1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tương đồng và khác biệt trong cảm nhận của giáo viên, cán bộ quản lí về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

8 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về Đổi mới giáo dục và đào tạo cơ bản và toàn diện, đáp ứng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đã đạt được những thành tựu đáng kể. Để tiếp tục thực hiện hiệu quả hướng dẫn quan trọng này, chúng tôi đã nghiên cứu và khảo sát để hiểu thực tế về sự khác biệt và tương đồng trong nhận thức của giáo viên và nhà quản lý về các vấn đề đổi mới cơ bản và cơ bản của giáo dục và đào tạo trong việc thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp của độ phân giải.

Trang 1

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG CẢM NHẬN

CỦA GIÁO VIÊN, CÁN BỘ QUẢN LÍ VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN,

TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Nguyễn Kim Sơn - Nguyễn Quý Thanh - Dương Thị Hoàng Yến Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội

Ngày nhận bài: 05/9/2019; ngày chỉnh sửa: 07/10/2019; ngày duyệt đăng: 14/10/2019

Abstract: Implementing Resolution No 29-NQ/TW of the Central Executive Committee on

“Basic and comprehensive renovation of education and training, meeting industrialization and

modernization in the context of market economy, socialist orientation and international

integration”, which has achieved remarkable achievements In order to further effectively

implement this important guideline, we have studied and surveyed to understand the reality of the

differences and similarities in the perception of teachers and managers on basic and fundamental

innovation issues of education and training in the implementation of the tasks and solutions of the

Resolution

Keywords: Basic and fundamental innovation, similarity, perception, teachers, manager

1 Mở đầu

Công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện GD-ĐT

được khởi xướng vào cuối năm 2013 đến nay đã tạo ra

nhiều biến đổi lớn trong tất cả các hoạt động của các lực

lượng giáo dục bao gồm các nhà trường từ mầm non đến

đại học Việc tìm hiểu những khác biệt và tương đồng

trong cảm nhận của giáo viên, giảng viên các cấp bậc

giáo dục (gọi ngắn gọn là giáo viên - GV) và cán bộ lãnh

đạo, quản lí giáo dục (gọi ngắn gọn là cán bộ quản lí -

CBQL) về đổi mới căn bản và toàn diện GD-ĐT (gọi

ngắn gọn là đổi mới giáo dục) là rất quan trọng và cần

thiết để có thể phát hiện ra những mặt được cần phát huy

và những mặt chưa được cần kịp thời giải quyết trong

thời gian tới GV và CBQL giáo dục là hai trong các chủ

thể và khách thể của đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT

Cảm nhận của GV và CBQL đối với việc thực hiện các

mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới giáo dục phản

ánh những gì đạt được và chưa đạt được trong quá trình

thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW (gọi tắt là NQ29)

[1] Đồng thời, cảm nhận của GV và CBQL giáo dục cho

biết những thuận lợi và khó khăn cần tính đến để có

những biện pháp nhất định cho việc tiếp tục đổi mới giáo

dục trong thời gian tới

Mô hình các nhân tố quyết định hoạt động học tập đã

nhấn mạnh gồm nhân tố “GV” cùng với ba nhân tố khác

là “người học”, “các đầu vào của nhà trường” và “quản

lí nhà trường” trong đó có nhân tố “CBQL giáo dục”

Theo Lí thuyết quy gán được khởi xướng bởi Fritz

Heider (1958), cảm nhận của GV và CBQL không hoàn

toàn tương đồng mà có những khác biệt nhất định Điều

này phụ thuộc rất nhiều vào vị trí, vai trò của GV và

CBQL khi thực hiện từng nhiệm vụ, giải pháp nhất định của quá trình đổi mới giáo dục Theo Lí thuyết quy gán,

có sự khác biệt xuôi khi người trong cuộc luôn có xu hướng ghi nhận thành công của họ nhiều hơn người ngoài cuộc, trong khi người ngoài cuộc luôn tỏ ra khắt khe khi ghi nhận những kết quả (KQ) của người trong cuộc Trong quá trình thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, GV là lực lượng trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới giáo dục nhằm mục tiêu hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực ở người học Do vậy, một giả thuyết nghiên cứu có thể nêu ra ở đây là luôn

có sự khác biệt xuôi khi tỉ lệ GV luôn cao hơn tỉ lệ CBQL trong cảm nhận về những “KQ như mong muốn” và “KQ tốt” trong việc thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp đổi mới giáo dục mà GV là người trong cuộc trực tiếp thực hiện Tương đồng ngược xảy ra khi tỉ lệ GV ít hơn so với

tỉ lệ CBQL trong cảm nhận về những KQ như mong muốn và KQ tốt trong thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể của đổi mới giáo dục

