Nội dung bài viết trình bày các phương pháp nghiên cứu dịch tễ học ứng dụng trong phòng ngừa tai nạn lao động. Để hiểu rõ hơn, mời các bạn tham khảo chi tiết nội dung bài viết.
Trang 1I VAI TRÒ CỦA DỊCH TỄ
HỌC TRONG AN TOÀN LAO
ĐỘNG, PHÒNG NGỪA TAI
NẠN
Dịch tễ học phòng ngừa
trong an toàn lao động được
sử dụng để nghiên cứu, phân
tích số liệu và tổng hợp các
dữ liệu nhằm mô tả các đặc
điểm về tỷ lệ mắc/chết người
do tai nạn lao động, trên cơ sở
xác định tính chất tai nạn
trong từng trường hợp cụ thể
theo thời kỳ, thời gian và
không gian Các nghiên cứu
dịch tễ học với phương pháp
tiếp cận tự nhiên và có cơ sở
khoa học để xác định nguyên
nhân, làm rõ những hiện
tượng tai nạn và các tác nhân
gây tai nạn Theo phương
pháp thống kê dịch tễ học thì
việc sử dụng các thông tin có
được để phòng ngừa tai nạn
là rất quan trọng và cần thiết
Việc nghiên cứu các tai nạn
thông qua phương pháp dịch
tễ học yêu cầu phải thu thập,
bổ sung dữ liệu từ các ngành,
lĩnh vực khác nhau như: kỹ
thuật công nghệ, tâm lý học, y
học, xã hội học và phạm vi
ảnh hưởng của các tai nạn bị
chi phối bởi các yếu tố như: tổ
chức lao động, mức độ đào tạo hợp lý người lao động, công cụ lao động và an toàn lao động
Qua kết quả nghiên cứu các vụ tai nạn, nguyên nhân được xác định là người sử dụng lao động đã không thực hiện đúng các quy định của pháp luật lao động về an toàn lao động;
không thực hiện đúng các quy định kỹ thuật an toàn, các thiết
bị điện sử dụng không bảo đảm điều kiện an toàn, không có bộ phận kiểm tra, giám sát
an toàn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định Do vậy, để giảm thiểu các vụ tai nạn, các cơ quan quản lý nhà nước và các ban ngành cần tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, chấp hành nghiêm chỉnh quy định an toàn lao động để hạn chế tai nạn thương tích chết người; có giải pháp tập huấn, đào tạo kinh nghiệm cho đối tượng là người sử dụng lao động và người lao động, đặc biệt tập trung vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng
Ở nước ta hiện nay, tình hình tai nạn lao động đang
diễn ra rất phức tạp, có chiều hướng tăng cao, có khá nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng đã xẩy ra như vụ tai nạn sập mỏ đá Lèn Cờ ở xã Hợp Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An ngày 1-4-2011 đã làm chết 18 người và 6 người bị thương (theo nguồn VNEXPRESS 4/4/2011), một trong các nguyên nhân xảy ra tai nạn trên là do việc nghiên cứu dịch tễ học về tai nạn lao động cũng như công tác đảm bảo an toàn lao động chưa được (các cấp, các ngành, các đơn vị, doanh nghiệp) quan tâm, chú trọng, trong đó việc phổ biến kiến thức dịch tễ học phòng ngừa tai nạn đối với cộng đồng người lao động hầu như chưa được đề cập Việc nghiên cứu dịch tễ học là cách tiếp cận tự nhiên và làm sáng tỏ những hiện tượng tai nạn thường xảy ra ngay sau khi tiếp xúc với các tác nhân gây tai nạn Khi so sánh các tai nạn lao động với các bệnh nghề nghiệp, sự khác biệt giữa tiếp xúc và xuất hiện bệnh thì dài còn tổn thương tai nạn thì có thể xuất hiện ngay khi xảy ra tai nạn
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC
ỨNG DỤNG TRONG PHÒNG NGỪA
TAI NẠN LAO ĐỘNG
PGS.TS Lê Khắc Đức
Trang 2II CÁC TIÊU CHUẨN XÁC
ĐỊNH ĐỘ AN TOÀN LAO
ĐỘNG TRONG NGHIÊN
CỨU DỊCH TỄ HỌC TAI
NẠN.
