1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách cứu nạn trên biển của nhà Nguyễn đối với người nước ngoài dưới thời vua Gia Long (1802-1820) và Minh Mạng (1820-1841)

9 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 215,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày sự ra đời của chính sách cứu nạn của nhà Nguyễn đối với người nước ngoài, quá trình triển khai và ý nghĩa chính sách cứu nạn dưới triều vua Gia Long - Minh Mạng.

Trang 1

48 Phát triển Đà Nẵng Kinh tế - Xã hội

Vùng biển Đơng Việt Nam là khu vực

chịu nhiều thiên tai bão tố, trong lịch sử cũng đã ghi chép rất nhiều

về vấn đề thiên tai khu vực ven biển Việt Nam Đồng thời, trong lịch sử khi mà kỹ thuật đi

biển nĩi chung cịn chưa phát triển, nhất là phương

tiện đi biển cịn thơ sơ, khĩ chống đỡ nổi những cơn

bão ngồi biển khơi Cho nên, thuyền bè các nước

đi qua khu vực Biển Đơng thường gặp nạn, chính vì

vậy trong lịch sử Việt Nam các triều đại đã thực hiện

chính sách cứu nạn trên biển, nhất là thời kỳ nhà

Nguyễn Bài viết này chủ yếu khảo cứu về chính sách

cứu nạn trên biển đối với người nước ngồi dưới hai

thời vua Gia Long (1802 - 1820) và thời Minh Mạng

(1820 - 1841) Trong đĩ chúng tơi muốn nhấn mạnh

rằng, việc cứu nạn trên biển đối với người nước ngồi

khơng chỉ thể hiện tính nhân văn của chính quyền

nhà Nguyễn, mà cịn thể hiện việc thực thi hoạt động

chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đơng trong lịch sử

1 sự ra đời của chính sách cứu nạn của nhà

nguyễn đối với người nước ngồi

Trong lịch sử dân tộc, biển luơn giữ một vai trị

quan trọng đối với các triều đại phong kiến Từ cư dân

của các nền văn hĩa Đơng Sơn, Sa Huỳnh, Champa

tới các triều đại phong kiến Đinh, Lý, Trần, Lê đã vươn

ra làm chủ biển khơi

Ở thế kỷ XVII, dưới thời kỳ trị vì của các chúa

Nguyễn, các ghi chép về tai nạn trên biển xuất hiện

cịn khá khiêm tốn Trong bản Tồn tập An Nam lộ

do một nhà Nho thời Lê sao chép cĩ ghi rõ niên đại

Chính Hịa 7 (1686) phần bản đồ Phủ Quảng Ngãi

cĩ chú thích bằng chữ Nơm: “Bãi cát vàng phỏng dài

CHÍNH SÁCH CỨU NẠN TRÊN BIỂN Của NHÀ NGUYỄN ĐỐI VỚI NGƯỜI NƯỚC NGỒI DƯỚI THỜI VUa

GIa LONG (1802 - 1820) VÀ MINH MẠNG (1820 - 1841)

? phẠm thị thƠm *

* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

400 dặm, rộng 20 dặm, ở giữa biển khoảng từ cửa biển Đại Chiêm kéo đến cửa biển Quyết Mơng Giĩ tây nam thuyền đi vào trong sẽ mắc cạn, giĩ đơng bắc mà thuyền

đi lại cũng bị tắc lại ở đĩ Đều bị chết đĩi, của cải phải bỏ lại…”.1 Sau đĩ trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đơn viết:

“Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này

(Hồng Sa)”.2 Tuy nhiên thời kỳ này các ghi chép chủ

yếu ghi lại sự việc các vụ đắm tàu trong khi đĩ hoạt động quan trọng là cứu người bị nạn lại khơng thấy

được ghi chép cụ thể Trong Đại Nam thực lục tiền

biên, các sự việc cứu giúp người bị nạn trên biển được

ghi chép khơng nhiều và khá sơ lược.3 Những ghi chép của Đỗ Bá đã cho thấy các chúa Nguyễn chưa

cĩ “sự can thiệp đáng kể nào” đối với các thuyền buơn

và thương nhân bị nạn trên vùng quần đảo Hồng Sa cũng như Trường Sa Qua đĩ càng thấy rằng sự quan tâm và các hoạt động cứu nạn thời kỳ này của triều đình đã dần hình thành nhưng chưa trở thành chính sách cụ thể, các hoạt động cứu nạn cịn lẻ tẻ, chưa tập trung

