1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu thiết kế mũ an toàn công nghiệp chống nóng phù hợp với điều kiện lao động ngoài trời ở Việt Nam

8 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 3,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết trình bày nghiên cứu thiết kế mũ an toàn công nghiệp chống nóng phù hợp với điều kiện lao động ngoài trời ở Việt Nam. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Để giám sát chất lượng

mũ an toàn công

nghiệp, Việt Nam đã

có các tiêu chuẩn như TCVN

2603-1987 và TCVN

6407-1998 từ khá lâu Năm 2012, để

tăng cường quản lý chất lượng

mũ an toàn công nghiệp, Bộ

Lao động - Thương binh và Xã

hội ban hành qui chuẩn QCVN

06:2012/BLĐTBXH, bắt buộc

áp dụng cho các nhà sản xuất,

xuất nhập khẩu mũ an toàn

công nghiệp

Năm 1985, ở Việt Nam đã

nghiên cứu thiết kế, chế tạo mũ

đạt tiêu chuẩn (dựa theo tiêu

chuẩn nước ngoài) Đến năm

2005, Viện Nghiên cứu Khoa

học kỹ thuật Bảo hộ lao động

đã xây dựng được một hệ

thống đánh giá chất lượng mũ

an toàn công nghiệp Đây là

một công trình có ý nghĩa lớn

trong việc giám sát chất lượng

mũ, đảm bảo an toàn cho

người lao động

Do đặc thù về khí hậu Việt

Nam là nhiệt đới gió mùa, việc

sử dụng mũ an toàn công

nghiệp (ATCN) có một số bất tiện như: nóng bức, ẩm do đổ

mồ hôi Do độ ẩm không khí cao, những hơi ẩm này không thoát ra được, gây cảm giác khó chịu dẫn đến làm giảm năng suất làm việc Mặt khác,

do cấu tạo mũ hiện nay của Việt Nam (chỉ xem xét những

mũ sản xuất đạt tiêu chuẩn chất lượng) thì không có lớp cách nhiệt, không có khe thông gió… Vì vậy, nhiệt độ trên đầu phía dưới mũ bao giờ cũng cao hơn so với nhiệt độ môi trường, gây tăng nhiệt cục bộ Nếu làm việc thời gian dài ngoài trời sẽ dẫn đến stress nhiệt, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và hiệu quả công việc Không thoải mái về nhiệt là một trong những nguyên nhân chủ yếu

mà công nhân không thích đội

mũ, dẫn đến nhiều tai nạn đáng tiếc xẩy ra khi làm việc Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu thiết

kế nào cải thiện tính chất nhiệt của mũ cũng như nâng cao khả năng chống nóng của mũ ATCN

Năm 2013, Viện nghiên cứu KHKT Bảo hộ lao động đã giao cho Trung tâm An toàn lao động thực hiện đề tài “Nghiên cứu thiết kế mũ an toàn công nghiệp chống nóng phù hợp với điều kiện lao động ngoài trời ở Việt Nam”, với mục tiêu: “Đưa ra được bản thiết kế mẫu mũ ATCN chống nóng phù hợp với lao động ngoài trời ở Việt Nam”

II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

 Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến khả năng chống nóng của mũ ATCN

 Tổng quan về kết cấu mũ, vật liệu sử dụng và hiệu quả chống nóng của mũ ATCN hiện nay:

- Tổng quan về kết cấu và vật liệu sử dụng của mũ ATCN

- Khảo sát nhiệt độ xung quanh ở phía dưới thân mũ và phía trên thân mũ khi công nhân đang sử dụng mũ ATCN (một vài công trình đang thi công xây dựng tại Hà Nội)

Nghiên cứu thiết kế mũ

an toàn công nghiệp chống nóng phù hợp với điều kiện lao động ngoài trời

ở Việt Nam

ThS Nguyan Thd Thu Thpy và CS Trung tâm An toàn lao đjng

Trang 2

 Đề xuất thiết kế mẫu mũ ATCN chống nĩng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

 Hồi cứu tiêu chuẩn, tài liệu

về mũ an tồn cơng nghiệp chống nĩng trong và ngồi nước

 Thực nghiệm

 Phương pháp tính tốn

bài tốn truyền nhiệt, thiết kế

và phân tích số liệu

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Khảo sát tình hình sử dụng mũ ATCN cho lao động ngồi trời (Xem bảng 1,2,3).

