Bài viết này phân tích một cách tổng thể về thực trạng đầu tư công và hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam thông qua việc tính toán, phân tích một số chỉ tiêu hiệu quả đầu tư công và mức độ ảnh hưởng đến tăng trưởng và giảm nghèo, qua đó đề xuất một vài khuyến nghị hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả đầu tư công của Việt Nam trong thời gian tới.
Trang 1HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG: MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG
VÀ GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM
PUBLIC INVESTMENT EFFICIENCY: GROWTH
OBJECTIVES AND POVERTY REDUCTION IN VIETNAM
Nguyễn Minh Tuấn, Phạm Thị Hồng Hoa
Email: minhtuancnsd@yahoo.com
Trường Đại học Sao Đỏ
Ngày nhận bài: 7/02/2018 Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 20/9/2018
Ngày chấp nhận đăng: 28/9/2018
Tóm tắt
Đầu tư công là đòn bẩy và là nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho đầu tư từ các khu vực còn lại phát huy hiệu quả cao thông qua việc xây dựng kết cấu kinh tế - xã hội, xóa đói và giảm nghèo Tuy nhiên, tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo cũng như hiệu quả của đầu tư công vẫn còn là vấn đề tranh luận Trên cơ sở hàm đa biến được phác họa từ mô hình VECM (Vector Error Correction Model), bài viết này phân tích một cách tổng thể về thực trạng đầu tư công và hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam thông qua việc tính toán, phân tích một số chỉ tiêu hiệu quả đầu tư công và mức độ ảnh hưởng đến tăng trưởng và giảm nghèo, qua đó đề xuất một vài khuyến nghị hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả đầu tư công của Việt Nam trong thời gian tới
Từ khóa: Đầu tư công; tăng trưởng; giảm nghèo.
Abstract
Public investment is the lever and the basis for socio-economic development, creating conditions for investment from the rest of the region to promote high efficiency through the construction of socio-economic infrastructure, poverty reduction However, the impact of public investment on socio-economic growth and poverty reduction as well as the effectiveness of investment remains a matter of debate Based on the multivariate function sketched from the VECM model, this paper analyzes the overall public investment and the efficiency of public investment in Vietnam by analyzing and analyzing some indicators of public investment efficiency and the impact of growth and poverty reduction, it then proposed some recommendations to improve the policy and improve the efficiency of Vietnam’s public investment
in the coming time
Keywords: Public investment; growth; poverty reduction.
1 GIỚI THIỆU
Hiện nay, trong cả nghiên cứu lý thuyết lẫn thực
nghiệm đều chưa có sự thống nhất về quan niệm
hay khái niệm đầu tư công, hiện đang tồn tại một
số quan niệm như: Quan niệm theo sở hữu vốn
cho rằng, đầu tư công được coi là đầu tư của khu
vực nhà nước hay mọi hoạt động sử dụng nguồn
lực của Nhà nước để đầu tư Theo quan điểm tài
chính công, thì đầu tư công là hoạt động của chi
tiêu công nhằm thúc đẩy năng lực sản xuất của
nền kinh tế Còn quan điểm theo thuyết vô vị lợi thì
cho rằng, đầu tư công là đầu tư phát triển không vì
mục tiêu lợi nhuận hay có tính phi lợi nhuận trong
hoạt động đầu tư,… Tuy nhiên, dù theo quan điểm
nào thì hiệu quả của đầu tư công luôn được đánh
giá thông qua các chỉ tiêu kinh tế - xã hội (tăng trưởng và giảm nghèo của một quốc gia)
Đây luôn là một vấn đề thu hút được sự quan tâm không chỉ của Chính phủ, chuyên gia kinh tế mà còn của toàn xã hội Tại Việt Nam, hoạt động đầu
tư công luôn được cho là kém hiệu quả do chất lượng lựa chọn dự án thấp, do chậm trễ trong việc thiết kế và hoàn thành dự án, do tham nhũng, do chi phí luôn tăng so với quyết định đầu tư ban đầu,
và do rất nhiều dự án không hoàn thành Hiệu quả đầu tư công thấp gây rất nhiều bức xúc cho người dân do nguồn vốn dành cho đầu tư công phần lớn
là từ thuế của người dân trong khi hàng hóa, dịch
vụ công không đáp ứng được nhu cầu của họ và phát triển của đất nước Theo Ngân hàng Thế giới, 30% lợi ích tiềm năng của đầu tư công trên thế giới
đã bị mất do hiệu quả đầu tư thấp, con số này ở các nước đang phát triển là 40%, ở các nước đang nổi lên là 27% và các nước phát triển khoảng 13%