Trang 2

Phát triển Kinh tế - Xã hội

Dưới triều Nguyễn thời kỳ Gia Long - Minh Mạng,

nhận thức về vị thế biển được nâng lên thêm một

bước với việc đề ra các chính sách cụ thể và tồn diện

dành riêng cho những người bị nạn trên biển Cả hai

vị vua này đều coi trọng biển, ý thức về biển của hai

người khơng chỉ bĩ hẹp trong việc phát triển ngoại

thương mà cịn bao gồm cả ý thức về chủ quyền trên

biển, mối quan hệ bang giao với các nước và lịng

nhân đạo giữa con người với con người Vua Gia Long

cho rằng: “thiên tai lưu hành xưa nay đời nào cũng

cĩ”, vì vậy “giúp người cùng thương kẻ thiếu là việc

đầu tiên của lịng nhân chính”.4 Năm 1803, Gia Long

năm thứ 2 chuẩn định rằng: “Những thuyền buơn bị

bão, vỡ thuyền, của cải mất hết, đĩ là nhà buơn bị nạn

Quan sở tại nên căn cứ vào số nhân khẩu trong thuyền

là bao nhiêu mà cấp phát cho mỗi người một tháng

lương thực của cơng để những người buơn bán đĩ độ

nhật, chờ khi thuận giĩ cho được tùy tiện (ở lại hay

đi)”.5 Tiếp nối những tư tưởng của vua Gia Long, tới

đời vua Minh Mạng, các chính sách cứu nạn biển tiếp

tục được hồn thiện Năm Canh Thìn đời Minh Mạng

thứ nhất (1820) chiếu rằng: “Thương người bị nạn để rõ

chính sách nhân từ Vả đường biển gian hiểm, sĩng giĩ

khĩ lường, gần đây quan quân dân chúng hoặc đi việc

cơng hoặc đi buơn bán, lợi hiểm lặn sâu đều là bất đắc

dĩ cả bỗng gặp nạn giĩ, người sống thì khơng nơi nương

tựa, người chết khơng ai liệm bọc, xét soi thấy thế, rất

đáng xĩt thương”.6

Cĩ thể thấy thời kỳ này các ghi chép về những vụ đắm tàu và sự giúp đỡ của triều đình xuất hiện nhiều hơn so với thời các chúa Nguyễn Tới thời kỳ trị vì của vua Minh Mạng, mọi vụ đắm tàu đều được triều đình chẩn cấp trừ những người phạm tội, vua yêu cầu các quan địa phương phải hỏi rõ thơng tin về những nạn nhân bị nạn để đưa ra mức chẩn cấp phù hợp Những quy định trong chính sách giúp người bị nạn của vua Gia Long và Minh Mạng đã cho thấy một bước tiến dài kể từ thời chúa Nguyễn Thời kỳ này, chính sách cứu nạn đã trở thành một bộ phận khơng thể tách rời trong các chính sách hướng về biển khơi, trong hoạt động xác lập chủ quyền trên biển thơng qua chính sách cứu giúp người bị nạn Bên cạnh đĩ, Gia Long và

Minh Mạng cịn coi các hoạt động cứu nạn là “chính

sách ngoại giao gián tiếp” với các nước trên thế giới

qua đĩ cho thấy tư tưởng nhân đạo “thương người như

thể thương thân” của dân tộc ta từ ngàn đời nay Đây

là tư tưởng, tầm nhìn chính trị hồn tồn mới và chưa

hề xuất hiện trong các triều đại trước ở nước ta Tiếp thu những tư tưởng này của Gia Long - Minh Mạng,

từ những đời vua kế vị về sau, thời nào chính sách cứu giúp người bị nạn trên biển cũng được triều đình chú

trọng và triển khai hiệu quả Các ghi chép trong Đại

Nam thực lục Chính biên đã cho thấy tư tưởng này của

vua Gia Long và Minh Mạng đã thực sự trở thành một phần khơng thể thiếu trong các chính sách liên quan tới biển của triều Nguyễn suốt 150 năm tồn tại

Trang 3

Địa điểm xảy ra tai nạn dưới thời vua Gia Long

- Minh Mạng: Qua khảo cứu một số bộ sử của nhà

Nguyễn và các tư liệu khác thì vùng biển Việt Nam

trải khắp ba kỳ đều cĩ tàu thuyền bị nạn nhưng nhiều

hơn cả là ở khu vực Trung Kỳ và quanh các đảo xa

bờ Năm Gia Long thứ 8 (1809), 65 chiếc thuyền vận

tải của Bắc thành gặp giĩ ở ngồi phần biển Nghệ

An7 hay năm Gia Long thứ 9 (1810) thuyền buơn ở

cửa Eo (cửa Thuận An) và cửa Tư Dung bị chìm đắm,

nhân dân cĩ người chết đuối.8 Thời vua Minh Mạng

khu vực này cũng đã nhấn chìm rất nhiều thuyền bè

qua lại Năm Minh Mạng thứ 7 (1826) thuyền vận tải

của Quảng Bình gặp bão bị vỡ ở bờ biển Quảng Trị9,

sang tới năm sau, Đại Nam thực lục chính biên tiếp tục

ghi nhận thêm vụ đắm 16 thuyền vận tải ở vùng biển

Vũng Chùa (thuộc Quảng Bình) do bão.10 Qua những

ghi nhận của Quốc sử quán, các thuyền bè sau khi bị

bão hay mắc cạn cĩ xu hướng trơi dạt nhiều vào ven

biển Trung Kỳ.11

Trên các đảo xa bờ, nhiều vụ tai nạn do va chạm

phải đá ngầm cũng đã được ghi chép tỉ mỉ và chính

xác Theo Châu bản triều Nguyễn ở Cục Lưu trữ Trung

ương I hiện nay vẫn cịn lưu giữ được một số bản ghi

chép của Quốc sử quán liên quan tới các vụ đắm tàu ở

Hồng Sa Tiêu biểu phải kể đến bản tâu của thủ ngữ

cảng Đà Nẵng ngày 27 tháng 6 năm 1830 (năm Minh

Mạng thứ 11) do thuyền trưởng Đơ-ơ-chi-ly (thuyền

trưởng tàu buơn Pháp Ê-đoa) cung cấp thơng tin

rằng: “Ngày 20 tháng 6 năm 1930 thuyền buơn của triều

đình do Lê Quang Quỳnh và các thủy thủ đồn rời cảng

Đà Nẵng đi Lữ Tống - Manila - Philippines đến canh hai

ngày 21 tháng 6 đụng phải đá ngầm ở phía tây Hồng

Sa, thuyền bị ngập nước”.12 Sau đĩ trường hợp bị nạn của Thái Đình Lan năm Minh Mạng thứ 16 (1835) trên đảo Cù Lao Chàm tiếp tục là minh chứng cho sự nguy hiểm của thiên tai thời tiết trên các đảo Ngồi các châu bản và các tập du hí của người nước ngồi, trong các bộ sử chính thống của triều Nguyễn cũng đề cập

tới các vụ đắm tàu ở Hồng Sa Minh Mạng chính yếu năm thứ 17 chép: “Thuyền buơn nước Anh Cát Lợi gặp

giĩ bão ở vùng đảo Hồng Sa tạm ghé vào địa phận tỉnh Bình Định, trên thuyền cĩ khoảng hơn 50 người.13

Sau đĩ, năm Minh Mạng thứ 20 (1837), Đại Nam thực

lục chính biên tiếp tục ghi nhận các trường hợp đắm

tàu ở Hồng Sa như trường hợp của Phạm Văn Biện

bị bão, sĩng giĩ đánh chìm thuyền bè ở Hồng Sa.14

Nạn nhân bị nạn dưới thời vua Gia Long - Minh Mạng: Trong các thư tịch của triều Nguyễn, chính

sách cứu giúp người bị nạn được quy định rõ ràng với từng đối tượng và được thực hiện khá triệt để Nạn nhân phần lớn là những người buơn bán trong nước, các thương nhân người Hoa, người Xiêm, người Chân Lạp, người Vạn Tượng, người Anh và người Pháp Một

bộ phận nhỏ là những binh lính, dân phu đi làm việc cơng, các quan lại hay các sứ thần của các nước gặp nạn và được triều đình cứu giúp