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Sự tương đồng và khác biệt trong tiếp cận thông tin

về đổi mới giáo dục: Sử dụng kênh truyền thông về Nghị quyết số 29-NQ/TW đến giáo viên và cán bộ quản lí

KQ khảo sát 1.754 GV và CBQL giáo dục (từ tháng 9/2018 đến tháng 6/2019, trên địa bàn các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Nam Định, Phú Thọ, Thái Nguyên, Điện Biên, Nghệ An, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, Đồng Tháp, TP Hồ Chí Minh) cho thấy: chỉ một tỉ lệ rất nhỏ (dưới 1%) GV và CBQL “chưa từng nghe đến” NQ29 và khoảng 4% “chưa từng nghe đến” Nghị quyết

số 44/NQ-CP ngày 9/6/2014 của Chính phủ [2] (gọi tắt

Trang 2

là NQ44) (bảng 1) Trong 9 hình thức, phương tiện

truyền thông, phổ biến nhất và thu hút được nhiều người

tiếp cận nhất là “Các hội nghị, hội thảo, cuộc họp”, tiếp

đến là “Văn bản của ngành, của trường” và “Báo hoặc

trang tin trên Internet”

Các cuộc phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm với

CBQL và GV ở các địa bàn khảo sát cho biết các nội dung

cụ thể, chi tiết của NQ29 chưa tới được tất cả các CBQL

giáo dục, các GV và người lao động ở các cơ sở GD-ĐT từ

mầm non đến đại học Ở nhiều địa bàn khảo sát, chỉ đến khi

có đoàn nghiên cứu đánh giá về thực hiện Nghị quyết đến làm việc thì các thầy cô giáo và cán bộ lãnh đạo, quản lí giáo dục mới được nhận văn bản Nghị quyết

Như vậy, việc tổ chức tuyên truyền, học tập các Nghị quyết được triển khai thống nhất, tập trung từ trên xuống dưới với vai trò chỉ đạo sát sao của các tổ chức đảng dưới nhiều hình thức truyền thông phong phú đa dạng, nhưng chưa đảm bảo cho mỗi người có liên quan nhận thức và tham gia đầy đủ, kịp thời, nên có ảnh hưởng đến việc triển khai NQ29 tại mỗi cơ sở giáo dục, địa phương

Bảng 1 Tỉ lệ (%) GV và CBQL biết NQ29 và NQ44 về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT

thông qua các hình thức và phương tiện truyền thông

Chung GV CBQL Chung GV CBQL

1 Các hội nghị, hội

thảo, cuộc họp 3,6 49,8 46,6 3,5 49,4 47,1

2 Báo in 4,1 44,7 51,2 3,9 44,8 51,3

3 Đài phát thanh 3,7 44,7 51,6 3,5 44,4 52,2

4 Truyền hình 3,5 49,7 46,9 3,5 48,7 47,7

5 Báo hoặc trang tin

trên Internet 3,8 50,8 45,4 3,7 50,7 45,6

6 Facebook 2,1 53,6 44,2 2,0 57,4 40,7

7 Trao đổi trực tiếp

với bạn bè, người thân 3,5 48,6 47,9 2,9 49,4 47,7

8 Các văn bản của

ngành, của trường 3,6 50,6 45,8 3,4 50,5 46,1

9 Hình thức và

phương tiện khác 3,0 48,9 48,1 2,5 49,7 47,8 Chưa từng nghe đến 8,3 58,3 33,3 9,2 58,5 32,3

