nếu không tinh mắt, người nhìn có thể nhầm các bộ tranh

vẽ trên tường này với những tranh được in trên giấy rồi dán lên tường Những nét đặc trưng này hiện vẫn còn thấy trong căn nhà của cụ Nguyễn Thảo, ở thôn

An Điền Bắc 1, xã Cửu An

Những người già cho biết, trước kia ở vùng An Khê, cửa ra vào nhà thường phải làm “ngạch địa” chắn ngang Ngạch này cao khoảng 60 cm so với mặt đất, hai bên đục lỗ, gài chốt Kiểu cửa này vừa để giữ cửa cho chắc, vừa để phòng thú dữ, vì đây là vùng có rất nhiều cọp Mái nhà được lợp bằng cỏ tranh hoặc rạ Nhà ngang thường được xây cất đơn giản hơn nhà chính Nhưng mọi sinh hoạt của gia đình như ngủ, ăn, bếp nấu, nơi đựng các vật dụng và lương thực chủ yếu tập trung ở đây

Nhà cổ của cụ Bùi Meo.

Trang 3

12,3 m x 9,4 m (115,62 m2) Các vì của căn nhà được

làm bằng gỗ thò đo Đầu kèo và xà đều uốn chạm

rồng Ba gian ngoài cách biệt với gian trong bằng lớp

cửa ngăn bằng gỗ được chạm khắc khá tỉ mỉ Bộ mái

nhà được làm bằng hệ thống xà gồ rất dày, mái lợp

tranh Mái ngói hiện nay được cụ Bùi Meo thay vào

khoảng năm 1959, khi mái tranh cũ bị hư

Nằm ngay phía sau đình An Lũy (An Khê Trường

hiện nay) là ngôi nhà cổ thứ hai của An Lũy - nhà của

cụ Mười Chương (hiện do ông Huỳnh Ngọc Sơn, con

trai cụ Mười Chương tiếp quản) Kiến trúc của ngôi

nhà này cũng gần giống với nhà của cụ Bùi Meo Nhà

gồm 3 gian, 2 chái, có diện tích xây dựng 12,6 m x

9,5 m (119,70 m2) Tất cả phần gỗ trong nhà đều được

làm từ các loại gỗ quý, bền chắc như: thò đo, kiền

phá vùng Điền Nam mà có nhiều ruộng đất

Với mong muốn được các thần phù hộ để an cư lạc nghiệp, các làng Việt hình thành sớm ở An Khê như:

An Lũy, Cửu An, Tân Tạo, Tân Lai đều lập đình Đình làng là một thiết chế văn hóa - tín ngưỡng - hành chính trong làng xã, là biểu tượng của tính cộng đồng trong việc nối kết các thành viên trong làng và kết nối con người với thế giới siêu nhiên Ngôi đình đầu tiên được ghi nhận trên đất An Khê là đình An Lũy Ban đầu, đình được cất bằng tranh, tre, nứa, lá, tọa lạc trên một cánh rừng rộng và bằng phẳng, hướng về phía tây nam Dưới thời vua Gia Long, đình bị ra lệnh triệt hạ, sau đó mới được xây dựng lại trên nền móng

cũ với mái lợp ngói vảy Khi thực dân Pháp đến, đình

An Lũy bị đốt phá nên phải di dời những gì có thể về

Trang 4

An Khê trường Đến sau Cách mạng tháng Tám năm

1945, dân làng mới có dịp về sửa sang lại đình Để

lại diện mạo như ngày nay, đình An Lũy đã trải qua

nhiều lần trùng tu Hiện tại, đình được làm theo lối

tiền đường hậu tẩm Ngôi tiền đường có ba gian hai

chái, hậu tẩm có một gian hai chái, hội đủ sáu vảy kèo,

tám cây quyết, tám cây đấm và bốn mươi cây cột Mái

ngói vảy, nóc đúc “lưỡng long tranh châu”, nền và sân

lát gạch Bát Tràng 7

Đình Tân Lai ban đầu chỉ là một nhà tre nhỏ, sau

đó mới được tu bổ, xây cất Đây là một trong những

ngôi đình còn giữ được những nét cổ kính của đình

làng ở vùng An Khê với một tòa chánh điện có diện

tích 7 m x 5 m; phía trước có bình phong, trụ biểu

và cổng tam quan, bên hữu là dãy nhà cúng âm hồn;

bên tả là nhà thờ Tiền hiền và Hậu hiền

Đình tọa lạc tại thôn An Điền Bắc thuộc xã Cửu An

được xây dựng trên một quả đồi Thần chính được thờ

ở đây là Bổn Cảnh Thành Hoàng Bản văn tế tại đình

còn có danh sách 30 vị thần khác mà trong đó có vị

thần vốn được thờ ở Nghệ An như Cao Các, Bạch Mã

Thờ trong đình có vị thần núi, sông, biển; có vị là Ngũ

hành Âm Dương; có vị là Tiền hiền như Nguyễn Tiến

Chính; hay có vị vốn là người có nhiều của cải đóng

góp cho làng.8 Hầu hết những ngôi đình được xây

dựng sớm ở An Khê đều được nhà Nguyễn ban sắc

phong thần từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Trang phục của người Việt trên vùng đất mới đến

thập niên 30 của thế kỷ XX vẫn mang đậm nét quê

hương: “Người Huế vẫn ăn bận theo lối Huế: đàn bà

thường bận áo mùi, quần trắng, tóc vấn, đội nón Kinh

Người Bình Định thì mặc áo quần lãnh hay vải thâm,

tóc búi, bịt khăn xéo, cột múi ra trước trán hay sau ót,

Người Việt khi lên sống ở An Khê vẫn giữ thói quen dùng nước giếng chứ không dùng nước suối, nước giọt như đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ Ở Cửu