Bổ sung những thiếu sĩt từ thời vua Gia Long, tới thời vua Minh Mạng chính sách cứu nạn người trên biển đã dần hồn thiện và tiếp tục được các đời vua

về sau áp dụng Các chính sách chuẩn cấp của vua Minh Mạng đã cho thấy các mức rõ ràng đối với từng đối tượng Với các quan lại binh lính của triều đình

50 Phát triển Đà Nẵng Kinh tế - Xã hội

Trang 4

đi làm việc cơng bao giờ cũng được ưu tiên cấp tuất

nhiều hơn, mức chẩn cấp của dân chúng phụ trách

việc vận tải của triều đình cũng cao hơn dân buơn

Các chính sách cứu nạn đối với các sứ thần quan lại

được triều đình quan tâm và dành nhiều ưu đãi, đơi

khi cịn chuẩn bị từ nơi ăn uống, nghỉ ngơi cho tới

việc hộ tống về nước Tuy nhiên qua khảo cứu cĩ thể

thấy rằng quy định chẩn cấp cho từng đối tượng trên

của triều đình được thực hiện mang tính chất tương

đối và tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể cũng như đối

tượng bị nạn là người nước nào Qua các ghi chép của

Quốc sử quán triều Nguyễn trong các lần chẩn cấp

cứu giúp người bị nạn triều đình thường được cấp

nhiều hơn quy định ban đầu đối với các người bị nạn

nước ngồi, đặc biệt là người Thanh

2 Quá trình triển khai và ý nghĩa chính sách

cứu nạn dưới triều vua gia long - minh mạng

Phần lớn các nạn nhân trong chính sách cứu nạn

trên biển của triều Nguyễn là các thuyền buơn và

quan quân nước ngồi Qua ghi chép về những ân

cấp của triều Nguyễn đối với người nước ngồi, cĩ

thể thấy triều đình cịn phân biệt rõ đối tượng người

nước ngồi là người Thanh, người Xiêm, người Chà Và

hay người phương Tây Các ghi chép cũng cho thấy

nạn nhân trong các vụ đắm tàu là người Thanh chiếm

1 số lượng đáng kể và triều đình cũng dành nhiều ưu

ái hơn với đối tượng này Sở dĩ cĩ sự khác biệt này là

do chính sách bế quan tỏa cảng cùng nhu cầu kiểm

sốt chủ quyền biển đảo trong thời kỳ cĩ nhiều biến

động phức tạp từ bên ngồi

Đối với nạn nhân là người phương Tây: Năm

1804, Chính phủ Anh sai sứ đến xin thơng thương ở Việt Nam và cho người Anh cư trú ở Đà Nẵng nhưng khơng được vua Gia Long chấp thuận.15 Tương tự với người Anh, tới cuối thời Gia Long, quan hệ Việt - Pháp

đã bị hạn chế chỉ trong phạm vi buơn bán Năm 1817, khi chiến hạm Cybèle cập bến Đà Nẵng và liên lạc với những đại diện của Pháp tại Huế (Chaigneau và Vainnier) mong muốn tiếp kiến vua Gia Long nhưng vua đã lấy cớ phái viên nước Pháp khơng cĩ quốc thư nên khơng cho gặp.16 Sang đời Minh Mạng, các hoạt động giao thiệp với phương Tây càng trở nên hạn chế hơn Hai triều vua Gia Long và Minh Mạng đã thực hiện chính sách đối ngoại khá chặt chẽ với phương Tây, họ đã khước từ hơn 30 đồn ngoại giao và ngoại thương muốn đặt quan hệ với nước ta Vua Minh

Mạng từng giải thích về các chính sách này rằng: “Bản

triều ta đối với người Tây phương họ đến cũng khơng

cự, họ đi cũng khơng theo, chỉ đối đãi như người đi dịch thơi Thuyền Tây dương đến, khơng cho tiếp xúc với dân địa phương, bán hàng xong thì đi, kiểm sốt chặt chẽ”.17 Tuy vậy dù hạn chế quan hệ trong các hoạt động buơn bán, ngoại giao nhưng triều đình vẫn sẵn sàng cứu giúp các thuyền buơn, thuyền cơng người Pháp, người Anh bị nạn trên vùng biển Việt Nam bởi

Gia Long từng nĩi: “Thương xĩt kẻ bị nạn là việc phải

làm trước của chính sách nhân từ”.18 Đối với các nạn nhân bị nạn là người Anh và người Pháp, dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng triều đình đều ban phát tiền và gạo rồi cho họ trở về nước, hạn chế việc lên bờ