Nguồn: KQ khảo sát của Đề tài

2.2 Sự tương đồng và khác biệt trong tham gia thực

hiện đổi mới giáo dục: Về tham gia triển khai Nghị

quyết số 29-NQ/TW

Bảng 2 Tỉ lệ (%) GV và CBQL thường xuyên tham gia các hoạt động thực hiện NQ29

Thành phần khảo sát

Thảo luận xây dựng chương trình thực hiện

Tham gia học tập Tham gia các

hoạt động thực hiện Chung

Bảng 3 Tỉ lệ (%) GV và CBQL “thường xuyên” tham gia các khóa bồi dưỡng

nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ

GV

Phương

pháp giảng

dạy

Phương pháp nghiên cứu khoa học

Kĩ năng quản lí, quản trị

Kiến thức chuyên môn

Ngoại ngữ phục vụ chuyên môn

Công nghệ thông tin

Kĩ năng tham vấn học đường

Chung

GV 55,3 59,6 47,6 54,3 56,4 55,9 63,4

CBQL 41,8 37,2 50,3 42,5 39,5 41,5 34,6

Chung 2,9 3,2 2,0 3,2 4,1 2,6 2,1

Trang 3

Bảng 4 Tỉ lệ (%) GV và CBQL thường xuyên đổi mới phương pháp và nghiệp vụ sư phạm

GV

Lồng

ghép giáo

dục lối

sống

Đánh giá theo chuẩn đầu ra

Chú trọng phát triển năng lực

Hướng nghiệp cho học sinh

Áp dụng công nghệ thông tin

Dạy học cá nhân hóa

Dạy học tích hợp liên ngành

Sử dụng phòng học thông minh

Chung

GV 52,7 53,4 53,3 55,4 52,7 53,6 54,1 62,1

CBQL 43,6 42,9 42,7 41,3 44,0 42,8 42,4 34,7

Chung 3,8 3,7 4,0 3,3 3,3 3,6 3,4 3,3

Bảng 5 Cảm nhận của GV và CBQL về hành vi “dạy thêm, học thêm” (%)

Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng

Thường xuyên Missing Tổng

GV 54,9 11,5 22,5 9,3 1,6 43,4 CBQL 51,6 14,5 25,8 6,5 1,6 3,7 Chung 53,6 10,9 21,0 13,3 1,1 52,9

Bảng 6 Cảm nhận của GV và CBQL về hành vi “Đánh, chửi người học” (%)

Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên Missing Tổng

CBQL 86,5 8,5 3,2 1,2 0,5 43,4 Chung 85,5 8,1 4,8 1,6 0,0 3,7

2.3 Cảm nhận chung về “kết quả tốt” trong quá trình

thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới giáo dục và

đào tạo

KQ khảo sát 1.754 GV và CBQL tại 12 địa phương về đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản đổi

mới căn bản, toàn diện được trình bày trong bảng 7

Bảng 7 Tỉ lệ (%) ý kiến GV và cán bộ đánh giá “KQ tốt” trong thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chính trong NQ29