Người phản biện: 1 PGS.TS Nguyễn Thị Bất
2 PGS TS Lưu Ngọc Trịnh
Trang 2Tại Việt Nam, đầu tư công được xem là hoạt động
đầu tư của Nhà nước để thực hiện các chương
trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở
nguồn lực của Nhà nước và các nguồn vốn vay
Do vậy, có thể khẳng định đầu tư công có vai trò
chủ đạo trong phát triển cơ sở hạ tầng, công ích
và thực hiện các mục tiêu quốc gia cũng như giải
quyết được tính phi lợi nhuận Tuy nhiên, trong
một thời gian dài, đầu tư công được tập trung chủ
yếu vào xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật,
giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo Nguồn lực tài
trợ cho đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách nhà
nước, vốn vay nước ngoài (ODA) Trong những
năm gần đây, khi tỷ lệ đầu tư nói chung và đầu tư
công nói riêng trên GDP ngày càng tăng thì hiệu
quả đầu tư ngày càng giảm; tình trạng lãng phí,
tham nhũng ngày càng phổ biến lên đến 20-30%
Việc chấp nhận chủ trương đầu tư cũng như ra
quyết định đầu tư vẫn chủ yếu dựa trên các yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội và khả năng huy
động vốn Trong khi đó, các tiêu chuẩn về hiệu
quả đầu tư công chưa được xem là yếu tố quyết
định đối với quyết định đầu tư công và chưa quy
định ràng buộc về mặt pháp lý một cách chặt chẽ
Cơ chế, chính sách, công cụ quản lý đầu tư tồn
tại nhiều hạn chế, bất cập, chậm được khắc phục
Cần phải xem xét đánh giá một cách khách quan
để trả lời câu hỏi, liệu có phải đầu tư công thực sự
kém hiệu quả ở tất cả lĩnh vực đầu tư (cơ sở hạ
tầng, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo…) hay chỉ
ở một số lĩnh vực? Thất thoát là một trong những
tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của đầu tư công
nhưng liệu xét trên phạm vi tổng thể nền kinh tế thì
đầu tư công có tác động tích cực hay tiêu cực đối
với tăng trưởng kinh tế và đây có phải là thời điểm
để xác định vai trò của đầu tư khu vực tư nhân đối
với tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh Chính phủ
đang nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế, tái cấu trúc
đầu tư công, tái cơ cấu nợ công
2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG TẠI
VIỆT NAM
Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã theo đuổi mô
hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu
tư, đặc biệt là đầu tư từ khu vực nhà nước Thực
tế cho thấy tỷ lệ vốn đầu tư/GDP tăng rất mạnh từ
lúc nền kinh tế mở cửa đến nay trong khi tốc độ
tăng trưởng chỉ dao động quanh mức 6÷8% Vốn
đầu tư toàn xã hội tăng mạnh chủ yếu là do đầu tư
công (chiếm tỷ trọng cao nhất) tăng rất mạnh, thế
nhưng, điều đáng lưu ý là hiệu quả đầu tư công
luôn thấp hơn hiệu quả đầu tư toàn nền kinh tế và
các khu vực đầu tư còn lại khi đánh giá thông qua
chỉ số ICOR
2.1 Quy mô đầu tư công
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ đầu tư công cao, đầu tư vào cơ sở hạ tầng chiếm 8÷10% GDP, cao gấp hai lần so với các nước ASEAN
và gấp ba lần so với nhiều nước phát triển Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư công của Việt Nam lại thấp hơn nhiều so với các nước khác Với hệ số ICOR khoảng 5.2, nghĩa là Việt Nam phải đầu tư 5,2 đồng mới đạt được 1 đồng tăng trưởng, so với mức đầu tư 3÷4 đồng của các nước khác trong khu vực
Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2016 tính theo giá thực tế đạt 1.485,1 nghìn tỷ đồng, tăng 8,7% so với năm 2015 Năm 2017, đạt 1.666 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2016 Cụ thể, vốn đầu tư khu vực nhà nước năm 2017 đạt 594.900 tỷ đồng, chiếm 35,7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tăng 6,7% so với năm 2016, khu vực ngoài nhà nước đạt 676.300 tỷ đồng, chiếm 40,5%, tăng 16,8% và khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 396.200 tỷ đồng, chiếm 23,8% và tăng 12,8% Tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện trong năm 2017 ước đạt 290.500
tỷ đồng, vốn trung ương quản lý đạt 64.400 tỷ đồng và vốn địa phương quản lý đạt 226.100 tỷ đồng, tương ứng bằng 94,4%; 91,1% và 95,4% kế hoạch Đối với khu vực đầu tư nước ngoài, tổng
số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm đạt 29,7