Dịch tễ học tai nạn với 3
mục đích chính là (1) Mô tả sự
phân bố tai nạn và tỷ lệ tai
nạn (2) Xác định tác nhân gây
tai nạn (3) Lưu giữ các số liệu
cần thiết cho việc vạch định
kế hoạch, triển khai và đánh
giá các dịch vụ phòng tránh
tai nạn lao động
Dịch tễ học cổ điển thì đối
tượng nghiên cứu là các bệnh
tật của con người hay sự mắc
bệnh của con người còn Dịch
tễ học hiện đại thì các đối
tượng “mắc bệnh” chính là
“mắc tai nạn” không chỉ là con
người, mà cả trang bị vật chất
kỹ thuật, công nghệ, máy
móc, công cụ lao động và các
khu vực làm việc nhất định
“điểm đen” hay toàn bộ công
ty có thể bị “mắc tai nạn”
Nghiên cứu dịch tễ học tai
nạn, không chỉ dựa vào tiêu
chuẩn được trình báo trực tiếp
các tai nạn lao động xảy ra
thông thường mà phải sử
dụng những báo cáo đặc biệt
và các tiêu chuẩn không phải
là tai nạn như: gần tai nạn,
trong vùng ảnh hưởng nguy
hiểm và các sai sót
1 Các tai nạn được trình báo
Các tai nạn được trình báo
là những tiêu chuẩn được sử
dụng vào nhiều mục đích
khác nhau và rất đa dạng,
phức tạp Đây là các nguồn
thông tin sẵn có; được xác
định như là những thương tật
được khai báo Theo nghiên cứu dịch tễ học tai nạn thì các tai nạn được trình báo là một căn cứ đánh giá không thỏa đáng bởi những báo cáo như vậy liên quan đến các thương tật nhiều hơn là đến sự an toàn hệ thống Đặc biệt, việc trình báo sai lệch hoặc không báo cáo là những hạn chế để xác định nguyên nhân gây tai nạn và xử lý hậu quả như sau:
Cảm giác tội lỗi và ý thức trách nhiệm phải gánh chịu;
không có dịch vụ y tế; những thái độ tiêu cực và các quan niệm lệch lạc về các cán bộ y tế; Sự kém hiệu quả của hệ thống trình báo Mặt khác, do tai nạn diễn ra rất nhanh và là một cú sốc về tinh thần, việc hồi nhớ lại có thể bị biến dạng, bị rời rạc hoặc thậm chí là một sự giải thích duy lí về cái đã thực sự xảy ra Những tai nạn cần phải báo cáo được xác định và mô tả một cách
sơ sài, vì thế, làm cho những người có liên quan không nhận thức được sự cần thiết phải báo cáo
2 Những tai nạn được báo cáo đặc biệt
Tai nạn được báo cáo đặc biệt là yêu cầu trong nghiên cứu dịch tễ học tai nạn và an toàn lao động và được sử dụng trong nghiên cứu điều tra các tai nạn đối với người lao động nhằm thu thập nhanh nhất thông tin, xử lý về các trường hợp tai nạn nghiêm trọng Nguồn cung cấp số liệu là từ các bệnh viện, trung tâm y tế, các bác
sĩ, các biên bản của cảnh sát và các báo cáo của các công
ty bảo hiểm Ưu điểm của hệ thống này là các báo cáo có thể được trù tính riêng cho một nghiên cứu đặc thù, vì thế tránh được những thông tin không thích hợp Chất lượng của các báo cáo này thường chuẩn xác hơn so với hệ thống trình báo thông thường Hạn chế của hệ thống báo cáo đặc biệt là không biết được cụ thể về số lượng, mức độ nghiêm trọng hay loại hình tai nạn Vì thế, không thể tính toán chính xác tỷ lệ tai nạn đó và các khuynh hướng tai nạn