NhZn xét k^t quU khUo sát:

Đối với tất cả 5 loại mũ dùng khảo sát thì nhiệt độ đo trong

mũ trên đầu cơng nhân cao hơn hẳn nhiệt độ bên ngồi Tuy nhiên đối với 2 loại mũ A và

C, là loại mũ khơng cĩ xốp chống nĩng và cũng khơng cĩ thơng giĩ thì nhiệt độ chênh lệch giữa phía trong mũ và nhiệt độ ngồi trời cao hơn hẳn

2 loại mũ B và D, là loại mũ đã

cĩ chống nĩng và khe thơng giĩ và cao hơn nhiệt độ ngồi trời là >2 ÷ 30C Mũ B cĩ xốp chống nĩng, nhiệt độ phía trong giảm hơn hẳn, gần bằng với mũ cĩ khe thơng giĩ là mũ

D và cao hơn ngồi trời là >1 ÷

20C Mũ C và mũ E cĩ 18 lỗ thơng giĩ và cĩ tổng diện tích lỗ thơng giĩ là 127,17mm2 nhỏ hơn tổng diện tích 10 khe thơng giĩ của mũ D (180mm2) Do cấu tạo của lỗ thơng giĩ (mũ C,E) quá nhỏ nên hiệu quả thơng giĩ hầu như khơng tác dụng Mặt khác mũ E là mũ mà

- Đánh giá kết cấu mũ phổ

biến hiện nay

 Đề xuất yêu cầu về khả

năng chống nĩng của mũ

 Tính tốn thiết kế lại kết

cấu cũng như cấu trúc các lớp

vật liệu nhằm đáp ứng yêu cầu

chống nĩng cho người sử dụng

(sử dụng phần mềm

solid-works, catia, cad/cam/cnc)

BUng 1 Các loSi mũ đã sr dong trong đ_ tài

Kết cấu của mũ

TT Loại mũ Vật liệu sản

xuất thân mũ Lớp xốp Thông gió

1 Mũ a (vn) HDPE Không có Không có

2 Mũ b (hq) ABS Có lớp xốp Không có

3 Mũ c (hq) ABS Không có Có lỗ thông gió

4 Mũ d (m) HDPE Không có Có khe thông gió

5 Mũ e (hq)

(đt)

ABS Có lớp xốp Có lỗ thông gió

BUng 2 K^t quU đo đj b_n va đZp giUm chVn m nhibt đj chuXn

TT Loại mũ Độ bền va đập giảm

chấn ở điều kiện nhiệt độ chuẩn

Tiêu chuẩn TCVN

6407-98 (Fd 5000N)

5 Mũ E (HQ)

(E,ĐT)