Giải

pháp Tên giải pháp (nội dung) Chung GV CBQL

1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lí của Nhà nước với nhận

thức của cán bộ, GV về đổi mới giáo dục 2,8 54,4 42,9

2 Đổi mới chương trình giáo dục, chương trình đào tạo theo hướng coi

trọng phẩm chất, phát huy năng lực người học 3,0 59,5 37,5

3 Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá

KQ GD-ĐT, bảo đảm trung thực, khách quan 3,4 61,9 34,6

4 Phát triển đội ngũ GV và CBQL, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD-ĐT 2,4 59,7 37,9

5 Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo

dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập 2,7 61,0 36,2

6

Đổi mới căn bản công tác quản lí GD-ĐT, bảo đảm dân chủ, thống

nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở

GD-ĐT; coi trọng quản lí chất lượng 2,7 58,9 38,4

7 Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp

của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển GD-ĐT 3,4 60,2 36,4

8 Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học,

công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lí 2,8 61,7 35,5

9 Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong GD-ĐT 3,4 60,9 35,6

Trang 4

Từ đó có thể thấy: Chỉ một tỉ lệ rất nhỏ (0,5-3,5%) số

người được khảo sát đánh giá rằng 9 nội dung cơ bản của

các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện

GD-ĐT “chưa được triển khai” Bình quân có khoảng 2% số

người được khảo sát tỏ ra “Không biết, khó trả lời” khi

được đề nghị đánh giá việc thực hiện 9 nội dung cơ bản

của các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện

GD-ĐT Tính trung bình chỉ gần 29% số người được

khảo sát đánh giá việc triển khai các nhiệm vụ, giải pháp

đạt “KQ tốt”; trên 34% đánh giá việc triển khai các nhiệm

vụ, giải pháp đạt “KQ như mong muốn” và gần 34%

đánh giá “KQ chưa như mong muốn” Như vậy, tính

trung bình có gần 63% số người được khảo sát đánh giá

việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trong NQ29 đạt

“KQ như mong muốn” và “KQ tốt” và khoảng 1/3 ý kiến

đánh giá “KQ chưa như mong muốn” Hai nhóm nhiệm

vụ, giải pháp được nhiều ý kiến nhất đánh giá là thực hiện

đạt KQ “tốt” và “như mong muốn” là Giải pháp 1 với

73,3% và Giải pháp 2 với 69,6% Việc thực hiện nhiệm

vụ, Giải pháp 7 chỉ được gần 52% ý kiến đánh giá là đạt

“KQ tốt” và “KQ như mong muốn” Chỉ 55,5% ý kiến

đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, Giải pháp 9 đã đạt “KQ

như mong muốn” và “KQ tốt”

2.3.1 Cảm nhận về thực hiện các nhiệm đổi mới căn bản,

toàn diện giáo dục và đào tạo về tăng cường sự lãnh đạo

của Đảng, quản lí của Nhà nước

Bảng 8 cho thấy CBQL giáo dục có thể khắt khe hơn

GV khi đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ “Tăng cường

sự lãnh đạo của Đảng, quản lí của Nhà nước” về đổi mới

giáo dục Có tới 25,5% CBQL và 23,3% GV đánh giá

nhiệm vụ này đạt “KQ chưa như mong muốn” Trong khi

tỉ lệ cán bộ luôn ít hơn tỉ lệ GV đánh giá nhiệm vụ này

đạt “KQ như mong muốn” và đạt “KQ tốt”

2.3.2 Về đổi mới căn bản công tác quản lí giáo dục, bảo

đảm dân chủ

Một biểu hiện cụ thể của đổi mới căn bản công tác

quản lí giáo dục là thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Ban Cán sự đảng Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo các cơ quan, đơn

vị trong toàn ngành xây dựng và thực hiện quy chế có hiệu quả Việc thực hiện quy chế dân chủ đã góp phần xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ GV về phẩm chất, đạo đức, lối sống và năng lực chuyên môn nghiệp vụ, phát huy tiềm năng lao động sáng tạo của mỗi cán bộ, công chức trong công tác và quản lí Một số biểu hiện tiêu cực, mất dân chủ trong nhà trường đã từng bước được ngăn chặn và giải quyết kịp thời, làm giảm các khiếu kiện vượt cấp [3] Các cơ quan quản lí và cơ sở GD-ĐT rất chú trọng thực hiện quy chế dân chủ cơ sở Các báo cáo tổng kết đánh giá hoạt động của các đơn vị đều có nội dung về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

KQ khảo sát về nhiệm vụ đổi mới công tác quản lí giáo dục cho thấy có sự tương đồng nhất định giữa GV

và CBQL khi hai nhóm này có tỉ lệ không quá khác nhau (36,7% và 34,6%) cho rằng nhiệm vụ này đạt “KQ như mong muốn” Nhưng sự khác biệt lớn thể hiện rõ qua tỉ

lệ gần 30% GV và trên 37% cán bộ cho rằng việc “đổi mới căn bản công tác quản lí giáo dục” đạt “KQ chưa như mong muốn”; đồng thời có sự khác biệt lớn khi 31,7% GV và 25,7% cán bộ đánh giá nhiệm vụ này đạt

“KQ tốt” (bảng 9)

2.3.3 Về tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu

tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học

Kết quả khảo sát cho thấy, 1/3 GV và CBQL giáo dục được khảo sát trong cả nước đã đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ “Đổi mới chương trình giáo dục, chương trình đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, phát huy năng lực người học” đã đạt “KQ tốt” và “KQ như mong muốn” Tuy nhiên, tỉ lệ cán bộ luôn ít hơn

so với tỉ lệ GV khi đánh giá như vậy, ví dụ 29,2% cán

bộ và trên 37,2% GV đánh giá nhiệm vụ này đạt “KQ tốt” Nhưng, ngược lại, có 27,2% GV, ít hơn hẳn so với 36,4% CBQL cảm nhận rằng việc thực hiện nhiệm

vụ “đổi mới chương trình giáo dục…” đạt “KQ chưa

như mong muốn” (bảng 10)

Bảng 8 Tỉ lệ (%) GV và cán bộ đánh giá việc “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lí của Nhà nước

với nhận thức của cán bộ, GV về đổi mới giáo dục”