tỷ USD, tăng 44,2% so với năm 2016, vốn thực hiện ước tính 17,5 tỷ USD, tăng 10,8% Ngoài ra, khối ngoại còn góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 6,2
tỷ USD, tăng 45,1% so với năm 2016
Hình 1 Tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển toàn xã
hội các năm 2015-2017 so với các năm trước (Theo đơn giá hiện hành, đơn vị: %)
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Nguồn vốn đầu tư phát triển của khu vực ngoài nhà nước 2017 đã tăng cao hơn tốc độ tăng vốn đầu tư xã hội chung (9,7%) Đây là kết quả tích cực của việc thu hút nguồn lực của các thành
Trang 3phần kinh tế, của công cuộc khởi nghiệp được
đẩy mạnh từ trung ương đến địa phương, với sự
ra đời và trở lại hoạt động của hơn 100.000 doanh
nghiệp, hướng đến mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp
vào năm 2020, Nguồn vốn đầu tư của khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) năm 2017 cũng
đạt gần 24,4 tỷ USD, tăng 7,1% so với năm 2016,
cao nhất từ năm 2009 đến nay Đáng lưu ý, lượng
vốn thực hiện tăng và đạt kỷ lục mới, cao hơn kỷ
lục đã đạt vào năm 2016 (ước đạt 15,8 tỷ USD so
với 14,5 tỷ USD của năm 2016) Hiệu quả đầu tư
tăng biểu hiện bằng suất đầu tư tăng (hệ số giữa
tỷ lệ vốn đầu tư/GDP so với tốc độ tăng GDP)
Hệ số này của năm 2017 đã thấp hơn những
năm trong thời kỳ 2006-2010 (6,2 lần) và thời kỳ
2011-2015 (5,4 lần), nhưng lại cao hơn năm 2016
(5,3 lần so với 4,9 lần) - tức là hiệu quả đầu tư
năm 2016 cao hơn thời kỳ 2006-2016, nhưng lại
thấp hơn năm 2016
Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP năm 2017 đạt 33%, cao
nhất tính từ năm 2012 đến nay, điều đó chứng tỏ
việc thu hút vốn đầu tư phát triển trong năm 2016
đã có nhiều cố gắng và đạt kết quả cao nhất trong
5 năm qua Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã
hội có sự chuyển dịch tích cực Nguồn vốn đầu
tư phát triển của khu vực kinh tế nhà nước tuy
tăng thấp nhất (6,7%) trong ba nguồn, nhưng vẫn
tiếp tục chiếm tỷ trọng cao (35,7%) Đây là một cố
gắng của Nhà nước trong điều kiện cân đối ngân
sách gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài/GDP tăng và hiện ở mức cao Một khoản quan trọng gồm vốn của các doanh nghiệp nhà nước và nguồn vốn khác năm 2017
đã tăng lên nhờ công cuộc cổ phần hóa các tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước lớn, được đẩy mạnh Tuy nhiên, ở đây có hai vấn đề cần quan tâm khi mà thời gian để được công nhận là nền kinh tế thị trường theo cam kết khi gia nhập WTO
đã đến rất gần đó là: Khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn “ôm đồm” nhiều quá, tỷ trọng của vốn đầu
tư công trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội vẫn còn
ở mức cao; hiệu quả đầu tư của nguồn vốn này thấp nhất trong ba nguồn Hiện nay có hàng chục công trình nghìn tỷ thua lỗ, trong khi cân đối ngân sách còn khó khăn, tỷ lệ nợ công, nợ Chính phủ,
nợ nước ngoài/GDP tăng, ở mức cao, có loại đã vượt trần và phải nới trần
2.2 Hiệu quả đầu tư công
a Xét dưới góc độ thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Thời gian qua, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựa trên nền tảng gia tăng vốn đầu tư, trong đó đầu tư công luôn chiếm tỷ trọng cao Năm 2017 kết thúc với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 6,7% so với năm 2016, mức tăng này vừa đạt mục tiêu đặt
ra Xét chung cả giai đoạn 2013-2017 thì năm 2017
có mức tăng cao nhất, còn thấp nhất là năm 2013
Bảng 1 Đầu tư công và tăng trưởng kinh tế
Tỷ trọng vốn đầu tư công/tổng vốn đầu tư toàn xã hội (%) 40,4 39,9 38,0 37,6 35,7
Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính toán của tác giả theo giá thực tế
Số liệu từ biểu đồ trên cho thấy, trong giai đoạn từ
năm 2013 đến năm 2017, mặc dù tỷ trọng đầu tư
công trong cơ cấu tổng đầu tư toàn xã hội có xu
hướng giảm trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế
trong giai đoạn này tăng chậm lại Điều này đồng
nghĩa với việc tác động của đầu tư công đến tăng
trưởng kinh tế có xu hướng giảm và dường như là
không hiệu quả khi mà tỷ trọng đầu tư công trong
tổng đầu tư toàn xã hội giảm nhưng tốc độ tăng
trưởng kinh tế lại tăng Ở khía cạnh mối quan hệ
giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân thì có thể thấy