BUng 3 K^t quU khUo sát nhibt đj chênh lbch gisa bên trong và bên ngồi mũ ATCN

Nhiệt độ bên trong mũ ( 0 C) Thời gian

đo

Nhiệt độ ngoài

trời (T 0 C) Mũ A Mũ C Mũ B Mũ E Mũ D

Mức ý nghĩa

Sáng

10h30-

12h30

Chiều

13h30-

15h30

Nhiệt độ chênh lệch so với

nhiệt độ ngoài trời

Trang 3

tự lắp ghép (xốp của mũ B),

xốp này không có gì đặc biệt,

không có khe, lỗ thông gió,

chính vì vậy mà hiệu quả của lỗ

thông gió ở mũ E hầu như

không đáng kể, chỉ có tác dụng

của xốp cách nhiệt Do đó,

nhiệt độ phía trong của mũ B và

mũ E là gần như nhau Cấu tạo

thông gió của mũ C, D, E có thể

nước mưa rơi vào đầu người

đội

Mũ D là mũ có kiểu dáng và

kích thước khác hẳn (mũ của

Mỹ) so với mũ của Hàn Quốc

và mũ của Việt Nam Khi đội

mũ D lên cảm thấy rộng và

không chắc chắn với khuôn

đầu người Việt Do vậy đề tài

lựa chọn mũ của Hàn Quốc (có

kích thước vừa với đầu người

Việt Nam hơn) và có kiểu dáng

đẹp để cải tiến thiết kế mũ phù

hợp với người lao động ngoài

trời ở Việt Nam

Tuy nhiên ở đây là nhiệt độ

ngoài trời không quá cao

(37-390C) nhưng có ngày nhiệt độ

ngoài trời lên đến 450C thì nhiệt

độ ở trên đầu phía trong mũ lên

tới gần 500C, điều này thật sự

không thể chịu đựng được

Chẳng hạn như ngày 16/5,

nhiệt độ ngoài trời là 450C,

công nhân không thể làm việc

được, đi ra ngoài trời khoảng 5

phút phải vào bóng mát ngay

3.2 Một số cải tiến đối với

thiết kế của mũ ATCN nhằm

nâng cao hiệu quả chống

nóng và tính năng bảo vệ

khác cho lao động ngoài trời

3.2.1 Thi^t k^ các khe thông

gió m thân mũ

a) Cơ sở lý thuyết:

Vì mũ đảm bảo độ bền đạt

tiêu chuẩn chất lượng đã có nhiều nghiên cứu đề cập trước

đó, ở đây, chúng tôi không thiết

kế toàn bộ mũ mà chúng tôi chọn phương án cải tiến thiết

kế mũ Với mũ đã thiết kế đạt tiêu chuẩn, chúng tôi cải thiện tính chất nhiệt của mũ Theo khảo sát và phân tích nhận thấy rằng mũ hiện tại của Việt Nam vừa không thông thoáng, vừa cách nhiệt kém

Phân tích các đặc tính truyền nhiệt giữa cơ thể con người và môi trường xung quanh cho thấy, sự bay hơi của mồ hôi từ

cơ thể là một yếu tố rất quan trọng để làm mát cơ thể con người và là cơ chế truyền nhiệt quan trọng nhất khi nhiệt độ ngoài trời trên 38°C Nhiều nghiên cứu cho thấy sự trao đổi nhiệt trên bề mặt của đầu bị cản trở nhiều khi người lao động đội mũ và khả năng bay hơi giảm đáng kể do thân mũ không thấm mồ hôi Vì vậy, để giảm thiểu nguy cơ stress nhiệt khi đội mũ làm việc ngoài trời nắng nóng, nhóm nghiên cứu

đề xuất cải tiến như sau: bổ sung các khe thông gió ở hai bên cạnh mũ, thêm lớp cách nhiệt bằng vật liệu xốp poly-styren và thêm lớp lót thấm mồ hôi từ đầu

Mục đích đề cập tới các hốc, khe hoặc lỗ thông gió trong việc thiết kế mũ là để cải thiện dòng của không khí phía trong của

mũ, tạo điều kiện tiện nghi khi

sử dụng mũ (tốc độ gió, nhiệt

độ và độ ẩm ) Với mũ, lượng không khí có thể được trao đổi giữa bề mặt đầu và môi trường bên ngoài, lượng không khí

này bị hạn chế do độ dẫn nhiệt thấp của vật liệu sản xuất mũ Hơn nữa, thân mũ làm từ nhựa nhiệt dẻo do đó không thể cho chất lỏng (mồ hôi) hoặc chất rắn truyền qua ra bên ngoài được Nhiều nghiên cứu trên thế giới kết luận rằng các lỗ thông gió có tác dụng tốt trong nhiều trường hợp thoát mồ hôi tránh ẩm cho người sử dụng và khẳng định trên thân mũ nên thiết kế nhiều lỗ thông gió vì chúng cho phép thoát dòng hơi tối đa ra bên ngoài và do đó gradient áp lực nước lớn nhất tại bề mặt da giảm Do vậy việc

sử dụng các lỗ thông gió mũ sẽ làm giảm nguy cơ stress nhiệt Nhưng một hạn chế của các lỗ thông gió là diện tích lỗ gió nhỏ nhưng nếu tăng diện tích thì chính những vị trí này cho phép ánh nắng xuyên qua và có thể xuyên thẳng vào đầu người sử dụng Bên cạnh đó nước mưa

có thể rơi vào đầu qua các lỗ thông gió khi trời mưa Một thiết

kế phải đáp ứng cả sự tiện nghi

và an toàn, đó là mục tiêu tiến tới một sản phẩm hoàn thiện, kích thích người sử dụng, tránh những hậu quả đáng tiếc xẩy ra trong lao động: các lỗ thông gió của mũ phải giảm stress nhiệt bằng cách cải thiện các đặc tính truyền nhiệt từ đầu đến môi trường xung quanh và không làm tăng nguy cơ tổn thương tới đầu hoặc độ bền va đập của mũ