Đối tượng Chưa được

triển khai

KQ chưa như mong muốn

KQ như mong muốn

KQ tốt

Không biết, không có

ý kiến

Missing Tổng

GV 0,7 23,3 33,5 39,2 2,4 0,8 100 CBQL 0,3 25,5 33,1 38,4 1,0 1,8 100 Tổng 0,5 23,9 33,1 38,9 1,7 1,8 100

Cramer's V = 0,142 (Approx Sig < 0,05)

Trang 5

2.3.4 Về đổi mới hình thức và phương pháp thi, kiểm tra

và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo

Đổi mới chương trình GD-ĐT gắn liền với đổi mới

hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá

KQ GD-ĐT bảo đảm trung thực, khách quan KQ khảo

sát cho thấy có sự khác biệt xuôi khi có tới 38,3% GV

nhiều hơn hẳn so với 26,6% CBQL đánh giá việc thực

hiện nhiệm vụ này đã đạt KQ tốt Sự khác biệt xuôi

cũng thể hiện rõ khi có 26,5% GV, ít hơn tỉ lệ 33,5%

CBQL đánh giá “KQ chưa như mong muốn” Nhưng

có sự khác biệt đảo ngược là tỉ lệ 32,9% GV ít hơn so

với tỉ lệ 37,6% CBQL đánh giá việc “Đổi mới căn bản

hình thức và phương pháp thi, kiểm tra…” đã đạt “KQ

như mong muốn”

2.3.5 Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập

Có sự tương đồng rõ rệt giữa GV và CBQL giáo dục trong cảm nhận về “KQ như mong muốn” của việc

“Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở…” Khác biệt xuôi thể hiện rõ ở cảm nhận về “KQ tốt” và “KQ chưa như mong muốn” Tuy nhiên, trong sự khác biệt xuôi này vẫn có sự tương đồng rất rõ cần ghi nhận là cả hai nhóm GV và CBQL giáo dục đều có tỉ lệ ít, trung bình là chưa đến 1/4 (22,6%) cảm nhận việc “Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống mở…” đã đạt KQ tốt Qua phỏng vấn cá nhân và thảo luận nhóm, đa số GV và CBQL chỉ quan tâm tới “hệ thống giáo dục đóng” với những học sinh

Bảng 9 Tỉ lệ (%) GV và cán bộ đánh giá việc “Đổi mới căn bản công tác quản lí GD-ĐT, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GD-ĐT; coi trọng quản lí chất lượng”

Đối tượng Chưa được

triển khai

KQ chưa như mong muốn

KQ như mong muốn

KQ tốt

Không biết, không có

ý kiến

Missing Tổng

GV 1,1 26,9 36,7 31,7 2,7 0,8 100 CBQL 1,0 37,3 34,6 25,7 0,8 0,7 100 Tổng 1,0 30,3 35,7 29,8 1,8 1,4 100

Cramer's V = 0,207 (Approx Sig < 0,05)

Bảng 10 Tỉ lệ (%) GV và cán bộ đánh giá việc “Đổi mới chương trình giáo dục, chương trình đào tạo

theo hướng coi trọng phẩm chất, phát huy năng lực người học”

Đối tượng Chưa được

triển khai

KQ chưa như mong muốn

KQ như mong muốn

KQ tốt

Không biết, không có

ý kiến

Missing Tổng

GV 0,4 27,2 33,5 37,2 1,4 0,3 100 CBQL 0,5 36,4 32,6 29,2 0,0 1,2 100 Tổng 0,5 30,3 33,2 34,0 0,7 1,3 100

Cramer's V = 0,193 (Approx Sig < 0,05)

Bảng 11 Tỉ lệ (%) GV và cán bộ đánh giá việc “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra

và đánh giá KQ GD-ĐT, bảo đảm trung thực, khách quan”

Đối tượng Chưa được

triển khai

KQ chưa như mong muốn

KQ như mong muốn

KQ tốt

Không biết, không có ý kiến

Missing Tổng

GV 0,5 26,5 32,9 38,3 1,3 0,4 100 CBQL 0,4 33,5 37,6 26,6 0,8 1,1 100 Missing 0,0 7,7 43,6 35,9 0,0 12,8 100 Tổng 0,5 28,6 35,3 33,4 1,0 1,3 100

Cramer's V = 0,193 (Approx Sig < 0,05)