vốn đầu tư công đã thể hiện được vai trò tích cực,
là vốn mồi thu hút vốn đầu tư của các thành phần
kinh tế khác Trong giai đoạn từ năm 2008 đến
năm 2015, tình hình kinh tế thế giới phức tạp, rơi
vào khủng hoảng trên quy mô toàn cầu, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn Điều hành kinh
tế vĩ mô linh hoạt, nhất là chính sách tài khóa, có thời điểm Chính phủ phải kích cầu đầu tư mạnh
mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (năm 2009) nhưng cũng ngay sau đó phải tiến hành rà soát, điều chỉnh, cắt giảm, kiểm soát chặt chẽ đầu tư công để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô (từ năm 2011 đến năm 2014) Nên trong giai đoạn này, đầu tư công không thể hiện rõ vai trò, tác động đối với tăng trưởng kinh tế Tuy vậy, cũng không thể phủ nhận hoàn toàn vai trò và hiệu quả nhất định của đầu tư công đối với duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá trong thời gian qua
Trang 4Bảng 2 Tăng trưởng kinh tế, đầu tư và xuất nhập khẩu giai đoạn 2013-2017
Năm (tỷ đồng)GDP tăng GDP Tốc độ
(%)
Tổng đầu tư toàn xã hội
(tỷ đồng)
Trong đó Xuất nhập khẩu (tỷ USD) PUI
(Đầu tư công)
PE
(Đầu tư
tư nhân)
FDI
(Đầu tư trực tiếp nước ngoài) XK NK
2013 3.584.262 5,42 1.094.542 441.924 412.506 240.112 132,03 132,03
2014 3.937.856 5,98 1.220.704 486.804 468.500 265.400 150,22 147,85
2015 4.192.862 6,68 1.367.205 519.505 429.600 218.100 162,05 166,16
2016 4.502.700 6,21 1.485.100 557.500 579.700 347.900 175,9 173,3
2017 5.007.900 6,70 1.666.500 594.000 676.300 396.200 209,1 194,47
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Để đánh giá rõ hơn hiệu quả của đầu tư công đối
với tăng trưởng kinh tế, tác giả sử dụng mô hình
VECM để ước lượng các hàm phản ứng với bốn
biến số là tăng trưởng kinh tế, vốn đầu tư công,
vốn đầu tư tư nhân (bao gồm cả vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài), và độ mở của nền kinh tế với
hàm Y = f(PUI, PEFDI, XNK) Trong đó, Y là sản
lượng của nền kinh tế; PUI là vốn đầu tư công;
PEFDI là vốn đầu tư tư nhân (bao gồm cả vốn
đầu tư nước ngoài FDI); XNK là độ mở của nền
kinh tế Các dữ liệu được thu thập từ nguồn chính
thống của Tổng cục Thống kê từ năm 2010 đến năm 2016, về độ mở của nền kinh tế được tính bằng tỷ lệ xuất khẩu và nhập khẩu Bên cạnh đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dường như có mối quan hệ với mức độ mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và ngày càng nhạy cảm với những biến động, cú sốc của nền kinh tế thế giới Hay nói cách khác, độ mở của nền kinh tế (đo lường bằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu) cũng có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Kết quả ước lượng như sau:
Bảng 3 Kết quả hồi quy mô hình
Vector Error Correcction Estimatas
Date: 06/02/2018 Time: 15:22
Sample (adjusted): 2013 2017
Included abservations: 5 affer adjustments
Standard error in () & t-statistics in [
(0.06102) [-4.01546]
(0.02159) [-19.5670]
(0.07156) [-6.01259]
(0.58387) [0.66763]
-0.315347 (0.49907) [-0.63186]
1.370634 (1.21922) [1.12419]
0.495572 (0.79957) [0.61980]
Trang 5D(N_GDP)(-2) -0.514430
(1.21868) [-0.42212]
3.452026 (1.04169) [3.31386]
-3.629919 (2.54481) [-1.42640]
0.040719 (1.66889) [0.02440]
(0.60127) [ 0.29951]
-1.057058 (0.42872) [-2.46562]
1.064828 1.04734) [ 1.01669]
0.502578 0.68685) [ 0.73171]
(0.64853) [0.51954]
-1.456768 (0.55435) [-2.62790]
1.744875 (1.35424) [1.28845]
0.550679 (0.88812) [0.62005]
(0.17108) [-0.45557]
-0.150841 (0.14624) [-1.03150]
-0.107619 (0.35725) [-0.30125]
0.435352 (0.23428) [1.85823]
(0.04929) [2.97743]
-0.011623 (0.04213) [-0.27586]
0.278383 (0.10293) [2.70451]
-0.165922 (0.06750) [-2.45797]
R-squared
Adj R-squared
Sum sq resids
S.E equation
F-statistic
Log likelihood
Akaike AIC
Schwarz SC
Mean dependent
S.D dependent
0.203177 0.128833 0.030594 0.050492 0.611961 31.85506 2.872784 2.575993 0.140832 0.047524
0.673335 0.537225 0.022353 0.043160 4.946983 34.67963 3.186625 2.889835 0.126111 0.063444
0.362046 0.096232 0.133403 0.105437 1.362029 18.60187 1.400207 1.103417 0.152222 0.110908
0.458739 0.233214 0.057374 0.069146 2.034090 26.19598 2.243998 1.947207 0.010000 0.078964 Determinant resid covariance (dof adj.)