3 Các vụ giống tai nạn
Việc thu thập đủ số liệu về các thương tật trong nhiều trường hợp là rất khó khăn, trong thời gian dài và các tài liệu liên quan đến tai nạn đó xảy ra quá lâu khi thu thập được sẽ không đủ độ tin cậy trong việc nghiên cứu an toàn lao động Do đó phương pháp sử dụng các vụ việc giống tai nạn thay cho các tai nạn đã trở nên phổ biến hơn Điều này được thể hiện với những lý
do chính là: (1) Thu thập tài liệu nhanh hơn xét về thời gian nghiên cứu (2) Vì không thực sự xảy ra nên nội dung báo cáo về các vụ việc trung thực hơn (3) Người tham gia trình báo nhiều hơn và có thể dấu tên (4) Những người tham gia
ở lại nơi làm việc có thể phỏng vấn được (5) Việc thu thập số liệu có thể làm được trực tiếp, phù hợp với các yếu tố, công việc nghiên cứu và khối lượng
Trang 3số liệu không thích hợp sẽ
được giảm đi
Những vụ việc giống tai
nạn được sử dụng phổ biến
nhất là: Gần bị tai nạn; Ở
trong tình trạng nguy hiểm
Các dạng bất ổn bao gồm:
Những lệch lạc ra ngoài tiến
trình công việc bình thường;
những điều kiện không an
toàn; các kiểu cách ứng xử
riêng biệt; các lỗi, sai sót;
hành vi không an toàn
Việc thu thập số liệu: thực
hiện phỏng vấn các công
nhân hàng ngày hoặc nhiều
lần trong một tuần; có hạn
chế là phụ thuộc vào kiến
thức của người báo cáo, nếu
không xác định thông tin đầy
đủ, chính xác thì bổ sung
bảng câu hỏi điều tra bổ sung
cho các cuộc phỏng vấn và
áp dụng phương pháp quan
sát, kiểm chứng (bảng kiểm)
để đạt được độ tin cậy cao
hơn các cuộc phỏng vấn; có
thể sử dụng người đại diện
hay cán bộ chuyên trách về
an toàn lao động làm những
người quan sát
4 Nguyên nhân và các yếu
tố gây tai nạn
Xác lập mô hình nguyên
nhân gây tai nạn để chọn lựa
các tác nhân gây tai nạn trong
nghiên cứu dịch tễ học tai nạn
Các yếu tố làm tăng mức độ
nặng hoặc làm giảm nhẹ tác
động ảnh hưởng phải được
phân tích để đánh giá các kết
quả nghiên cứu dịch tễ học tai
nạn, an toàn lao động
Các tác nhân gây tai nạn
không phải lúc nào cũng có
thể đo đạc được trực tiếp Nên việc sử dụng các biến số liên quan gián tiếp đến sự an toàn là cách lựa chọn tự nhiên và thực tế hơn Kinh nghiệm của người công nhân có quan hệ với các tác nhân, chẳng hạn như: sự hiểu biết về môi trường làm việc và khả năng nhận biết những nguy cơ gây tai nạn Vì vậy, mô hình phải được chọn lựa dựa trên mục tiêu nghiên cứu
4.1 Các tác nhân (các yếu tố gây tai nạn)
Các tác nhân gây tai nạn dẫn đến thương tật luôn luôn hiện hữu, bất kể là có hay không xảy ra tai nạn Điều này đựợc minh họa qua một ví dụ về “một tai nạn ngã đơn giản do vết dầu loang trên sàn nhà” chứa đựng những sự kiện cần xem xét (xem hình 1)
Trong trường hợp trên: các nguyên nhân gây tai nạn có thể là: Thị lực của người đó kém; nhận thức sai lệch về môi trường,