buơn bán Vua Minh Mạng năm thứ 7 cĩ chỉ: “Lần ấy

51

Phát triển Kinh tế - Xã hội

Trang 5

52 Phát triển Đà Nẵng Kinh tế - Xã hội

thuyền buơn nước Anh đỗ ở hải phận trấn Bình Thuận

chạm phải chỗ nơng cạn thuyền bị vỡ mà hàng hĩa cịn

Ta nghĩ bọn ấy đã là nhà bị nạn đáng nên thương xĩt

nhưng nước ở ngồi phương xa cũng khơng nên để đi

lại tự do Nay cho thành Gia Định cấp tốc châm chước

liệu bắt thuyền to hoặc thuyền đại dịch 1 chiếc hay 2

chiếc thủy thủ thuyền hộ phải am hiểu đường đi biển tới

Hạ Châu Tân-gia-ba để nước ấy biết triều đình ta cĩ ý

thương xĩt đến thuyền buơn bị nạn”.19 Trường hợp đối

với người Pháp cũng được triều đình cứu giúp tương

tự Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), thuyền buơn

Đơ-ơ-chi-ly bị bão chìm ở hải phận Đà Nẵng, Minh Mạng sai

tỉnh Quảng Trị cấp cho 100 quan tiền, 50 phương gạo

đồng thời tìm cách đưa họ về nước.20 Chỉ cĩ một số

ít trường hợp nạn nhân bị nạn trên các đảo hoặc các

vụ tai nạn nghiêm trọng mới được triều đình cho ở lại

và chẩn cấp cĩ phần ưu hậu hơn Hội điển ghi chép

rất chi tiết về sự kiện thuyền buơn nước Anh bị bão

trên đảo Hồng Sa năm 1836 và sự cứu giúp của triều

đình như sau: “Nay xét trong tập trình này ở trấn Bình

Định, cĩ người Tây dương đi thuyền buơn Tây dương bị

giĩ bão bơi dạt vào hạt ấy lên bờ may được sống sĩt đã

chiếu phát tiền gạo, xin cho bê phái người thơng ngơn

đến đĩ phiên dịch, hỏi han… Và bọn ấy là nước ở mãi

Tây phương xa thẳm khơng như người Thanh qua lại,

nay khơng may gặp nạn giĩ ấy tình cũng đáng thương

Cho tỉnh ấy ở cạnh bờ lựa chọn nơi an trú rồi gia ơn cấp

cho mỗi người đủ 1 quan tiền trong đĩ cĩ tên thuyền

trưởng cấp cho 3 quan và đầu mục mỗi người 2 quan

để sinh sống Nay xét lời tâu phúc lại thời đĩ là thuyền

buơn Anh Cát Lợi gặp phải Cát Vàng chỗ nơng, thuyền

chìm vỡ nhờ được 3 chiếc xam bơi tới bờ, tình lại thương

xĩt lại thưởng cho người thuyền trưởng ấy áo quần Tây

dương và chăn vải mỗi người đều 1, người đi theo cũng

thưởng cho áo quần đều 1, lại cho bọn ấy nơi an trú

đưa thêm ván gỗ đệm chiếu để họ yên ngủ khỏi phải

rét mướt Trong đĩ cĩ ai mắc bệnh cũng cho thuốc điều

trị, lần ấy lính thủy sư đang thao diễn ở đường biển cho

thuận đường biển đưa những người Tây dương ấy tới

bến khẩu Hạ Châu để họ về nước Khi bọn họ trở về cấp

cho đồ ăn uống một lần nữa để tỏ ý mềm dẻo thương

người phương xa”.21

Đối với nạn nhân là người Xiêm: Việt và Xiêm là

hai nước cĩ mối quan hệ giao hiếu thường xuyên với

nhau và đều là phiên thần của Trung Quốc Vì vậy dưới

thời Gia Long, mối quan hệ Việt - Xiêm diễn ra tốt đẹp

Sang thời kỳ trị vì của vua Minh Mạng, đều là nước

cĩ thế lực hơn Chân Lạp và Vạn Tượng, từ năm 1927

cuộc chiến tranh giữa Xiêm và Vạn Tượng nổ ra khiến

cho quan hệ Việt - Xiêm cũng bị ảnh hưởng.22 Mặc dù vậy, những người Xiêm gặp nạn trên biển Việt Nam vẫn nhận được sự giúp đỡ của triều đình Năm 1834,

vua Minh Mạng xuống chỉ: “Đối với người nước Xiêm

từ trước đến giờ đường biển cĩ người và thuyền bị nạn, trên bộ cĩ dân xiêu dạt, hễ xảy ra ở địa phận nước ta thì

ta đều giúp đỡ ưu hậu và đưa về”.23 Qua khảo cứu cĩ

thể thấy mức chẩn cấp đối với thuyền buơn và thuyền

sứ của người Xiêm đều bằng nhau, khơng cĩ sự phân biệt; triều đình chủ yếu cấp lương thực và tiền rồi cho

họ về nước, khơng cĩ biệt đãi gì đặc biệt đối với các quan cấp cao nhà Xiêm gặp nạn Năm Gia Long thứ

8, thuyền buơn của Ngơ Nghạnh (người Xiêm) gặp giĩ bão dạt vào bến Đà Nẵng được triều đình cấp cho

200 phương gạo rồi cho về nước.24 Đối với các thuyền

sứ nước Xiêm trên đường sang nước Thanh nộp cống gặp giĩ hay bị cháy, Gia Long năm thứ 16 (1817) chuẩn

định “thuyền sứ giả bị nạn giĩ, bị cháy cũng như thuyền

buơn bị nạn”, sai dinh thần Quảng Nam cấp cho 200

phương gạo.25 Ngồi việc coi thuyền sứ bị nạn cũng như thuyền buơn, triều đình cịn cho thấy thái độ đề phịng đối với người Xiêm khi họ đi lại trên lãnh thổ Việt Nam Năm Gia Long thứ 14 (1815) thuyền của sứ thần nước Xiêm sang nước Thanh nộp thuế gặp bão neo đậu ở phận biển Bình Định, khẩn xin đến Kinh chầu Trấn thần đem việc tâu lên, vua sai thưởng mỗi người 3 tháng lương, hộ tống đến Kinh sau đĩ lại cấp thêm cho mỗi người 5 tháng lương rồi cho về nước Khi về sứ giả tâu xin quan Nam Vang muốn tới thăm vua Phiên rồi theo đường Châu Đốc, Hậu Giang về

nước Vua cho rằng “như thế là cĩ ý nhịm ngĩ” nên

khơng cho.26 Vấn đề này tới triều vua Minh Mạng cĩ

vẻ bớt khắt khe hơn Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), thuyền nước Xiêm bị bão trơi dạt vào vùng duyên hải tỉnh Bình Định; thuyền trưởng Hồng Nghi xin triều đình cấp cho 200 quan tiền và 500 phương gạo được vua y cho.27 Tới năm 1828, thuyền Chánh sứ nước Xiêm vượt biển sang cống nước Thanh bị mắc cạn ở hải phận Bình Thuận, thuyền Phĩ sứ cũng bị vỡ chìm

ở hải phận Hà Tiên Vua dụ bộ Lễ rằng: “ta với nước

Xiêm vốn giữ tình hữu nghị” bèn hạ lệnh cho trấn thần

Bình Thuận và Hà Tiên mời đến cơng quán tiếp đãi tử

tế rồi sắc cho Bình Thuận đưa Chánh sứ tới Hà Tiên

để gặp Phĩ sứ, sai Chánh đội trưởng Mạc Hân Hy lấy thuyền cơng hộ tống về nước.28

Đối với nạn nhân là người nhà Thanh: Riêng đối

với nhà Thanh, triều đình Gia Long - Minh Mạng vẫn giữ thái độ thuần phục của nước nhỏ đối với nước lớn bằng các hoạt động bang giao (triều cống),