Determinant resid covariance
Log likelihood
Akaike information criterion
Schwarz criterion
4.21E-01 8.18E-01 121.0011 -14.12658 -11.22233
Nguồn: Tính toán của tác giả
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đầu tư công có tác
động đến tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên mức độ
tác động của đầu tư công phát huy tác dụng khi
độ trễ của đầu tư là 2 năm, bên cạnh đó, đầu tư
tư nhân và độ mở của nền kinh tế cũng có ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ giữa
đầu tư công và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ
thuận chiều, có nghĩa là nếu đầu tư công tăng thì
tăng trưởng của nền kinh tế cũng tăng (hệ số beta
tính toán dựa vào số liệu công bố là 0.60127 cho
mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh
tế) Việc phát huy hiệu quả trực tiếp của đầu tư
công tới tăng trưởng kinh tế là một con số khiêm
tốn Tuy nhiên, đầu tư công cũng có tác động gián
tiếp góp phần thúc đẩy đầu tư tư nhân, đầu tư trực
tiếp nước ngoài và hoạt động xuất nhập khẩu, từ
đó tác động tới tăng trưởng kinh tế
Một trong những mục tiêu chính của đầu tư công
đó là cải thiện mức sống của người dân mà trước hết là chỉ tiêu GDP bình quân/người Đến nay, mức sống của người dân Việt Nam đã được cải thiện một cách đáng kể và thực tế Việt Nam đã được công nhận là một nước có thu nhập trung bình Kết quả hồi quy mô hình giữa đầu tư công và thu nhập bình quân đầu người cho thấy, nếu đầu
tư công tăng 1 đơn vị thì thu nhập bình quân đầu người tăng 0,02 đơn vị Do đó, có thể khẳng định hiệu quả đầu tư công đối với gia tăng thu nhập bình quân đầu người là không cao
Trang 6Bảng 4 Kết quả hồi quy mô hình
Coefficients a
Model
Unstandardized Coefficients Standardized Coefficients t Sig.
(Constant)
PUI
51.331 002
29.213
2.213 29.231
.023 000
a Dependent Variable: GDPnguoi
Nguồn: Tính toán của tác giả
b Xét dưới góc độ thực hiện mục tiêu giảm nghèo
Về giảm nghèo tại Việt Nam, nếu theo chuẩn do
Chính phủ quy định cho giai đoạn 2006-2010 và
giai đoạn 2011-2015 thì tỷ lệ nghèo chính thức
của Việt Nam năm 2010 là 14,2%, năm 2011 là
12,6%, năm 2012 là 11,1% và tiếp tục giảm còn
9,8% vào năm 2013; 8,4% vào năm 2014; 7,0%
vào năm 2015 Bình quân, mỗi năm trong giai
đoạn 2011-2015 tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,4 điểm
phần trăm Năm 2016 (theo chuẩn nghèo tiếp cận
đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020), tỷ lệ
hộ nghèo còn 5,8%, giảm 1,2 điểm phần trăm so
với năm 2015; năm 2017, tỉ lệ hộ nghèo bình quân
cả nước giảm còn dưới 7% (giảm 1,3 điểm phần
trăm so với cuối năm 2016) Trong đó, bình quân
tỉ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm còn dưới
40%; bình quân tỉ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt
khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, xã
biên giới, xã an toàn khu vùng dân tộc và miền
núi giảm khoảng 3-4 điểm phần trăm so với năm
2016, đạt mục tiêu đã đề ra của Chính phủ Như
vậy, dù theo bất cứ chuẩn nghèo nào thì thời gian
qua, Việt Nam đã đạt được kết quả tích cực trong
công tác xóa đói giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm
qua các năm
Tuy nhiên, nếu không xét đến chuẩn nghèo có
thay đổi trong giai đoạn 2011-2015, được nâng
lên so với giai đoạn 2005-2010, thì tốc độ giảm
nghèo của Việt Nam có xu hướng chậm lại và
ngược chiều so với tốc độ tăng vốn đầu tư công Nói cách khác, tốc độ tăng vốn đầu tư công không đem lại tốc độ giảm nghèo một cách tương xứng Điều này chứng tỏ để tiếp tục đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam thì chi phí nhà nước cũng như xã hội phải bỏ ra ngày càng lớn hơn, nhất là khi chuẩn nghèo có xu hướng tăng lên và hướng tới giải quyết bài toán nghèo đa chiều Để minh chứng cho điều này, tác giả đã xem xét cụ thể mối quan hệ tương quan giữa đầu tư công (đầu tư cho giáo dục đào tạo, đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đầu tư cho nông nghiệp, đầu tư cho nghiên cứu khoa học và giảm nghèo) với hàm P = f(RD, EDU, INFRAS, AGRI, PUI) Trong đó: P là tỷ lệ nghèo; EDU là đầu tư công cho giáo dục đào tạo; CSHT
là đầu tư công cho cơ sở hạ tầng; NN là đầu tư công cho sản xuất nông nghiệp (NN) và PUI là đầu tư công Các dữ liệu được tác giả thu thập
từ nguồn báo cáo của Tổng cục Thống kê về tỷ
lệ giảm nghèo của Việt Nam, Bộ Tài chính về đầu