vì trước kia chưa bao giờ có dầu rò rỉ ra sàn nhà; không thể phân biệt được dầu với những cái khác xuất hiện do ảnh hưởng của màu sắc hoặc do cấu trúc bề mặt của sàn; không thể nhìn thấy dầu do chiếu sáng của nơi làm việc yếu; tri giác của người đó bị ảnh hưởng bởi cồn, thuốc phiện, bệnh tật v.v ; đang vội
do những công việc cấp bách nào đó; do các hoạt động khác đồng thời, đang nghĩ về việc riêng hoặc nghĩ đến công việc tiếp theo; có thể người đó bước chân lên điểm trơn trượt một cách cố ý, có thể muốn kiểm nghiệm tính năng ma sát của giày bảo hộ mới v.v
Hình 1 Một tai nạn ngã đơn giản
do vết dầu loang trên sàn nhà
(Nguồn: Dịch tễ học trong y học lao động, Bộ Y tế, 1993)
Trang 4Qua phân tích trên cho thấy: mối quan hệ của một hàm đa
biến giữa việc đi lại bị tai nạn té ngã với nhiều tác nhân phức
tạp gây ra về đặc điểm bề mặt sàn nhà, kiểu công việc, sự
khác nhau giữa các cá thể trong việc nhận biết và ứng xử,
những chỉ dẫn được phổ biến, thiết bị kỹ thuật sử dụng và các
yếu tố môi trường
4.2 Cấu trúc của một tai nạn
Cấu trúc của một tai nạn là cơ sở để xác lập một mô hình tai
nạn Tai nạn là một quá trình các sự kiện song song liên tiếp
dẫn đến hậu quả có hại (xem hình 2)
Qua hình 2: tình huống tai nạn, thương tật xảy ra bởi năng
lượng vật lí vượt quá giới hạn chịu đựng của con người và mức
độ nghiêm trọng của thương tật tùy thuộc vào:
(1) Lượng năng lượng được giải phóng ra và sự phân bố của nó
trong không gian
(2) Giới hạn chịu đựng của người bị tác động, phụ thuộc vào:
bộ phận cơ thể chịu tác động; các đặc điểm của cá thể
Việc tiếp xúc xảy ra trước thương tật trong quá trình con
người tiếp xúc với yếu tố gây thương tật (năng lượng) có thể
ngay lập tức hoặc sau một thời gian mới gây ra thương tật;
phần lớn những sự kiện trước tai nạn là bất bình thường, không
mong muốn hoặc nằm ngoài dự kiến và thường không thể xác
định được bản chất của nó cho tới khi tai nạn xảy ra
III KẾT LUẬN
Tình hình an toàn/tai nạn lao động đang diễn ra rất đa dạng và phức tạp cả về nguyên nhân và tính chất vụ việc tai nạn gây thương tích đến người lao động và sự giảm sút nguồn lực lao động, đang được cả xã hội quan tâm
(1)Việc ứng dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học trong phòng ngừa TNLĐ để giảm thiểu tai nạn là rất cần thiết nhằm xác định nguyên nhân, tính toán mức độ an toàn của hệ thống về tổ chức lao động, mức độ đào tạo hợp lý người lao động, công cụ và kỹ thuật an toàn lao động v.v… (2) Việc ứng dụng phương pháp dịch tễ học trong phòng ngừa tai nạn lao động góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động, sức sản xuất của xã hội
(3) Cần tiếp tục nghiên cứu dịch tễ học trong phòng ngừa tai nạn lao động có các tiêu chí, tiêu chuẩn phù hợp để xác định hồ sơ quốc gia về dịch tễ học trong phòng ngừa, ngăn chặn và làm giảm tai nạn lao động
Hình 2 Cấu trúc của một tai nạn
(Nguồn: Dịch tễ học trong y học lao động, Bộ Y tế, 1993)