Một nghiên cứu khác của Hsu và cộng sự (1998) đã nghiên cứu thử nghiệm rất nhiều kích cỡ, hình dạng và vị trí của các lỗ thông gió trong

mũ an toàn công nghiệp, và

Trang 4

phát hiện ra rằng các lỗ thơng

giĩ chỉ cĩ tác dụng rất nhỏ

trong việc tăng cường đối lưu

trên bề mặt đầu Ngồi ra, việc

thiết kế các lỗ thơng giĩ mũ

cũng phải xem xét đến nhiệt

năng từ mặt trời Vì vậy lỗ

thơng giĩ nhiều khi khơng thích

hợp, tốt nhất nên thiết kế hốc

thơng giĩ hoặc khe thơng giĩ,

đảm bảo đối lưu trên đầu được

tốt hơn

Bởi mũ phải đảm bảo độ bền

va đập, vì vậy khơng thể thiết

kế khe, hốc thơng giĩ tùy tiện

được mà phải tuân theo tiêu

chuẩn cho phép, ví dụ như tiêu

chuẩn EN 397:1995, cho phép

diện tích là: 150mm2≤ Diện tích

lỗ, khe thơng giĩ ≤ 450mm2, để

đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của

b) Cơ sở thực tiễn:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và qua khảo sát thực tế, nhĩm tác giả muốn thiết kế thân mũ cĩ cấu tạo ngồi yêu cầu trong tiêu chuẩn cịn cĩ hệ thống kênh thơng giĩ, cấu tạo của kênh thơng giĩ sao cho vẫn đảm bảo độ bền về kết cấu của

mũ và khe thơng giĩ khơng cho hoặc hạn chế tối đa nước mưa rơi vào đầu người đội Kênh thơng giĩ cĩ ưu điểm như dẫn hướng giĩ, tạo một luồng giĩ từ mơi trường bên ngồi vào trong

mũ, kênh thơng giĩ cĩ cả hai bên, tăng khả năng đối lưu khơng khí Nhĩm nghiên cứu

đã giải bài tốn nhiệt trong kết cấu mũ, tuy nhiên, bài tốn nhiệt là phức tạp, giải bài tốn này với giả thiết ban đầu là bỏ qua sự bức xạ nhiệt của mơi trường xung quanh Đây chỉ là một cơ sở ban đầu để nhĩm nghiên cứu cĩ những tính tốn cho cải tiến thiết kế mũ Để cải thiện độ thơng thống cho mũ, nhĩm nghiên cứu cĩ các đề xuất như trong bảng 4

Khảo sát loại mũ trên thị trường cho thấy, mũ Hàn Quốc vừa cĩ khuơn đầu phù hợp với người Việt Nam vừa cĩ kiểu dáng đẹp, nên nhĩm nghiên cứu lựa chọn kiểu dáng của mũ Hàn Quốc để cải thiện tính chất nhiệt cho mũ

BUng 4 Đ_ xuVt thi^t k^ mũ an tồn cơng nghibp chgng nĩng

Đề xuất

thiết kế

Thân mũ có

khe thông

gió

- Thân mũ có các kênh thông gió, trong mỗi kênh có một khe thông gió Khe thông gió trên thân mũ không làm ảnh hưởng tới độ bền của mũ

- Giảm stress nhiệt bằng cách cải thiện sự truyền nhiệt từ đầu người đến môi trường xung quanh

- Vật liệu làm phải có hệ số cách nhiệt cao

- Không làm giảm khả năng bảo vệ của mũ ATCN

- Khe thông gió không hoặc hạn chế nước mưa rơi vào đầu khi trời mưa

- Màu của mũ nên thiết kế màu sáng như màu trắng (phản xạ ánh sáng mặt trời tốt hơn các màu khác)

- Các khe thông gió của mũ không được giảm độ bền va đập của thân mũ, tuân theo tiêu chuẩn EN 397:1995

Lớp xốp

- Ngăn cản sự truyền nhiệt tối đa từ thân mũ vào đầu người

- Hấp thụ va đập, giảm một phần xung lực truyền xuống đầu

- Đảm bảo cho kết cấu của mũ

- Làm từ vật liệu xốp styren, không làm tăng nhiều khối lượng của mũ

Lớp lót

Giảm stress nhiệt bằng cách:

- Tăng sự truyền mồ hôi qua các lớp

- Có tính dẫn nhiệt cao hơn vật liệu làm các lớp khác

- Vật liệu phải bền

- Thấm mồ hôi tốt

- Có tính kinh tế

- Không bắt cháy

Trang 5

c) Kết quả thiết kế thân mũ

Trên thân mũ có các kênh

thông gió, việc bố trí các kênh

thông gió này khá phức tạp vì

không phải ở vị trí nào cũng

phát huy tối đa tác dụng của

nó Theo khảo sát thực tế thì

kênh gió được lựa chọn ở vị trí

cách đỉnh mũ 15-30 mm là tốt

nhất Vì vậy, nhóm tác giả thiết

kế trên thân mũ có hệ thống

kênh thông gió Hệ thống này

cách đỉnh mũ là 22 mm và bố trí

có 10 kênh thông gió, mỗi bên

5 kênh, mỗi kênh lại có một khe

thông gió Kích thước của mỗi

khe là 3mm x 7mm (tổng diện

tích khe thông gió là 210mm2,

thể tích tổng 10 lỗ là 0,63 cm3,

bằng 0,29% tổng thể tích của

mũ) Các khe này có cấu tạo

đặc biệt để hạn chế nước mưa

rơi vào đầu, như khe cách bề

mặt kênh là 3mm, nước mưa

rơi xuống kênh không thể hoặc

hạn chế tối đa bắn vào khe

Thiết kế kênh thông gió

không làm ảnh hưởng tới độ

bền của thân mũ vì chính kênh

thông gió này lại tạo ra các gân

chịu lực ở phía trong mũ, càng

làm tăng độ cứng vững cho

mũ Thân mũ có cấu tạo họa

tiết nhẹ nhưng không giữ các

vật thể bắn vào thân mũ vì họa

tiết này được vê tròn, vừa tạo

cảm giác thời trang mà không

ảnh hưởng tới kết cấu độ bền của mũ

Ở phía dưới vành mũ có cấu tạo các khe, hốc để lắp cầu mũ,

ở đây cũng có thể thiết kế các mấu lắp cầu mũ, tạo sự đa dạng khi lắp cầu mũ Bên cạnh

đó, hệ thống này còn có các khe để lắp các phụ kiện khác như bịt tai chống ồn, kính chắn gió bụi, tấm che gáy phía sau

3.2.2 Thi^t k^ cWu mũ

Một bộ phận không thể thiếu được của mũ ATCN đó là cầu

mũ (bộ giảm chấn) Bộ giảm chấn ngoài tác dụng định vị mũ trên đầu còn có tác dụng quan trọng trong việc phân bố đều năng lượng va đập truyền qua thân mũ ra khắp bề mặt đầu

Điều đó có nghĩa là chia nhỏ năng lượng va đập và bảo vệ đầu khỏi bị va đập cục bộ quá mạnh Ngoài ra cùng với tác dụng đàn hồi của thân mũ, tính chất đàn hồi của vật liệu làm cầu mũ cũng có tác dụng làm giảm năng lượng va đập Theo tiêu chuẩn, độ giảm chấn của

mũ phải không nhỏ hơn 75%

Để tạo được mũ có độ giảm chấn như yêu cầu ngoài việc chọn vật liệu, cần phải chú ý tới kết cấu cầu mũ sao cho bền chắc, có tính giảm chấn cao và phân tán đều khắp đầu năng lượng va đập Thông thường

cầu mũ làm bằng vải xe sợi bông, sợi tổng hợp polyethyl-ene… và có dạng 4 cánh hoặc

5 cánh

Với mục đích của hệ thống cầu mũ là đảm bảo hấp thụ phần lớn lực va chạm mà không bị tung ra khỏi đầu người đội cũng như để duy trì sự ổn định khi đội mũ trong điều kiện làm việc bình thường, các chi tiết chủ yếu của cầu mũ bao gồm: chi tiết liên kết dải băng cầu, dây giảm chấn, tấm liên kết Để nối các giải băng cầu này cần các chi tiết như hình hoặc các mấu cài vào các khe trên vành thân mũ (hình 2,3)