tư cho giáo dục, đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đầu
tư cho nông nghiệp và đầu tư công Các dữ liệu được thu thập từ năm 2013 đến hết năm 2017 Trên cơ sở những dữ liệu thu thập được đó, tác giả tiến hành phân tích tương quan để xem xét mối quan hệ tương quan giữa các nhân tố này Cụ thể, xem xét mối quan hệ tương quan giữa đầu tư công, đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho cơ sở hạ tầng, đầu tư cho nông nghiệp tới tỷ lệ giảm nghèo
Bảng 5 Mối quan hệ tương quan giữa đầu tư công với giảm nghèo
Correlations
P
Pearson Correlation Sig (2-tailed) N
1 5
-.771**
.005 5
-.932**
.000 5
-.823**
.001 5
-.857** 001 5
EDU
Pearson Correlation Sig (2-tailed) N
-.771**
.003 5
1 5
.881**
.000 5
.897**
.000 5
-.871** 000 5
Trang 7Pearson Correlation Sig (2-tailed) N
-.726**
.008 5
.881**
.000 5
1 5
.915**
.000 5
-.859**
.000 5 CSHT
Pearson Correlation Sig (2-tailed) N
-.823**
.001 5
.897**
.000 5
.915**
.000 5
1 5
-.936**
.000 5 PUI
Pearson Correlation Sig (2-tailed) N
.857**
.001 5
-.871**
.000 5
-.859**
.000 5
-.936**
.000 5
1
5
** Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed)
Nguồn: Tính toán của tác giả
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đầu tư công có mối
quan hệ tương quan với tỷ lệ giảm nghèo của
nước ta, hệ số tương quan Pearson của đầu tư
công với tỷ lệ giảm nghèo của nước ta là 0,857,
hệ số này càng lớn cho thấy mối quan hệ càng
chặt giữa biến độc lập và biến phụ thuộc, cụ thể
ở đây là đầu tư công và tỷ lệ giảm nghèo Hiệu
quả của đầu tư công khi xem xét dưới góc độ
giảm nghèo cho thấy, có mối quan hệ trực tiếp,
tương đối chặt Bên cạnh đó, đầu tư công trong
từng lĩnh vực cũng có đóng góp tích cực tới giảm
nghèo của nước ta Kết quả phân tích dữ liệu cho
thấy, đầu tư cho giáo dục, nông nghiệp, hệ thống
cơ sở hạ tầng cũng có mối quan hệ tương đối
chặt với tỷ lệ giảm nghèo ở nước ta, hệ số tương
quan Pearson dao động từ 0,771 đến 0,823 về
mối tương quan giữa từng biến độc lập và biến
phụ thuộc Tuy nhiên, về xu thế cho thấy, hiệu quả
của đầu tư công cho giảm nghèo ở Việt Nam có
xu hướng giảm xuống và điều này cần phải được cải
thiện, kể cả trong trường hợp tính đến yếu tố chuẩn
nghèo đã được nâng lên
3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG
Về hiệu quả kinh tế: Đầu tư công trong những
năm qua đã làm thay đổi đáng kể kết cấu hạ tầng
kỹ thuật của đất nước, nhờ đó đã thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế của cả nước, trong đó có việc tạo
điều kiện để các thành phần kinh tế ngoài nhà
nước phát triển, và góp phần nâng cao đời sống
nhân dân Đầu tư công đã trở thành một công cụ
hiệu quả trong điều hành kinh tế vĩ mô và đã hạn
chế tác động tiêu cực từ kinh tế toàn cầu, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế trong điều kiện khu vực kinh tế
tư nhân và đầu tư nước ngoài bị suy giảm, đối mặt
với nhiều khó khăn
Về hiệu quả xã hội: Khả năng tiếp cận của người
dân, nhất là người nghèo đối với các dịch vụ công
cộng, phúc lợi xã hội được cải thiện rõ rệt, đặc
biệt là trong giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa xã hội Đầu tư công cho xóa đói, giảm nghèo trong thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống, chất lượng sống của người nghèo thông qua việc tăng cường khả năng tiếp cận và được hưởng dịch vụ phúc lợi xã hội (giáo dục, y tế, văn hóa, vệ sinh môi trường,…); cải thiện cơ sở hạ tầng kinh
tế xã hội ở các địa bàn nghèo, khó khăn; nâng cao ý thức, trách nhiệm cộng đồng đối với người nghèo và thay đổi nhận thức của người nghèo, giúp người nghèo thích nghi được với kinh tế thị trường
Tuy nhiên, đầu tư công còn nhiều tồn tại và hạn chế như, hiệu quả đầu tư công có xu hướng giảm dần và thấp hơn khá nhiều so với các khu vực kinh tế khác khi xét trong mối quan hệ tương quan về lượng giữa số vốn đã bỏ ra và kết quả đạt được Suất đầu tư của khu vực nhà nước quá cao, trong khi khu vực kinh tế ngoài nhà nước lại
có hiệu quả đồng vốn hợp lý Mặc dù đầu tư của khu vực nhà nước không thể có hiệu quả kinh tế cao như đầu tư của khu vực tư nhân, bởi vì trong rất nhiều trường hợp mục đích của đầu tư công không phải nhằm vào lợi nhuận và hiệu quả kinh
tế Tuy nhiên, điều này không thể biện minh cho việc đầu tư kém hiệu quả của khu vực nhà nước thời gian qua, tình trạng thất thoát, lãng phí, đầu