Trang 6

Phát triển Kinh tế - Xã hội

ngoại thương… Trong hoạt động bang giao, ngồi

việc sai sứ đem lễ phẩm đi tiến cống (4 năm 1 lần)

thì mỗi khi cĩ việc chúc mừng (mừng thọ, vua mới

đăng quang…) hay tạ ơn hoặc cầu phong… thì nhà

Nguyễn đều cử đồn sứ thần sang Trung Quốc Mỗi

khi cĩ sứ nhà Thanh sang nước ta đều được triều

đình coi trọng và chuẩn bị chu đáo Trong hoạt động

buơn bán, nếu như những người Tây phương đi trên

thuyền buơn của họ thậm chí đi nhờ trên những

thuyền buơn người Hoa đều khơng được phép lên bờ

khi cập bến thì mọi người Hoa khơng phân biệt thành

phần xã hội, tuổi tác, giới tính đều được phép lên bờ

và sinh sống ở Việt Nam trong các bang địa phương

của họ.29 Điều đĩ phần nào lý giải về sự ân cấp đặc

biệt đối với người Hoa bị nạn trên biển Việt Nam Mức

chẩn cấp của triều đình cĩ thể chia thành 2 mức cách

biệt đối với dân thường và các quan quân, các trí thức

nhà Thanh đi làm việc cơng gặp tai nạn Tuy nhiên các

chính sách cứu giúp người Thanh khơng cĩ mức chẩn

cấp cụ thể, triều đình thường căn cứ vào đối tượng

và tính chất vụ việc để chẩn cấp cho họ Nếu người bị

nạn là các quan quân, các trí thức thì họ khơng những

nhận được chẩn cấp đầy đủ về tiền, nước uống, nhà

ở, chi phí đi lại sinh hoạt mà cịn nhận được sự quan

tâm của quan lại triều đình Gia Long - Minh Mạng với

việc tới hỏi thăm trị chuyện và sau đĩ đưa họ trở về

nước an tồn Đối với người bị nạn là dân địa phương

người Hoa đi buơn bán cũng được triều đình dành

cho mức chẩn cấp cao hơn các đối tượng dân buơn ở

các nước khác Năm Minh Mạng thứ 12 vua dụ Bộ Lại

rằng: “Phê duyệt tập của Lưu Đình Luyện nĩi rằng người

Thanh bị nạn giĩ cấp lương ăn 10 ngày, thuyền bè của

họ bị vỡ, của cải khơng cịn gì lẽ ra phải xem xét giúp đỡ

thêm để tỏ lịng nhân đạo, rộng rãi của vua, thế mà chỉ

cĩ chút ít như thế thì ra thể thống gì”.30 Hành động cứu

giúp người Thanh gặp nạn xuất hiện thường xuyên

trong các ghi chép của Quốc sử quán triều Nguyễn

Theo GS Lương Chí Minh từ năm 1801 đến năm 1860,

Việt Nam từng 29 lần cứu giúp nhân dân Trung Quốc

gặp nạn trên biển.31

Đối với dân buơn nhà Thanh gặp nạn, triều đình

tiến hành chẩn cấp cĩ phần cao hơn các nước khác

và cho họ về nước hoặc cho phép cư trú ở Việt Nam

Năm Gia Long thứ 5 (1806) thuyền đánh cá của người

Thanh là Lâm Tiến Hưng bị bão dạt vào Đồ Sơn được

triều đình cấp cho lương ăn và cho về nước.32 Đến

năm Gia Long thứ 9, thuyền dân bị nạn người Thanh

là Trịnh Thiên Thịnh dạt vào phần biển Yên Quảng

tiếp tục được triều đình chẩn cấp và đưa về Khâm

Châu.33 Bên cạnh đĩ, các hoạt động cứu nạn của triều đình Gia Long - Minh Mạng cịn được ghi nhận trong

các bộ sử của nhà Thanh Trong Cao Tơng thực lục năm

Gia Khánh thứ 6 (1801) chép lại lời dụ của Quân cơ

Cát Khánh như sau: “Một người dân huyện Thuận Đức

tên là Triệu Đại Nhiệm đi thuyền gặp bão giĩ trơi dạt đến Nơng Nại (Đồng Nai) được Quốc trưởng nước ấy là Nguyễn Phúc Ánh sai người đưa tới Phú Xuân giúp sửa chữa lại thuyền, cấp lương thực rồi mang tờ bẩm của viên Quốc trưởng về nước”.34 Sau đĩ, triều đình nhà Thanh đáp lại lời bẩm của vua Gia Long bằng thái độ

cảm kích: “Nay người dân trong nước bị tai nạn trơi dạt

đến nước ngươi được giúp đỡ để trở về nước lại mang theo tờ bẩm, Bản bộ biết rõ tấm lịng cảm tạ của nước ngươi”.35

Riêng đối với thuyền cơng của nhà Thanh đi cơng cán gặp nạn khơng những được trợ cấp hậu hĩnh mà cịn được triều đình đĩn tiếp chu đáo Năm Gia Long thứ 9 (1810) thuyền của Thiên tổng tỉnh Phúc Kiến nước Thanh là Tiêu Nguyên Hầu bị nạn dạt vào cửa biển Cam Ranh (Khánh Hịa) được biệt đãi cấp cho hơn 30 quan tiền, 4 tấm lụa, 5 tấm vải và 6 phương gạo; quân lính đi theo mỗi người được cấp 5 quan tiền, 2 tấm vải, 3 phương gạo Vua cịn trực tiếp xuống

dụ rằng: “Thuyền nước ngồi bị nạn, việc giúp đỡ đã cĩ

lệ định Duy Tiêu Nguyên Hầu là người cơng sai của nước Thanh cho nên đặc biệt thưởng cấp thêm để tỏ ưu đãi” Sau đĩ vua cho mời về Kinh và thưởng thêm 100

quan rồi cho đi đường bộ về nước.36 Về sau việc biệt đãi với quan quân nhà Thanh tiếp tục được duy trì dưới thời vua Minh Mạng Năm 1833, một chiếc quân thuyền của tỉnh Quảng Đơng nhà Thanh vì bị giĩ bão trơi dạt sang vụng Trà Sơn tỉnh Quảng Nam, nghe tin

vua Minh Mạng xuống dụ rằng: “Đĩ là thuyền cơng sai

chẳng ví như thuyền buơn gặp nạn được” Sau đĩ vua ra

lệnh cấp cho 300 quan tiền, 300 phương gạo và cho Lang trung Bộ Hộ Lê Trường Danh đến thăm hỏi an