Trang 6

đang đến trường, mà không để ý đến giáo dục theo hướng

mở đối với những thanh thiếu niên không đến trường,

không biết, không quan tâm đến, ví dụ tỉ lệ đi học đúng

tuổi của dân số trong độ tuổi đến trường các cấp bậc giáo

dục từ mầm non đến đại học

2.3.6 Về phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí,

đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo

Nhiệm vụ phát triển đội ngũ GV và CBQL đáp ứng

yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT không chỉ trực

tiếp liên quan đến các GV và CBQL mà còn có ý nghĩa

quyết định đối với KQ của tất cả các nhiệm vụ khác Tuy

nhiên, chỉ 1/3 GV (33,1%) và trên 1/4 (26,5%) CBQL

đánh giá KQ tốt đối với nhiệm vụ rất quan trọng và cần

thiết này trong đổi mới giáo dục Có một sự tương đồng

nhất định giữa GV và CBQL khi gần 36% GV và 33,5%

CBQL (thực hiện nhiệm vụ) đạt được “KQ như mong

muốn” Sự khác biệt rất rõ khi gần 27% GV và 37%

CBQL cho biết “KQ chưa như mong muốn” Điều này

chứng tỏ thêm rằng, cần phải thực sự quan tâm và đầu tư

nhiều hơn nữa đối với nhiệm vụ phát triển đội ngũ GV và

CBQL bởi vì đây là lực lượng trực tiếp thực hiện tất cả các

nhiệm vụ khác của đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT

2.3.7 Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự

tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả

đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo

Kết quả khảo sát chỉ ra rằng, có 24% GV và 17,8% CBQL cảm nhận rằng “Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính… “và chưa đến 1/3 GV và CBQL đánh giá “KQ như mong muốn” Trong khi đó, gần 40% GV và 51% CBQL cho biết nhiệm vụ đổi mới chính sách, cơ chế tài chính đạt

“KQ chưa như mong muốn” Cảm nhận như vậy của

GV và CBQL là có cơ sở khi tỉ trọng đầu tư của Nhà nước cho GD-ĐT mặc dù có tăng và đạt mức cao so với một nước còn nghèo nhưng cơ cấu đầu tư chưa hợp

lí và mức đầu tư trên đầu người học còn thấp Ví dụ, năm 2012 chi tiêu công cho GD-ĐT của Việt Nam đạt 6,3%, cao hơn mức chi tiêu của nhiều nước khác trong khu vực như Singapore (3,2%, năm 2010), Malaysia (5,1%), Thái Lan (3,8%), Hàn Quốc (5,2%, năm 2011), Hồng Kông (3,5%) Năm 2014, trong cơ cấu chi tiêu công cho GD-ĐT của Việt Nam, chi tiêu cho giáo dục mầm non chỉ chiếm 8,2%, giáo dục tiểu học 28,3%, trung học cơ sở 21,6%, trung học phổ thông 11,1%, nhưng cao đẳng và đại học là 12,4% Tuy nhiên, mức đầu tư bình quân một sinh viên Việt Nam chỉ đạt 630 đô la/người/năm chỉ bằng 1/4 mức đầu tư của Thái Lan (2500 đô la) và bằng trên 1/5 so với

Trung Quốc (3500 đô la) Trong cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho GD-ĐT năm 2015, chi cho xây dựng cơ bản giảm chỉ còn gần 18% và còn lại gần 82% dành

Bảng 12 Tỉ lệ (%) GV và cán bộ đánh giá việc “Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân

theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập”

Đối tượng Chưa được

triển khai

KQ chưa như mong muốn

KQ như mong muốn

KQ tốt

Không biết, không có ý kiến

Missing Tổng

GV 2,3 33,7 35,3 24,7 3,1 1,0 100 CBQL 0,8 40,6 36,5 18,2 2,5 1,4 100 Tổng 1,6 35,9 35,5 22,6 2,8 1,7 100

Cramer's V = 0,168 (Approx Sig < 0,05)

Bảng 13 Tỉ lệ (%) GV và cán bộ đánh giá việc “Phát triển đội ngũ GV và CBQL,

đáp ứng yêu cầu đổi mới GD-ĐT”

Đối tượng Chưa được

triển khai

KQ chưa như mong muốn

KQ như mong muốn

KQ tốt

Không biết, không có ý kiến

Missing Tổng

GV 1,0 26,9 35,9 33,1 2,4 0,7 100 CBQL 0,7 37,0 33,5 26,5 0,8 1,5 100 Tổng 0,8 31,3 34,3 30,3 1,7 1,6 100

Cramer's V = 0,167 (Approx Sig < 0,05)