tư không hiệu quả vẫn còn phổ biến và gây bức xúc trong dư luận xã hội, số tiền phải xử lý về mặt kinh tế sau thanh tra, kiểm tra là rất lớn Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do: Quy hoạch,
kế hoạch đầu tư công bất cập, kỷ luật thấp; đầu
tư dàn trải, đầu tư cả vào những ngành, lĩnh vực
mà khu vực tư nhân có thể đảm nhiệm được; cơ cấu ngân sách bất cập, phân bổ, giải ngân vốn không đáp ứng được yêu cầu đầu tư; công tác quản lý đầu tư công chậm được khắc phục, cải thiện (phân cấp đầu tư, bố trí vốn đầu tư, lựa chọn
Correlations
Trang 8nhà thầu, vận hành kết quả đầu tư,…); công tác
kiểm tra, giám sát còn nhiều hạn chế
4 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã nêu rõ,
sau 30 năm thực hiện Đổi mới và 05 năm thực
hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm
2020; nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách
thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế
vĩ mô dần ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng
trưởng kinh tế tuy thấp hơn 5 năm trước, nhưng
vẫn đạt tốc độ khá và có chiều hướng phục hồi,…
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại đồng bộ,
tổng thể nền kinh tế và các ngành, các lĩnh vực
gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung
vào các lĩnh vực quan trọng: Cơ cấu lại đầu tư với
trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài
chính với trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương
mại và các tổ chức tài chính, từng bước cơ cấu lại
ngân sách nhà nước; cơ cấu lại và từng bước xử
lý có hiệu quả nợ xấu.,… Ngoài ra, trong giai đoạn
tới Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ các cam
kết trong cộng đồng ASEAN, CPTPP và WTO
với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn
trước vừa tạo ra thời cơ, cơ hội nhưng cũng đặt
ra không ít thách thức đòi hỏi cần phải vượt qua
Trước những bối cảnh này, để nâng cao hiệu quả
đầu tư công, các cơ quan quản lý cần thực hiện
một số giải pháp sau:
Một là: Nâng cao chất lượng công tác lập kế
hoạch đầu tư công vì nguồn lực của Nhà nước
cho hoạt động đầu tư công luôn bị giới hạn, trong
khi đó đầu tư công phải được thực hiện với nhiều
mục tiêu khác nhau Luôn có tình trạng mất cân
đối giữa nhu cầu đầu tư và nguồn lực sẵn sàng để
đầu tư Để giải quyết tình trạng này thì công tác kế
hoạch đầu tư công là công cụ quan trọng của Nhà
nước để quản lý đầu tư công nói chung và đảm
bảo đầu tư công có hiệu quả trên phạm vi tổng thể
nền kinh tế Đầu tư công theo kế hoạch được lập
một cách khoa học và đáp ứng yêu cầu của thực
tiễn sẽ giúp Nhà nước chủ động trong việc cân
đối, bố trí nguồn lực kịp thời, đảm bảo tiến độ đầu
tư, sớm đưa kết quả đầu tư vào vận hành, khai
thác, góp phần đảm bảo hiệu quả đầu tư
Hai là: Điều chỉnh cơ cấu đầu tư công theo nguyên
tắc phân bổ và sử dụng hợp lý tuân thủ nguyên tắc
Nhà nước đầu tư chỉ vào các lĩnh vực mà khu vực
tư nhân không thể thực hiện, chưa đủ khả năng
thực hiện hoặc không muốn thực hiện do không
đạt được hiệu quả tài chính; khu vực tư nhân đầu
tư vào các lĩnh vực đạt được hiệu quả tài chính,
trong đó có thể bao gồm cả các dự án tham gia, phối hợp với Nhà nước theo cơ chế PPP Đầu tư công không thể đạt được hiệu quả tài chính cao hơn đầu tư tư nhân nhưng lại có hiệu quả về kinh
tế - xã hội - môi trường Việc xác định tỷ trọng đầu
tư công trong tổng đầu tư toàn xã hội hợp lý, phù hợp phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể tương ứng với từng giai đoạn phát triển
Ba là: Cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng
giảm chi thường xuyên và chi đầu tư không dàn trải Thực tế hiện nay chi đầu tư dàn trải ở trong
đó có những ngành, lĩnh vực mà khu vực kinh tế
tư nhân có thể thực hiện được và đảm bảo được hiệu quả tài chính… đã tác động tiêu cực, dẫn đến hiệu quả đầu tư công rất thấp trong thời gian vừa qua Việc chấp hành các nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn kế hoạch chưa nghiêm, dẫn đến phải
bổ sung, sửa đổi phương án phân bổ vốn nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện đầu tư Giai đoạn vừa qua, Chính phủ đã phải thường xuyên
sử dụng công cụ trái phiếu kể cả tần suất lẫn quy
mô để huy động vốn đầu tư công là do phải tài trợ cho quá nhiều chương trình mục tiêu Do đó, cơ cấu lại ngân sách nhà nước gắn liền với tái cơ cấu đầu tư công sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đầu