ủi, đem trâu, rượu thịt đến thiết đãi ưu hậu.37 Hay năm Minh Mạng thứ 14, vua trực tiếp ban Chỉ cho Bộ Hộ về việc tổ chức tang lễ, chu cấp tiền và lo việc đưa viên

Ngoại ủy Lương Quốc Giản qua đời về nước rằng: “Về

việc quan quân nước Thanh gặp nạn giĩ bão trước đây

đã giáng dụ điều phái binh thuyền, hẹn ngày hộ tống về nước Nay nghe tấu trình của phái viên Lê Văn Phú thì viên tướng biền bị nạn ấy là viên Ngoại ủy Lương Quốc Giản bỗng nhiên phát bệnh được điều trị nhưng khơng khỏi đã mất vào ngày 19 tháng này, xem lời tâu thấy cũng rất thương Vậy truyền lấy một cây gấm Tống, 3 tấm lụa, 10 tấm vải ban cho viên quá cố ấy Cịn áo quan

Trang 7

54 Phát triển Đà Nẵng Kinh tế - Xã hội

cùng cơng việc tang lễ truyền cho các viên đĩng giữ ở

đài Điện Hải là Phạm Hữu Tâm và Nguyễn Văn Lạng lo

liệu cho thỏa đáng Lại cấp thêm 50 lạng bạc giao cho

viên Ngoại ủy cùng thuyền là Phàn Diệu Thăng đưa về

cho gia đình”.38

Một đối tượng khác cũng được triều đình dành

cho những ân cấp biệt đãi ngang hàng với những

quan chức cao cấp đĩ là những bậc trí thức nhà

Thanh gặp nạn Đời vua Minh Mạng, các trường hợp

bị nạn xuất hiện khá thường xuyên trong các ghi

chép của Quốc sử quán Năm 1822, cĩ 34 người tỉnh

Phúc Kiến gặp bão dạt vào cửa Đà Nẵng, triều đình

cấp cho viên Vương Khơi Nguyên 5 lạng bạc, 1 bộ áo

hàng, vạt 2 chiếc ngồi bằng trừu trong bằng vải, 1

chiếc quần lụa hàng màu Sau đĩ khi biết Vương Khơi

Nguyên là người Phúc Kiến đi Đài Loan chấm thi lại

mang theo vợ con gặp bão ở hải phận Quảng Ngãi

liền sắp xếp đưa về nước bằng đường thủy Hơn nữa

“nghĩ người học trị bị nạn này trải qua bao nguy hiểm

tuy đã được ban ơn nhưng đã ở lâu nơi đất khách nay lại

thuê thuyền về nước thời lương ăn đường, lộ phí khơng

khỏi thiếu thốn Vậy lại ban cho 100 lạng bạc để tỏ cái

ý tha thiết của trẫm thương xĩt kẻ hoạn nạn, quý trọng

nhà nho.39 Đến năm Minh Mạng thứ 16 (1835), nhà

vua cũng dành những biệt đãi tương tự đối với viên

thư viện trưởng giáo huyện Đài Loan nước Thanh là

Lẫm sinh Thái Đình Lan (Đại Nam thực lục chép là Thái

Đình Hương) cùng 3 tên thư sinh đáp thuyền buơn

gặp nạn đã được triều đình ban cấp cho 2 quan tiền,

2 phương gạo, sau đĩ cấp thêm cho 50 quan tiền, 20 phương gạo và cử người tới hỏi thăm chu đáo, cho phép Thái Đình Lan được trở về bằng đường bộ theo

đề nghị của vị Lẫm sinh này.40 Những ân cấp đặc biệt của triều đình trong thời gian gặp nạn cũng đã được Thái Đình Lan ghi nhận trong tác phẩm Hải Nam tạp trứ của ơng.41

kết luận

Là triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, triều Nguyễn đã kế thừa những tri thức, kinh nghiệm trong xây dựng và bảo vệ đất nước của các triều đại trước để xây dựng một quốc gia thống nhất,

cĩ vị trí mạnh trong khu vực Với tầm nhìn hướng biển trong điều kiện đất nước cĩ vùng biển rộng, nhiều thiên tai, hai vị vua đầu triều Nguyễn đã nhận thấy cần phải đưa ra những chính sách cụ thể trong việc giúp đỡ người bị nạn trên biển, giúp họ phần nào cảm thấy an tâm hơn khi qua lại vùng biển Việt Nam cũng như là một cách để xác lập an ninh chủ quyền trên biển Chỉ trong một thời gian cầm quyền chưa lâu nhưng những chính sách cứu nạn khá tồn diện

và những hệ quả mà nĩ mang lại đã cho thấy đĩ là một cố gắng rất lớn của vua Gia Long - Minh Mạng Những hoạt động ấy cịn tiếp nối thêm vào truyền

thống “thương người như thể thương thân” của dân

tộc ta qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Sự giúp đỡ của vua Gia Long và Minh Mạng đối với những người bị nạn đã cho thấy tấm lịng nhân

Trang 8

Phát triển Kinh tế - Xã hội

đạo của hai vị vua này Đĩ là lịng thương người

khơng chỉ đối với dân chúng trong nước mà nĩ cịn

vượt qua ranh giới quốc gia đối với những người dân

tộc khác, quốc gia khác

Thay đổi cái nhìn truyền thống mang nhiều yếu tố

“tiêu cực” trong cách nhìn nhận, đánh giá đối với triều

Nguyễn nĩi chung và hai vị vua Gia Long - Minh Mạng

nĩi riêng, những chính sách cứu nạn dưới triều nhà

Nguyễn mang nhiều ý nghĩa chính trị - nhân đạo to

lớn Bên cạnh đĩ, vấn đề này cịn hàm chứa nhiều giá

trị thực tiễn đối với con người trong thời đại ngày nay,

thấy được những gì triều Nguyễn đã làm với những

người khơng may gặp nạn trên biển, là một khai mở

cho quốc tế biết thêm rằng ngày trước khi cha ơng

của họ gặp nạn trên biển đã được người Việt giúp

đỡ như thế nào và đĩ cũng là gĩp phần phục vụ cho

cơng cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay Bên

cạnh đĩ, chúng ta biết rằng người ta chỉ cĩ thể quản

lý và thực hiện các hoạt động trên vùng biển do mình

kiểm sốt, cho nên hoạt động cứu nạn trên biển cũng

khẳng định việc quản lý biển một cách cĩ hiệu quả

và là vấn đề rất được chính quyền nhà Nguyễn quan

tâm, cho nên chính sách này cịn mang hàm ý khẳng

định chủ quyền biển rất lớn đối với Việt Nam trong

lịch sử

p.t.t.