An, thị xã An Khê, hiện vẫn còn một chiếc giếng cổ gọi là giếng Đình Làng Đó là giếng tròn có đường kính đến 3 m, được xây bằng bọng gốm

Thời kỳ đầu, người Việt ở An Khê sinh sống chủ yếu

bằng nghề nông Trong đó, việc khai phá để lập điền

(ruộng), trồng trọt các loại cây lương thực, thực phẩm được coi trọng Lúa được trồng 2 vụ/năm; ngoài ra, trong vườn còn trồng những loại rau ăn quanh năm như rau lang, rau bí, ớt, bồ ngót…; gia súc thường nuôi có lợn, gà, trâu, bò theo lối chuồng trại và chăn thả Nét khác biệt của vùng An Khê là nghề nuôi ngựa rất phát triển để phục vụ việc săn bắt, thồ hàng Sống trong điều kiện tự cung tự cấp, các nghề thủ công truyền thống của An Khê cũng phát triển trong chừng mực đáp ứng các nhu cầu của người dân trong vùng Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một số nghề

đã tạo ra được sản phẩm để trao đổi Một số nghề thủ công điển hình trong vùng có thể kế đến như:

Nghề làm gốm, tuy không thật phổ biến, nhưng trong

Nhà cổ của cụ Mười Chương.

Trang 5

3 Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Mọi Kon Tum,

(Huế, 1937), 13

(Nguyễn Thị Kim Vân chủ biên), Lịch sử truyền thống cách mạng xã Cửu An (1945-2015), (Hà Nội: Chính trị Quốc gia,

2015), 33-36

Báo Gia Lai online Nguồn: http://baogialai.com.vn/ channel/721/201504/nha-xua-tren-dat-an-khe-2382141/

hóa hông tin, 2012), 253, 254

thị xã An Khê (1945 - 2005), (Hà Nội: Chính trị Quốc gia), 45.

(Huế, 1937), 12; hay Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi,

Người Bahnar ở Kom Tum, (Hà Nội: Tri thức, 2011), 144

TÀI LIỆU THaM KHẢo

1 Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã An Khê - Tỉnh Gia Lai

(Nguyễn Thị Kim Vân chủ biên) 2015 Lịch sử truyền thống cách mạng xã Cửu An (1945 - 2015) Hà Nội: Chính trị Quốc gia.

2 Ban chấp hành Đảng bộ thị xã An Khê Lịch sử Đảng

bộ thị xã An Khê (1945 - 2005) Hà Nội: Chính trị Quốc gia.

3 Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi 1937 Mọi Kon Tum Huế 12; Hay Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi

2011 Người Bahnar ở Kom Tum Hà Nội: Tri thức.

4 Phan Đại Doãn 1988 Ấp Tây Sơn nhì trong Tư liệu về Tây Sơn - Nguyễn Huệ Tập 1: Trên đất Nghĩa Bình Sở Văn hóa

Thông tin Nghĩa Bình xuất bản

5 Quốc Thành 2012 Trầm tích Tây Sơn Thượng Hà Nội:

Văn hóa Thông tin

6 Hồng Thương Nhà xưa trên đất An Khê Báo Gia Lai

Online Nguồn: http://baogialai.com.vn/channel/721/ 201504/nha-xua-tren-dat-an-khe-2382141/

cụ cầm tay Do ở trong khu vực tiếp giáp với tỉnh Bình

Định, nghề làm bánh tráng (bánh đa) cũng rất phổ

biến ở An Khê

Hoạt động thương mại: ban đầu chủ yếu là trao đổi

hàng hóa với đồng bào các dân tộc tại chỗ và giao lưu

mua bán với các tỉnh đồng bằng Tình hình này được

phản ánh qua câu ca:

Ai về nhắn với nậu nguồn

Măng le gửi xuống, cá chuồn gửi lên.

Sống với núi rừng, việc săn bẫy thú và thu hái lâm

sản (mật ong, măng, nấm…) đã góp phần quan trọng

vào việc cải thiện bữa ăn hàng ngày và trao đổi để có

thêm thu nhập phổ biến trong nhân dân

Rời làng quê cũ lên với vùng đất mới, người Việt

đã mang đến An Khê rất nhiều món ăn đặc trưng của

các vùng miền khác nhau Nếu như nguồn thực phẩm

chính nuôi sống những cư dân vùng biển ở làng quê

cũ là cá và những món ăn được chế biến từ cá, thì

khi lên đây nguồn thức ăn chính lại là những món ăn

được chế biến từ thịt Đó là thành quả của quá trình

săn bắt và chăn nuôi mà có

Như vậy là, hơn ba thế kỷ qua, bên cạnh việc

người Việt ở An Khê đã chọn lọc để bảo tồn và lưu giữ

nhiều phong tục, tập quán, giá trị văn hóa từ mảnh

đất quê hương nơi họ ra đi, bộ phận cư dân này cũng

đồng thời tiếp nhận thêm nhiều yếu tố văn hóa của

cộng đồng dân cư tại chỗ Quá trình tiếp biến trao

đổi văn hóa này một mặt giúp cho cộng đồng dân

cư tại chỗ học hỏi được những nét tiến bộ trong văn

hóa người Việt, nhưng đồng thời cũng làm cho cộng

đồng người Việt ở An Khê hình thành nên những nét

độc đáo riêng trong văn hóa truyền thống của mình

N.T.K.V.

Ngày đăng: 26/10/2020, 10:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w