Băng cầu:

Bộ phận này có thể điều chỉnh bộ phận bên trong, tiếp xúc với đầu, điều chỉnh cỡ đầu như hình 4

Trên băng cầu, phần tiếp xúc với trán có thêm một lớp lót để thấm mồ hôi và tránh không cho băng cầu tỳ trực tiếp vào trán làm đau trán, chính tấm lót này có tác dụng tạo cảm giác thoải mái cho đầu Vật liệu làm lớp này là vải coolmax

3.2.3 Thi^t k^ lkp xgp và lkp lót

a) Lớp xốp cách nhiệt

Trong phần khảo sát khẳng định khi mũ có thêm lớp xốp, nhiệt độ phía trong mũ thấp hơn hẳn nhiệt độ của mũ không

có lớp xốp Nhưng chiều dày lớp xốp này bao nhiêu thì trong phạm vi của đề tài không cho phép kiểm tra được Nếu chiều dày mỏng quá thì không tác dụng nhiều còn nếu dày quá thì không thể lắp vào mũ

Do vậy, để thiết kế lớp xốp

Hình 1: Thi^t k^ hình dSng bên ngoài và bên trong cpa

thân mũ mki

Trang 6

nhóm tác giả căn cứ vào khuôn của thân mũ và khoảng cách khe

hở thẳng đứng trong tiêu chuẩn cho phép, đó là 25mm ≤ H1≤

50mm, khe hở xung quanh là: 5mm ≤ H2≤ 20mm, chiều sâu bên

trong là: H3=85mm Từ đó nghiên cứu thiết kế được chiều dày của

xốp lớn nhất là 15mm Do kết cấu của mũ mà chiều dày của xốp

cũng sẽ không đồng đều và chiều dày nhỏ nhất là 6mm (tham

khảo thiết kế của Hàn Quốc)(hình 5)

Trên xốp cũng thiết kế các kênh và các khe dẫn gió, tăng

sự đối lưu cho phía trong mũ

b) Lớp lót tiện nghi

Một lớp lót vải thường được đặt giữa các vật liệu hấp thụ tác động và đầu người Lớp lót này thường bao gồm bông hoặc vật liệu khác Như đã đề cập trước đó, các đặc tính cách nhiệt của vật liệu chủ yếu

là dựa trên lượng không khí bị mắc kẹt bên trong sợi và bề mặt của nó Như vậy, từ góc độ nhiệt động lực học, việc sử dụng lớp lót bông chỉ làm tăng nguy cơ stress nhiệt Do vậy nếu không sử dụng lớp này thì lại còn tốt hơn Nhưng vấn đề đặt ra là muốn giảm stress nhiệt có thể đạt được bằng việc lựa chọn một loại vật liệu lót khác kết hợp với việc gia tăng đối lưu không khí phía trong mũ Do vậy cần tối đa hóa tính thấm của các lớp lót

để không khí ẩm và mồ hôi có thể thoát ra ngoài được dễ dàng Các tiêu chí như độ bền, khả năng thấm nước (trên bề mặt ngoài), kinh tế và chống cháy cũng được lựa chọn để đảm bảo rằng lớp lót phát huy

Hình 2 Hình dSng mVu gài và dây giUm chVn

Hình 3 Dây giUm chVn và chi ti^t ngi dây giUm chVn vào thân mũ

Hình 4 Mô tU băng cWu

Hình 5 Thi^t k^ lkp xgp cách

nhibt

Trang 7

tác dụng của mình Do vậy đề

tài đặt ra có thêm lớp này, chọn

vật liệu có khả năng thấm mồ

hôi và thông thoáng nhưng

quan trọng là mềm mại, tạo

cảm giác dễ chịu cho người

đội Dưới đây là một số mẫu

vải có thể lựa chọn, đề tài đã

lựa chọn mẫu thứ 4 để làm lớp

lót tiện nghi (ảnh 6)