ở Hồng Sa đi thuyền ra đảo Hồng Sa, gặp giĩ dạt vào hải phận Quỳnh Châu nước Thanh, tổng đốc Thanh hậu cấp cho rồi đưa về; năm Bính Tý thứ 18 (1756), mùa thu tháng

7, viên thiên tổng Mân Chiết (Phúc Kiến và Chiết Giang) là

Lê Huy Đức thuyền bị nạn bão đậu vào hải phận nước ta [chúa] hậu đãi rồi cho về, nhân tiện cho đưa về Phúc Kiến những người Thanh bị bắt là bọn Lý Văn Quang gồm 16 người

Tất cả các sự kiện trên đều trích trong Quốc sử quán

triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, (Hà Nội: Giáo dục,

2004), Tập 1

4, 6, 7, 8, 9, 10, 32, 33, 36, 37 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam

thực lục chính biên, (Hà Nội: Giáo dục, 2004), Tập 1, 471, 35,

760, 481, 61, 682, 798, 782, 814

5 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sử

lệ, Tập 5, Quyển 63, Sđd, 408.

11 Đối với các ngư dân, quan lại người Việt bị nạn chủ yếu trên vùng biển Việt Nam và Trung Quốc chỉ một số ít các thuyền bị nạn trơi dạt sang các nước Miến Điện, Nhật Bản,… Theo GS Lương Chí Minh, các tàu thuyền bị nạn của người Việt ở Trung Quốc chủ yếu trơi dạt vào Lưỡng Quảng

và đảo Hải Nam, số ít trơi vào Phúc Kiến: Lương Chí Minh,

“Sự phục hồi kinh tế và sự phát triển của quan hệ thương mại giữa hai nước Trung - Việt vào những năm đầu nhà

Nguyễn” in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và

Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, (Hà Nội: Thế giới, 2008), 340

12 Dẫn theo Châu bản triều Minh Mệnh, Đỗ Bang, Hệ

thống phịng thủ miền Trung dưới triều Nguyễn, Tập 43, 458,

131

Nguyễn Quang Tơ dịch), Minh Mệnh chính yếu, (Ủy ban dịch

thuật - Bộ Văn hĩa Giáo dục và Thanh niên xuất bản, 1974), Tập 6, Quyển 25, 266, 238

14 Xem thêm Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực

lục chính biên, (Hà Nội: Giáo dục, 2007), Tập 5, 532.

15 Gia Long cho rằng: “Tiên vương kinh dịch nước khơng

để người Hạ lẫn với người Di đĩ thực là cái ý đề phịng từ lúc việc cịn nhỏ Người Hồng Mao (nước Anh) gian giảo trí trá khơng phải nịi giống của ta, lịng họ hẳn khác, khơng cho ở lại, ban cho ưu hậu mà cho về, khước từ những phương vật

mà họ hiến”: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, Tập 1, 603.

16 Vũ Thị Phương Hậu, Chính sách văn hĩa dưới triều

Nguyễn (1802 - 1884), (Hà Nội: Chính trị Quốc gia, 2014), 146.

17 Viện Sử học, Trương Thị Yến, Lịch sử Việt Nam, (Hà Nội: Khoa học Xã hội, 2014), Tập 6, 56.

18 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sử

lệ, Sđd, Tập 5, Quyển 63, 385.

19 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sử

lệ, Sđd, Quyển 48, 438.

chÚ thÍch

1 Dẫn theo: "Tồn tập An Nam lộ" in trong Thiên hạ

bản đồ, Viện Nghiên cứu Hán Nơm: Nguyễn Quang Ngọc,

Nguyễn Phúc Nguyên - “Vị chúa của những kỳ cơng mở cõi

đầu thế kỷ XVII” in trong Một chặng đường nghiên cứu lịch

sử, (Hà Nội: Thế giới, 2008), 456.

2 Lê Quý Đơn, (Viện Sử học dịch), Phủ biên tạp lục, (Hà

Nội: Văn hĩa Thơng tin, 2007), 155

3 Trong Đại Nam thực lục tiền biên, các chính sách cứu

nạn của chúa Nguyễn được ghi chép khá sơ sài, số lượng

các ghi chép là khơng nhiều Thời chúa Nguyễn Phúc

Chu (1691 - 1725): năm Nhâm Ngọ thứ 11 (1702) thuyền

cơng của Xiêm La bị giĩ đậu ở hải phận nước ta, ta sửa

sang thuyền lái và giúp đỡ lương thực cho họ rồi sai bọn

Thần Triệt đáp đi; năm Ngâm Ngọ thứ 23 (1714) thuyền bị

nạn xứ Nghệ An đậu ở giang phận Lưu Đồn, chúa sai cấp

tiền gạo rồi cho về Giáp Tuất năm thứ 16 (1754) đời chúa

Nguyễn Phúc Khốt (1738 - 1765), mùa thu tháng 7 dân đội

Trang 9

56 Phát triển Đà Nẵng Kinh tế - Xã hội

20 Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mạng chính yếu,

Sđd, (1972), Tập 6, Quyển 245, 245

21 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển sử

lệ, Sđd, Quyển 48, 438.

22 Để hiểu rõ hơn cuộc chiến tranh Xiêm - Vạn Tượng

(1927) và sự giúp đỡ của triều đình nhà Nguyễn với nước

phiên thần Vạn Tượng xin xem thêm mục: Quan hệ giữa

nhà Nguyễn với nước Vạn Tượng và Xiêm, Trương Thị Yến,

Lịch sử Việt Nam, Sđd, Tập 5, 466 - 480.

23, 24, 25, 26 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục

chính biên, Sđd, Tập 4, 27, 761, 951, 900 - 901,

28 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính

biên, Sđd, Tập 2, 771 - 772.