tư công một cách tổng thể, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô
Bốn là: Nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát
và công khai, minh bạch trong đầu tư công Về nguyên tắc, công tác kiểm tra, giám sát, công khai, minh bạch phải được thực hiện thường xuyên, liên tục ở tất cả các khâu từ chủ trương, quyết định đầu tư cho đến kết thúc quá trình đầu tư, đưa công trình vào sử dụng, khai thác Tuy nhiên, thực
tế công tác thanh tra, kiểm tra các chương trình,
dự án đầu tư công hiện nay bị phân tán và chủ yếu được thực hiện bởi cơ quan thanh tra, kiểm toán, tài chính đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát đầu tư công Công tác thanh tra, kiểm tra chủ yếu được thực hiện sau khi dự án
đã kết thúc và theo các chương trình, kế hoạch, chuyên đề nên khi phát hiện ra sai phạm gây thất thoát, lãng phí, tham nhũng, đầu tư không hiệu quả Vì vậy, để có thể nâng cao được hiệu quả đầu tư công, đi đôi với biện pháp tăng cường công tác quản lý ở tất cả các khâu thì cần phải nâng cao năng lực, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thực hiện công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình một cách thực chất, hiệu quả
Năm là: Thành lập tổ chức tư vấn độc lập đánh
giá, thẩm định trước khi phê duyệt, khi điều chỉnh chương trình, dự án đầu tư công trên cơ sở
Trang 9nghiên cứu áp dụng các chuẩn mực quốc tế về
thẩm định dự án đối với tất cả các dự án đầu tư
công để đảm bảo tính chuyên nghiệp, mặt khác
đảm bảo tính công khai, minh bạch, khách quan
trong quá trình thẩm định, hạn chế việc bị tác động
bởi lợi ích nhóm, cục bộ Đối với những dự án có
tầm quan trọng và quy mô đặc biệt thì cần thành
lập hội đồng thẩm định với đầy đủ các thành phần,
ưu tiên thành phần là tổ chức tư vấn, chuyên gia
độc lập
5 KẾT LUẬN
Đầu tư công có tác động tích cực đến tăng trưởng
kinh tế và giảm nghèo, mức độ tác động của
đầu tư công là một trong thước đo phản ánh tính
hiệu quả của đầu tư công Kinh nghiệm của một
số quốc gia cho thấy, việc tạo dựng môi trường
thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh
và nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện phúc
lợi xã hội là tiêu chí quan trọng trong đánh giá
hiệu quả đầu tư công Dưới giác độ quản lý, đầu
tư công chỉ được coi là hiệu quả khi có đủ năng
lực và kỷ luật thực hiện ở tất cả các giai đoạn của
quá trình đầu tư Để đảm bảo hiệu quả, đầu tư
công cần phải được thực hiện hài hòa với khung
chính sách phát triển kinh tế - xã hội và cần được
bổ trợ bằng các chính sách trong đó đòi hỏi sự
điều phối và phối hợp hiệu quả của các cơ quan
liên quan Ngoài ra, tính độc lập, khách quan trong
thẩm định, đánh giá dự án đầu tư công sẽ hạn chế
được những ảnh hưởng mang tính chính trị, lợi
ích nhóm, giảm tình trạng tham nhũng góp phần
nâng cao hiệu quả đầu tư công
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Trần Nguyễn Ngọc Anh và đồng sự (2014) Tác
động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam: Góc nhìn thực nghiệm mô hình ARDL Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 19 (24),
11-12/2014.
[2 Chính phủ (2015) Báo cáo tình hình kinh tế -
xã hội năm 2015 và 5 năm 2011-2015; phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2016-2020 và năm 2016
Hà Nội.
[3] Nguyễn Thế Bính (2015) 30 năm hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam: Thành tựu, thách thức và những bài học Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số
22 (32), tháng 5-6/2015.
[4] Vũ Sỹ Cường (2014) Cơ chế phân bổ vốn đầu tư
nhà nước: Thực trạng và giải pháp thể chế http//
www: dl.ueb.edu.vn.
[5] Phạm Minh Hóa (2017) Nâng cao hiệu quả đầu tư
công ở Việt Nam Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường
Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
[6] https://www.gso.gov.vn/
[7] http://tapchitaichinh.vn/kinh-te-vi-mo/kinh-te-dau- tu/nam-2016-tong-von-dau-tu-toan-xa-hoi-giai-ngan-gan-15-trieu-ty-dong-100029.html.
[8] http://tinnhanhchungkhoan.vn/dau-tu/tong-von- dau-tu-toan-xa-hoi-thuc-hien-ca-nam-gan-167-trieu-ty-dong-213658.html.
[9] Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (2016) Báo
cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2016 Hà Nội.
[10] Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (2017) Báo
cáo tình hình kinh tế xã hội năm 2017 Hà Nội.