Trang 7

cho chi tiêu thường xuyên Do vậy, trên phạm vi cả

nước, tỉ lệ phòng học tạm chiếm gần 1/3 và chỉ khoảng

20% phòng học được trang cấp thiết bị hiện đại Chủ

trương phổ cập giáo dục trung học cơ sở đã được quyết

từ lâu nhưng mãi đến tháng 8/2018 chủ trương này

mới được Chính phủ quyết định thực hiện Cơ chế

chính sách xã hội hóa giáo dục và tự chủ đại học mặc

dù đã được thể chế hóa trong pháp luật về giáo dục

nhưng trên thực tế vẫn còn rất nhiều vấn đề cần được

nghiên cứu và đổi mới căn bản, toàn diện theo hướng

đầu tư cho GD-ĐT là đầu tư phát triển

2.3.8 Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và

ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học

giáo dục và khoa học quản lí

Một nhiệm vụ, biện pháp cơ bản của đổi mới căn bản,

toàn diện GD-ĐT là “Nâng cao chất lượng, hiệu quả

nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ…” Nhiệm

vụ này được nêu ra trước cả khi xuất hiện khái niệm đang

“mốt” bây giờ là “Cuộc Cách mạng 4.0”, “cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, song, chỉ trên 1/4 (26,3%)

GV và gần 19% CBQL giáo dục cảm nhận rằng nhiệm

vụ này đã đạt KQ tốt Có sự tương đồng rõ ràng trong cảm nhận của khoảng 1/3 GV và CBQL đánh giá nhiệm

vụ này đạt “KQ như mong muốn” Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn giữa GV và CBQL trong cảm nhận về KQ chưa như mong muốn Trên thực tế, do nhiều nguyên nhân,

các cơ sở giáo dục của Việt Nam bao gồm cả cơ sở giáo dục đại học chủ yếu thực hiện chức năng GD-ĐT, còn chức năng nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ được dành chủ yếu cho các cơ sở nghiên cứu khoa học Ngay cả các cơ sở khoa học được thành lập trong các cơ

sở giáo dục đại học cũng chủ yếu làm nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ GD-ĐT Có lẽ với quan niệm như vậy cùng với cơ chế chính tài chính đang đổi mới nên khoa học giáo dục và khoa học quản lí chưa được đầu tư nghiên cứu một cách có hiệu quả

Bảng 14 Tỉ lệ (%) GV và cán bộ đánh giá việc “Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính,

huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển GD-ĐT”

Đối tượng Chưa được

triển khai

KQ chưa như mong muốn

KQ như mong muốn KQ tốt

Không biết, không có ý kiến Missing Tổng

GV 1,5 39,7 31,0 24,0 2,7 1,1 100 CBQL 1,5 50,9 27,6 17,8 1,4 0,8 100 Tổng 1,5 44,0 29,5 21,4 2,2 1,4 100

Cramer's V = 0,157 (Approx Sig < 0,05)

Bảng 15 Tỉ lệ (%) GV và cán bộ đánh giá việc “Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu

và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lí”

Đối tượng Chưa được

triển khai

KQ chưa như mong muốn

KQ như mong muốn KQ tốt

Không biết, không có ý kiến Missing Tổng

GV 1,5 35,8 33,1 26,3 2,4 1,0 100 CBQL 1,1 42,8 34,3 18,8 1,8 1,2 100 Tổng 1,3 38,4 33,6 23,1 2,1 1,5 100

Cramer's V = 0,145 (Approx Sig < 0,05)

Bảng 16 Tỉ lệ (%) GV và cán bộ đánh giá việc “Chủ động hội nhập

và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong GD-ĐT”

Đối tượng Chưa được

triển khai

KQ chưa như mong muốn

KQ như mong muốn KQ tốt

Không biết, không có ý kiến Missing Tổng

GV 3,0 34,7 35,4 23,7 2,2 1,1 100 CBQL 3,8 42,5 32,9 17,0 2,9 0,8 100 Tổng 3,4 38,0 34,0 20,7 2,5 1,4 100

Cramer's V = 0,150 (Approx Sig < 0,05)