29 Về sau quy định này cĩ sự thay đổi do số lượng người

Hoa vào Việt Nam ngày một đơng Vì vậy triều đình Minh

Mạng phải đưa ra các quy định và thủ tục nhập cảnh đối với

người Hoa muốn vào Việt Nam sinh sống Tuy nhiên việc

nhập cảnh dù phải khai báo với quan sở tại và được bang

trưởng Minh Hương bảo lãnh thì các dịng người Hoa di cư

vào Việt Nam vẫn chiếm số lượng lớn

30, 38 Minh Mạng, (Trần Văn Quyền dịch), Ngự chế văn,

(Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn Quốc gia, Viện

Nghiên cứu Hán Nơm xuất bản, 2000), Tập 2, 322

31 Lương Chí Minh, Sự phục hồi kinh tế và sự phát triển

của quan hệ thương mại giữa hai nước Trung - Việt vào những

năm đầu nhà Nguyễn, Tlđd, (2014), 340

34, 35 Hồ Bạch Thảo, Cao Tơng Thực Lục, Quyển hạ, In tại

Thư ấn quán, 244

39, 40 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam Hội điển

sử lệ, Sđd, Tập 5, Quyển 63, 410, 411.

41 Đây cĩ thể coi là những tài liệu ghi chép thực địa về sự

quan tâm đặc biệt của triều đình nhà Nguyễn trong những

ngày Thái Đình Lan gặp nạn trên đất khách, cho thấy tấm

lịng nhân đạo cao cả của người Việt Đồng thời đây cũng là

dịp để Thái Đình Lan đưa ra những quan sát, đánh giá, nhìn

nhận về dân tình phong tục của người dân Việt một cách

sinh động và chân thực nhất Để hiểu rõ hơn xin xem thêm

Trần Ích Nguyên, Thái Đình Lan và tác phẩm Hải Nam tạp trứ,

Sđd, 2009, 171 - 185

tÀi liỆu tham khẢo

1 Trịnh Tuấn Anh 1974 “Phúc trình cuộc thám sát hịn

Nam Yít thuộc quần đảo Hồng Sa vào mùa thu năm 1973”

in trong Sử Địa Số 29.

2 Đỗ Bang 2011 Hệ thống phịng thủ miền Trung dưới

triều Nguyễn Hà Nội: Văn hĩa Thơng tin.

3 Lê Quý Đơn 2007 (Viện Sử học dịch), Phủ biên tạp lục

Hà Nội: Văn hĩa Thơng tin

4 Hồng Xuân Hãn 1974 “Quần đảo Hồng Sa” Sử Địa

Số 29 Nhà sách Khai Trí bảo trợ

5 Vũ Thị Phương Hậu 2014 Chính sách văn hĩa dưới

triều Nguyễn (1802 - 1884) Hà Nội: Chính trị Quốc gia.

6 Lãng Hồ 1974 “Hồng Sa - Trường Sa, lãnh thổ Việt

Nam” Sử Địa Số 29 Nhà sách Khai Trí bảo trợ.

7 J.B.Piétri 2015 (Đỗ Thái Bình dịch) Thuyền buồm

Đơng Dương Thành phố Hồ Chí Minh: Trẻ.

8 Minh Mạng 2000 (Trần Văn Quyền dịch) Ngự chế

văn Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn Quốc gia, Viện

Nghiên cứu Hán Nơm xuất bản Tập 2

9 Lương Chí Minh 2008 “Sự phục hồi kinh tế và sự phát triển của quan hệ thương mại giữa hai nước Trung - Việt

vào những năm đầu nhà Nguyễn” in trong Kỷ yếu Hội thảo

khoa học Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX Hà Nội: Thế giới

10 Nguyễn Quang Ngọc 2008 “Nguyễn Phúc Nguyên -

Vị Chúa của những kỳ cơng mở cõi đầu thế kỷ XVII” in trong

Một chặng đường nghiên cứu lịch sử Hà Nội: Thế giới.

11 Trần Ích Nguyên 2009 (Ngơ Đức Thọ dịch) Thái

Đình Lan và tác phẩm Hải Nam tạp trứ Hà Nội: Lao động -

Trung tâm Văn hĩa Ngơn ngữ Đơng Tây

12 Nội các triều Nguyễn 1993 Khâm Định Đại Nam Hội

điển sử lệ 8 tập Huế: Thuận Hĩa.

13 Quốc sử quán triều Nguyễn 2004 Đại Nam thực lục

tiền biên Hà Nội: Giáo dục Tập 1.

14 Quốc sử quán triều Nguyễn 2004 Đại Nam thực lục

chính biên Hà Nội: Giáo dục Tập 2.

16 Quốc sử quán triều Nguyễn 2004 Đại Nam thực lục

chính biên Hà Nội: Giáo dục Tập 3.

17 Quốc sử quán triều Nguyễn 2004 Đại Nam thực lục

chính biên Hà Nội: Giáo dục Tập 4

18 Quốc sử quán triều Nguyễn 2007 Đại Nam thực lục

chính biên Hà Nội: Giáo dục Tập 5.

19 Quốc sử quán triều Nguyễn 1972 (Vũ Quang Khanh

- Võ Khắc Văn dịch) Minh Mạng chính yếu Ủy ban dịch thuật

- Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hĩa xuất bản Tập 2

20 Quốc sử quán triều Nguyễn 1974 Hồng Văn Hịe -

Nguyễn Quang Tơ dịch Minh Mạng chính yếu Ủy ban dịch

thuật - Bộ Văn hĩa Giáo dục và Thanh niên xuất bản Tập 6

21 Hồ Bạch Thảo Cao Tơng thực lục In tại Thư ấn quán

Quyển hạ

22 Trần Nam Tiến 2014 Đội Hồng Sa trong lịch sử xác

lập và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam Thành phố

Hồ Chí Minh: Văn hĩa - Văn nghệ

23 Thích Đại Sán 1963 Hải Ngoại kỷ sự Bản dịch Viện

Đại học Huế

24 Viện Sử học Trương Thị Yến 2014 Lịch sử Việt Nam

Tập 5 Hà Nội: Khoa học Xã hội

26 Viện Sử học, Trương Thị Yến 2014 Lịch sử Việt Nam

Tập 6 Hà Nội: Khoa học Xã hội.

Ngày đăng: 26/10/2020, 09:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w