Đó là vải Coolmax, là loại

vải được nghiên cứu, chế tạo

nhằm mục đích giữ cho cơ thể

con người tránh khỏi sự ẩm

ướt trong khi làm việc, hoạt

động mạnh toát mồ hôi Đây là

loại vải sử dụng đặc biệt cho

các vận động viên điền kinh

nhằm giữ cho cơ thể của họ

khô ráo trong quá trình hoạt

động thể thao Coolmax có

khả năng thấm mồ hôi từ cơ

thể con người, làm cho hệ

thống tuần hoàn được hoạt động tốt hơn, đồng thời cũng

là loại vải có khả năng làm cho hơi nước bay hơi nhanh hơn

so với các loại vải thông thường khác Ngoài ra Coolmax có bề mặt rất mịn, mượt làm cho cơ thể con người khi tiếp xúc với loại vải này có cảm giác mềm mại, mát hơn gấp nhiều lần so với các loại vải khác Coolmax là loại vải có thể giặt bằng máy giặt

và sấy bằng máy sấy (ảnh 7)

3.2.4 Thi^t k^ tVm che gáy chgng nóng

Khi công nhân làm việc ngoài trời, nhất là công nhân xây dựng, cấp thoát nước, vệ sinh đô thị thì khi cúi xuống ánh nắng sẽ xuyên vào gáy, điều này cũng gây cảm giác khó chịu, mệt mỏi và nếu làm việc

trong nắng lâu sẽ dẫn đến say nắng, say nóng, stress nhiệt…

Chính vì vậy đề tài cũng đề xuất một bộ phận phụ đó là tấm che gáy

Vật liệu được chọn là loại vải, giả da, loại này có tính mềm mại và giá rẻ, dễ kiếm và tương đối bền Như trên đã nói, trên thân mũ có cấu tạo các mấu gài, có thể dễ dàng lắp bộ phận che gáy vào

3.2.5 Thi^t k^ kính ch[n gió, boi

Để thiết kế một thân mũ hoàn chỉnh, đề tài đặt ra thiết

kế cả bộ phận lắp ráp kính chắn gió, bụi, trên thân mũ đã

có các bộ phận để lắp thêm bộ phận giữ kính Kính chắn gió bụi, khi cần thiết thì kéo từ từ xuống, còn bình thường kính được giữ ở phía bên trong của mũ

IV KẾT LUẬN

Qua 1 năm làm việc và nghiên cứu, đề tài đưa ra một

số kết luận sau:

Đã tìm hiểu và nghiên cứu

cơ chế truyền nhiệt trong cơ thể con người và ảnh hưởng của nhiệt độ lên người đội mũ

Khi đội mũ trong môi trường khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm, những hơi ẩm này không dễ thoát qua

mũ ra ngoài được (vì kết cấu

mũ hiện nay) do vậy mà tích tụ trong đầu phía dưới thân mũ làm tăng nhiệt cục bộ, chính vì vậy mà người công nhân cảm thấy nóng bức, nếu đội mũ trong thời gian dài có thể bị say