Trang 8

2.3.9 Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác

quốc tế trong giáo dục, đào tạo

Cảm nhận của GV và CBQL về nhiệm vụ “Chủ

động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế

trong GD-ĐT” cũng tương tự như với nhiệm vụ

nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ Chưa

đến 1/4 GV (23,7%) và chỉ 17% CBQL giáo dục cảm

nhận nhiệm vụ hội nhập, hợp tác quốc tế đã đạt KQ

tốt Khoảng 1/3 GV và CBQL có cảm nhận tương

đồng nhau khi cho rằng nhiệm vụ này đã đạt “KQ

như mong muốn”; nhưng 34,7% GV và 42,5% CBQL

cho biết nhiệm vụ này đạt KQ chưa như mong muốn

3 Kết luận

Sự tương đồng trong cảm nhận của GV và CBQL

giáo dục về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT thể

hiện rõ qua tỉ lệ trung bình khoảng 30% đánh giá các

nhiệm vụ, giải pháp đổi mới giáo dục đã đạt “KQ như

mong muốn” và “KQ tốt” Sự khác biệt xuôi trong

cảm nhận của GV và CBQL giáo dục thể hiện rõ qua

việc tỉ lệ GV luôn cao hơn tỉ lệ CBQL trong đánh giá

“KQ tốt” đối với các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới

giáo dục Sự tương đồng trong cảm nhận có thể được

giải thích là cả GV và CBQL giáo dục cùng là lực

lượng cơ bản, chủ chốt quyết định sự thành công của

đổi mới căn bản GD-ĐT Sự khác biệt xuôi được giải

thích là GV có vị trí, vai trò của người trong cuộc

trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, giải pháp đổi mới giáo

dục nhằm mục tiêu hình thành, phát triển phẩm chất,

năng lực cần thiết ở người học Sự khác biệt ngược

có thể xảy ra do CBQL giáo dục có thể cảm nhận họ

là người trực tiếp hơn so với GV trong việc thực hiện

nhiệm vụ, giải pháp nhất định của đổi mới GD-ĐT

Sự tương đồng và khác biệt trong cảm nhận của

GV và CBQL giáo dục về đổi mới căn bản, toàn diện

GD-ĐT cho thấy cả hai lực lượng giáo dục này cần

được tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện về nhận thức,

thái độ và hành vi để có thể tham gia nhiều hơn với

hiệu quả cao hơn trong thực hiện các nhiệm vụ, biện

pháp đổi mới đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT

Trong số đó, nổi bật nhất đối với GV là nâng cao trình

độ chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy và

nghiên cứu khoa học, phương pháp định hướng nghề

nghiệp và tư vấn học đường Trong khi đó, CBQL giáo

dục cần được nâng cao trình độ quản lí và quản trị giáo

dục, ngoại ngữ và định hướng nghề nghiệp

Lời cảm ơn: Nghiên cứu này là sản phẩm của đề

tài “Cơ sở khoa học của việc đề xuất hệ thống giải pháp thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện

GD-ĐT Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 44/NQ-CP” (Mã số

KHGD/16-20.ĐT.005) Tài liệu tham khảo

[1] Ban Chấp hành Trung ương (2013) Nghị quyết số

29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

[2] Chính phủ (2014) Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày

9/6/2014 về việc Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

[3] Đặng Đình Nam (2017) Dân chủ cơ sở là cốt lõi

trong đổi mới giáo dục, đào tạo

(http://baochinhphu.vn/Utilities/PrintView.aspx?dis tributionid=322216)

[4] World Bank (2018) World Development Report

2018: Learning to Realize Education’s Promise

Washington, DC: World Bank

[5] Bianchi, P - Labory, S (2018) The fourth industrial

revolution In Industrial Policy for the Manufacturing Revolution (pp 49-78) Edward Elgar Publishing

[6] Hafer, C L - Begue, L (2005) Experimental

Research on Just-World Theory: Problems, Developments, and Future Challenges

Psychological Bulletin, Vol 131(1), pp 128-167

[7] Nguyễn Xuân Hoà (2019) Phát triển năng lực

cán bộ quản lí giáo dục Việt Nam đáp ứng yêu cầu Cách mạng công nghiệp 4.0 Tạp chí Giáo dục, số

451, tr 5-9

[8] Phạm Văn Linh (chủ biên, 2015) Định hướng chiến

lược, giải pháp đột phá nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam NXB Chính trị

Quốc gia - Sự thật

[9] Nguyễn Trọng Khanh - Nguyễn Thị Thanh Huyền

(2019) Khó khăn và biện pháp khắc phục khi triển

khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới

Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 4, tr 289-292

Ngày đăng: 26/10/2020, 05:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w