Tnh 6 Tnh các loSi mYu vUi lta chen làm lkp lót

Tnh 7 Tnh cpa vUi Coolmax

1 2 3 4 5 6 7

Trang 8

nóng, say nắng và ảnh hưởng

đến sức khỏe người lao động

dẫn đến giảm năng suất lao

động Do đó đội mũ làm cản

trở quá trình truyền nhiệt tự

nhiên của đầu ra môi trường

xung quanh

Khảo sát nhiệt độ chênh

lệch giữa phía dưới mũ trên

đầu và nhiệt độ ngoài trời của

5 loại mũ, trong đó có 4 loại

mũ là kết cấu nguyên từ nhà

sản xuất, một mũ là đề tài thử

nghiệm với ý tưởng của mình

Từ những khảo sát ban đầu,

đề tài lựa chọn kiểu dáng mũ

của Hàn Quốc và cải tiến các

khe thông gió ở trên thân mũ

Do vậy, đề tài đã khảo sát vị trí

thiết kế khe thông gió (tuy mới

chỉ dừng lại ở những sửa

chữa thủ công thô sơ) Kết

quả cho thấy rằng, khe thông

gió ở vị trí cách đỉnh mũ trong

khoảng 20-25mm cho khả

năng lưu thông không khí là tốt

nhất

Đề tài đã đề xuất cải tiến

thiết kế cho mũ ATCN, đưa ra

được bản thiết kế chi tiết về

cải tiến thân mũ: Trên thân mũ

có các kênh thông gió Trên

thân mũ có hệ thống kênh

thông gió và hệ thống này

cách đỉnh mũ là 22 mm và bố

trí có 10 kênh thông gió, mỗi

bên 5 kênh và mỗi kênh lại có

một khe thông gió Kích thước

của mỗi khe là 3mm x7mm

(tổng diện tích khe thông gió là

210mm2) Các khe này có cấu

tạo đặc biệt để hạn chế nước

mưa rơi vào đầu, như khe

cách bề mặt kênh là 3mm,

nước mưa rơi xuống kênh không thể hoặc hạn chế tối đa bắn vào khe

Ngoài ra, đề tài cũng thiết kế xốp cách nhiệt, trong lớp này

có cấu tạo sao cho không cản trở dòng đối lưu không khí qua các khe thông gió vào trong

mũ và qua lớp xốp vào đầu người đội Thêm một lớp lót thấm mồ hôi bằng vật liệu đặc biệt (coolmax) không gây cản trở cho dòng không khí lưu thông trên đầu phía dưới mũ

Đề tài cũng thiết kế trên thân mũ có các khe để có thể lắp ráp các phụ kiện khác trong các trường hợp đặc biệt yêu cầu như: kính chắn bụi, bộ phận che gáy chống nắng, khe lắp bịt tai chống ồn…

Đề tài kiến nghị tiếp tục hướng nghiên cứu:

+ Chế tạo thử sản phẩm để đưa vào sử dụng

+ Nghiên cứu tính chất nhiệt của mũ bằng phương pháp mô phỏng số

+ Nhóm nghiên xây dựng hệ thống thiết bị thử nghiệm xác định tính chất nhiệt của mũ ATCN

Đề tài kiến nghị nhà sản xuất xem xét, áp dụng thiết kế này, chế tạo thử nghiệm để có một sản phẩm mũ hoàn chỉnh, cải thiện được tính chất nhiệt của mũ, đưa vào sử dụng nhằm tránh stress nhiệt, tăng tính tiện nghi cho người lao động

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] KS Lưu Văn Chúc, KS Kiều Ngọc Hanh, BS Phạm

Ngọc Lưu, Báo cáo tổng kết

đề tài: "Bước đầu nghiên cứu

mũ chống chấn thương sọ não cho công nhân mỏ và công nhân xây dựng", Viện nghiên

cứu KHKT BHLĐ năm 1976

[2] KS Lưu Văn Chúc, Mũ

bảo hộ lao động, Viện nghiên

cứu KHKT BHLĐ năm 1978 [3] KS Dương Công Bắc, KS

Nguyễn Quốc Chính, Báo cáo

tổng kết đề tài: “Nghiên cứu đưa vào sản xuất mũ chống chấn thương sọ não”, Viện

nghiên cứu KHKT BHLĐ năm 1981-1985

[4] Abeysekera, J.D.A.,

Shahnavaz, H Ergonomics

evaluation of modified

industri-al helmets for use in tropicindustri-al environments Ergonomics,

31, 1317- 1329 (1988)

[5] P A Bruhwiler, Heated

perspiring manikin headform for the measurement of head-gear ventilation characteris-tics, Measurement Science

and Technology 14 (2003), 217-227

[6] Christopher Despins,

McQuoid, Leslie Mumford,

Design of appropriate demi-ning personal protection equipment for head and face,

Thursday March 31, 2005

Ngày đăng: 26/10/2020, 01:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Thi^t k^ hình dSng bên ngồi và bên trong cpa thân mũ mki - Nghiên cứu thiết kế mũ an toàn công nghiệp chống nóng phù hợp với điều kiện lao động ngoài trời ở Việt Nam
Hình 1 Thi^t k^ hình dSng bên ngồi và bên trong cpa thân mũ mki (Trang 5)
Hình 2. Hình dSng mVu gài và dây giUm chVn - Nghiên cứu thiết kế mũ an toàn công nghiệp chống nóng phù hợp với điều kiện lao động ngoài trời ở Việt Nam
Hình 2. Hình dSng mVu gài và dây giUm chVn (Trang 6)
Hình 3. Dây giUm chVn và chi ti^t ngi dây giUm chVn vào thân mũ - Nghiên cứu thiết kế mũ an toàn công nghiệp chống nóng phù hợp với điều kiện lao động ngoài trời ở Việt Nam
Hình 3. Dây giUm chVn và chi ti^t ngi dây giUm chVn vào thân mũ (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm