Nội dung bài viết trình bày thực trạng an toàn sử dụng máy, thiết bị trong sản xuất lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long. Để hiểu rõ hơn, mời các bạn tham khảo chi tiết nội dung bài viết.
Trang 1TÓM TẮT
Để nghiên cứu, đánh giá thực trạng an toàn sử dụng máy, thiết bị sản xuất lúa gạo tại 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), chúng tôi đã tiến hành điều tra ngẫu nhiên 662 hộ tại 13 tỉnh
có sử dụng các loại máy móc thiết bị cơ điện trong sản xuất nông nghiệp với 1918 máy các loại để qua đó nhận được những thông tin cần thiết về người lao động, máy móc sử dụng chủ yếu, loại hình tai nạn thường gặp phải Do tính đa dạng của máy móc và loại hình sản xuất nên trong phân tích chúng tôi chọn ra một số khâu cơ bản trong sản xuất nông nghiệp và máy móc chính phục vụ cho loại hình sản xuất này- máy móc phục vụ cho khâu làm đất, khâu chăm sóc và khâu thu hoạch
và sơ chế sản phẩm
Với các dạng tai nạn thể hiện trong điều tra thu thập số liệu, chúng tôi xem xét những khiếm khuyết trong công tác ATLĐ từ các yếu tố khác nhau về chính sách, văn bản quy định có tính pháp
lý về quản lý, tổ chức cũng như về kỹ thuật từ Trung ương đến cơ sở; về máy móc, thiết bị và con người để bước đầu có thể đề xuất một chương trình quản lý, kiểm soát ATLĐ trong lĩnh vực này tại vùng đồng bằng sông Cửu long, góp phần vào việc xây dựng những giải pháp toàn diện cho công tác AT-VSLĐ trong lĩnh vực cơ giới hóa nông nghiệp Việt Nam những năm tiếp theo
Đề tài đã phân tích các yếu tố liên quan đến công tác quản lý, tổ chức, triển khai thực hiện; các yếu tố kỹ thuật đối với máy móc thiết bị và những yếu tố liên quan đến người lao động dẫn đến thực trạng mất an toàn lao động trong sản xuất
Để đóng góp thiết thực vào việc thực hiện đồng bộ các giải pháp về ATLĐ trong sản xuất lúa gạo nói riêng và nông nghiệp nói chung, chúng tôi đề xuất xây dựng chương trình quản lý và kiểm soát ATLĐ chung cho vùng ĐBSCL trên cơ sở chính sách của Nhà nước về cơ giới hoá nông nghiệp
và Chương trình quốc gia về AT-VSLĐ để từng bước đưa công tác này vào khuôn khổ của chương trình phát triển bền vững của đất nước
THỰC TRẠNG
AN TOÀN SỬ DỤNG MÁY, THIẾT BỊ
TRONG SẢN XUẤT LÚA GẠO
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TS Nguyễn Đắc Hiền Phân viện Khoa học An toàn vệ sinh lao động và Bảo vệ môi trường miền Nam
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong sử dụng máy móc, thiết bị phục vụ
sản xuất lúa gạo, một con số đáng lo
ngại đó là nông dân sử dụng các loại
máy móc phục vụ trong sản xuất từ khâu làm
đất, chăm sóc, thu hoạch đến sơ chếL gần như
chưa qua một trường lớp nào nhưng họ vẫn phải
sử dụng chúng hàng ngày Một số thiết bị được
nhập khẩu từ các nước tiên tiến như Nhật,
Pháp, còn lại phần lớn các loại máy móc như:
máy cày, bừa, xới, máy gặt, máy tuốt lúa, máy
bơm, máy xay xátL được sản xuất trong nước
nhưng con số hợp chuẩn, hợp quy về an toàn
chưa nhiều Chưa kể một số máy tự chế khác để
đáp ứng yêu cầu sản xuất đều không có sự kiểm
soát của các cơ quan chức năng, nhiều thiết bị
thiếu kết cấu an toàn cơ bản Đây chính là một
trong những nguyên nhân gây nên các vụ tai
nạn trong sản xuất nông nghiệp thời gian qua
Báo cáo từ Bộ Lao động -Thương Binh và Xã
hội, TNLĐ trong nông nghiệp chiếm 5% số TNLĐ
trong nước, với 5,5% số vụ tai nạn chết người
[1] và tần suất tai nạn thương tích (không tử
vong) khoảng 0,024 [2] So sánh nguy cơ tai nạn
thương tích trong các ngành nghề khác, lao
động nông nghiệp là ngành có nguy cơ tai nạn
thương tích đứng sau ngành xây dựng và khai
khoáng [3] và đây là thực trạng đang rất cần
được quan tâm
Một thực tế nữa là hầu hết nông dân hiện nay
đều hổng kiến thức, kỹ năng sử dụng máy nông
nghiệp, mặc dù Hội Nông dân, Trung tâm
Khuyến nông ở các tỉnh đã có những nỗ lực nhất
định trong công tác tuyên truyền, huấn luyện về
ATLĐ cho nông dân nhưng kết quả theo các báo
cáo vẫn còn quá khiêm tốn Chủ yếu người lao
động vận hành máy móc, thiết bị theo kiểu “nghề
dạy nghề”, vì thế việc xảy ra các tai nạn là khó
tránh khỏi Bên cạnh đó, đối tượng này cũng rất
tản mạn, công việc làm không cố định, thời gian
làm không thường xuyên, do vậy loại hình lao
động này trong nông nghiệp khó có điều kiện tập
huấn về kỹ năng về an toàn lao động, vệ sinh lao
động trong sản xuất
Cũng như các ngành nghề khác, đảm bảo ATLĐ cho NLĐ nông nghiệp hết sức quan trọng,
vì vậy thúc đẩy việc thực hiện công tác AT -VSLĐ trong nông nghiệp có ý nghĩa vô cùng to lớn Bản chất của công việc tuy không phức tạp nhưng lại dàn trải và đối tượng tác động là những nông dân, họ chưa có quan hệ lao động, chưa có một cơ chế quản lý hợp lý, do đó không thể khẳng định là sẽ cải thiện công việc này trong một hạn định nào đó nhưng thiết nghĩ cần
có sự quan tâm đúng mức của cơ quan quản lý Nhà nước ở các cấp, tổ chức chuyên môn, cơ quan, ban, ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương với mục tiêu cuối cùng là đảm bảo ATLĐ trong quá trình lao động, sản xuất của lĩnh vực này
II MỤC TIÊU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng được cơ sở dữ liệu về tình hình
an toàn lao động trong sử dụng máy, thiết bị sản xuất lúa gạo
- Đề xuất được chương trình quản lý, kiểm soát an toàn lao động trong sản xuất lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu long
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thống kê tình hình sử dụng máy, thiết bị sản xuất lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long
- Điều tra đánh giá tình hình an toàn lao động, tai nạn lao động trong sử dụng máy, thiết bị sản xuất lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ưu tiên điều tra, thống kê đối với một số máy, thiết bị cơ giới hóa điển hình, sử dụng phổ biến trong sản xuất lúa gạo, ví dụ như: máy làm đất, máy phun thuốc trừ sâu, chăm sóc tưới tiêu, máy gặt đập liên hợp)
- Phân tích đánh giá, xác định được các nguyên nhân gây mất an toàn lao động, tai nạn lao động trong sử dụng máy, thiết bị sản xuất lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long
- Nghiên cứu đề xuất chương trình quản lý toàn diện, kiểm soát an toàn lao động trong sản xuất lúa gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 3III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Tổng hợp máy móc sử dụng cho sản
xuất lúa gạo vùng ĐBSCL
Tổng hợp được máy móc sử dụng cho sản
xuất lúa gạo toàn vùng và phân tích mức độ áp
dụng cơ giới hóa với từng loại máy, từng công
đoạn sản xuất, tính bình quân với 100 hộ sản
xuất nông nghiệp, 100 ha diện tích đất sử dụng
trồng lúa để từ đó thấy được mức độ cơ giới hóa
sản xuất lúa gạo toàn khu vực [4],[7] Song song
công việc trên; đề tài điều tra, đánh giá tình hình
ATLĐ, TNLĐ trong sử dụng máy móc sản xuất
lúa gạo thông qua nhận diện các mối nguy hiểm
xảy ra trong quá trình sử dụng thiết bị trên thực
tế; so sánh với các Tiêu chuẩn an toàn cho một
số máy đã có và các quy định của pháp luật để
xác định, đánh giá các nguyên nhân gây mất an
toàn trong sản xuất Qua phân tích thực tế cho
thấy việc đưa Tiêu chuẩn an toàn vào áp dụng
với thực tế máy móc sản xuất lúa gạo còn một
khoảng cách khá lớn Bên cạnh đó còn những
mối nguy hiểm từ bản thân của thiết bị (lưỡi cắt của máy cắt, lưỡi cắt của máy gặt xếp dãy, các răng nhọn cào, xới, các khớp nốiL.) không thể loại trừ, chỉ có thể giảm thiểu nguy cơ đâm, cắt nhưng điều này hoàn toàn phụ thuộc vào mức
độ hiểu biết về cách làm việc an toàn của người lao động đối với từng thiết bị
3.2 Khảo sát tình hình sử dụng máy móc thiết bị trong sản xuất lúa gạo vùng ĐBSCL
Tiến hành khảo sát 662 hộ sản xuất nông nghiệp có sử dụng máy móc thiết bị trong sản xuất lúa gạo với 1918 thiết bị các loại được khảo sát Thực tế chúng tôi không thể điều tra chi tiết cho từng loại máy mà chỉ ghi nhận số loại máy mỗi hộ thống kê đang sử dụng và loại hình tai nạn thường gặp trong quá trình sử dụng các loại thiết bị này với các yếu tố cơ bản về con người, thiết bị để có một đánh giá chung về thực trạng an toàn lao động trong sản xuất lúa gạo ở các tỉnh ĐBSCL Tổng hợp kết quả về loại hình tai nạn với các máy móc sản xuất chủ yếu như trong Bảng 1
Bảng 1: Tổng hợp loại máy, thiết bị điều tra.
w Cày lӟn Cày vӯa nhӓ Bӯa Xӟi Gieo sҥ XӃp Gһt
dãi
Gһt Liên hӧp
Tuӕt lúa nѭӟc Bѫm thuӕc Phun Sҩy
Ĉӗng Tháp 10 20 11 12 8 11 22 20 14 22 6 Vƭnh Long 9 18 10 11 8 11 21 22 15 23 5
Cà Mau 8 20 11 10 7 12 19 20 14 15 4 Bҥc Liêu 9 22 12 9 6 13 19 20 14 21 4 TiӅn Giang 11 20 11 8 5 14 8 21 19 23 5 Kiên Giang 14 23 11 10 8 16 22 18 21 25 7
An Giang 15 23 8 8 8 20 23 16 25 26 8 Hұu Giang 8 20 8 8 8 20 16 16 19 22 3 Cҫn Thѫ 6 19 8 8 6 18 14 14 20 18 2 Sóc Trăng 10 19 8 8 7 19 19 14 20 18 7 Long An 10 19 8 8 7 19 19 14 19 15 0 Trà Vinh 10 19 8 8 6 18 17 14 19 15 4 BӃn Tre 8 18 7 6 5 15 11 12 19 15 2
Tәng, TB 128 260 121 114 88 205 228 221 238 258 57 Tỉnh
Trang 4- Tỉ lệ tai nạn nhóm máy cày, bừa, xới
- Tỉ lệ tai nạn nhóm máy gặt
- Tỉ lệ dạng tai nạn nhóm máy bơm nước
- Tỉ lệ dạng tai nạn nhóm máy phun thuốc
- Tỉ lệ dạng tai nạn nhóm máy tuốt lúa
- Người lao động điều khiển máy móc
Trang 53.3 Phân tích, đánh giá nguyên nhân gây mất
an toàn lao động
Những con số chúng tôi thu thập được ở trên
có thể rút ra một số nhận xét về người sử dụng
máy móc trong hoạt động sản xuất lúa gạo
3.3.1 Người điều khiển thiết bị
Người điều khiển thiết bị đa số đạt độ tuổi lao
động trên 18 tuổi (91,8%), trong đó chỉ có 24,3%
được đào tạo về nghề nghiệp và 34,9% có nghe
nói (chưa phải huấn luyện) về an toàn lao động
khi làm việc với máy móc thiết bị
3.3.2 Máy móc thiết bị
- Máy, thiết bị thuộc nhóm cơ khí như cày,
bừa, xới, tỉ lệ tai nạn do vật, đâm cắt (20,7%),
văng bắn (35,2%), té ngã (30,2%) có tỉ lệ cao
+ Văng bắn do các chuyển động quay của
các bộ phận làm việc khi vận hành cung cấp
động năng cho đối tượng lao động, do nguyên lý
làm việc của thiết bị, không phải bộ phận quay
nào cũng có thể che chắn được
+ Các bộ phận làm việc hở của nhóm máy cơ
khí này thông thường là sắc (dao cắt, đĩa cắt,
lưỡi phayL) và nhọn (mũi rẽ lúa, răng bừaL)
nên tai nạn do bị đâm, cắt cũng có tỉ lệ cao
+ Tai nạn do té, ngã có nhiều nguyên nhân
khác nhau nhưng trong vận hành thông thường
người điều khiển không kiểm soát được máy
(với loại cày, xới hai bánh), té ngã do trượt chân
khi lên xuống máy kéo, té ngã do tập trung vào
năng suất, lơ là khâu an toàn, đặc biệt với môi
trường lao động nước, bùn trơn trượt
- Máy, thiết bị thuộc nhóm máy gặt, liên hợp
gặt đập, tỉ lệ tai nạn do vật, đâm cắt (16,2%),
văng bắn (37,2%), kẹp, kẹt tay chân (16,3%)
Vật văng bắn chủ yếu là lùa và các vật bám dính
vào bộ phận có chuyển động quay của máy
- Máy bơm nước: Qua khảo sát các hộ sản
xuất thường sử dụng máy bơm điện, máy động
lực sử dụng nhiên liệu Tai nạn chủ yếu ở đây là
té ngã (15,2%), điện giật (9,06%) Máy bơm sử
dụng ở loại hình này thường không cố định mà
di chuyển theo yêu cầu canh tác, vụ mùa Do di chuyển như vậy cùng với môi trường làm việc không thuận lợi nên những hỏng hóc về cách điện của dây dẫn, thiết bị dễ xảy ra dẫn đến tai nạn điện và té ngã do trơn trượt của mặt bằng làm việc
- Máy phun thuốc bảo vệ cây trồng: Nguy hại
ở đây là thuốc văng bắn vào người, ngộ độc và
té ngã Thuốc văng bắn vào người (64,1%) và ngộ độc các dạng (13,8%) do không sử dụng PTBVCN Té ngã cũng có tỉ lệ cao (21,9%) là do khi phun thuốc, chủ yếu vẫn là máy phun đeo vai, người lao động thường phải mang thiết bị nặng và do chú ý đến việc phun thuốc mà quên quan sát mặt đất nên thường vấp ngã
- Máy tuốt lúa: Những năm gần đây, máy gặt đập liên hợp đưa vào sử dụng, máy tuốt lúa có khuynh hướng giảm nhưng chưa nhiều Số máy tuốt lúa theo thống kê trong vùng còn hơn 23.000 chiếc Dạng tai nạn chủ yếu là vật văng bắn (67,2%), té ngã (20,2%) và bị kẹt, kẹp tay vào máy (12,6%)
3.3.3 Môi trường lao động
Bản thân nông dân vốn ít kiến thức, làm việc với đối tượng lao động tuy không phức tạp nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ không an toàn trong một môi trường lao động không thuận lợi
về địa hình, thời tiết và nhiều yếu tố khác Thêm vào đó, các yếu tố không thuận lợi này con người khó có thể can thiệp để có thể giảm bớt những nguy cơ do các yếu tố từ môi trường lao động gây ra
3.4 Phân tích, đánh giá xác định các nguyên nhân gây mất an toàn lao động, tai nạn lao động trong sử dụng máy sản xuất lúa gạo
Thông qua khảo sát máy móc thiết bị, người lao động điều khiển máy, thiết bị là yếu tố không thể bỏ qua khi đề cập đến tai nạn lao động khi
sử dụng máy móc, thiết bị nông nghiệp Thông thường khi phân tích nguyên nhân dẫn tới tai nạn lao động - tiêu chí quan trọng đánh giá công tác an toàn lao động – chúng tôi qui về 4 nhóm nguyên nhân:
Trang 63.4.1 Yếu tố con người
Người lao động điều khiển thiết bị máy móc,
sức khỏe, tay nghề (trình độ, sự am hiểu về sử
dụng máy móc thiết bị), tuổi nghề, kiến thức về
an toàn lao động trong sử dụng máy móc thiết bị
Người vận hành chưa được đào tạo về an
toàn lao động, kỹ thuật vận hành cũng như kỹ
thuật an toàn, chủ yếu là từ hiểu biết và kinh
nghiệm của người đi trước cho người sau Đây
chính là cái gốc của những sai sót khác của
người lao động như:
- Sai sót trong việc tháo, lắp, thay thế (tháo,
lắp bộ phận canh tác vào máy động lực, bộ phận
truyền lực, bộ phận dẫn động L)
- Thiếu quan sát đến các bộ phận nguy hiểm
để hở (gờ cạnh sắc, nhọn của thiết bị), không
chú ý quan sát người lao động chung quanh
- Thấy nguy hiểm nhưng vẫn làm (tháo lắp
đai truyền lực khi nguồn động lực đang vận
hành),
- Làm vội, nhanh để chạy theo năng suất
- Nhờ người khác tham gia vào công việc và
bản thân họ cũng không nắm được những vấn
đề an toàn lao động khi tham gia
- Không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân,
hoặc có cũng rất sơ sài, không đạt yêu cầu
Để đánh giá khả năng gây tai nạn lao động
trong sử dụng máy, thiết bị sản xuất lúa gạo do
người lao động, chúng tôi chọn khảo sát qua 2
thông số cơ bản là đào tạo nghề và hiểu biết về
an toàn lao động Cũng cần lưu ý rằng, người
vận hành máy ở đây được nghe, biết về an toàn
lao động thông qua các tổ chức như Hội nông
dân, Trung tâm khuyến nông, Phòng nông
nghiệp HuyệnL chứ chưa được huấn luyện một
cách bài bản
3.4.2 Yếu tố máy, thiết bị
Máy, thiết bị sử dụng trong sản xuất lúa gạo
đa dạng, do vậy nguyên nhân gây ra mất an toàn
lao động rất khác nhau và phức tạp Dựa vào
nguy cơ tai nạn có thể liên quan đến máy thiết bị
điện nông nghiệp – viện dẫn tiêu chuẩn; thực hiện khảo sát thống kê 1198 máy các loại phục
vụ sản xuất lúa gạo, chúng tôi đã tổng hợp 7 dạng tai nạn thường gặp khi sử dụng các loại máy ở lĩnh vực này là: đâm cắt, vật văng bắn, kẹt, kẹp, té ngã, điện giật, ngộ độc xuất phát từ các yếu tố sau:
- Máy móc sử dụng phổ biến không kiểm soát được chất lượng, tốn thời gian, công sức trong công tác bảo trì, bảo dưỡng
- Nguồn động lực của các loại máy đa dạng, nhiều tính năng hoạt động kết hợp vào cùng một máy
- Nhiều bộ phận có chuyển động quay hở, khe hở giữa các bộ phận động của máy, các bộ phận gập, các bộ phận sắc, nhọn hở
- Thiếu các phương tiện, công cụ bảo vệ an toàn (bao che, cảnh báoL)
3.4.3 Yếu tố môi trường
Tác động của các yếu tố về môi trường lao động là một trong những nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động như thời tiết, môi trường đất, nước, không khí, đối tượng lao động, địa hình lao động, đối tượng tác độngL
- Đối tượng lao động đa dạng, môi trường lao động nông nghiệp là môi trường luôn thay đổi, không chuẩn tắc (nhiều khâu lao động khác nhau, thời gian thu sản phẩm kéo dàiL)
- Quá trình lao động bị tác động bởi nắng nóng, mưa, gió, bụi, bùn đất, tiếng ồn, rung độngL
- Sản xuất thường xuyên thay đổi theo thời tiết, vụ mùa, khí hậuL tạo nên áp lực cho người lao động sản xuất
3.4.4 Yếu tố quản lý
Trong nhiều năm dài, lao động nông nghiệp chưa được đưa vào diện điều chỉnh của Luật Lao động cho đến khi Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015 ra đời thì đối tượng này mới được đưa vào phạm vi áp dụng của luật Một thời gian dài đối tượng lao động này không chịu
Trang 7một sự quản lý nào về an toàn lao động Khoảng trống về quản lý
theo luật pháp là yếu tố quan trọng góp phần dẫn đến nguyên
nhân thiếu an toàn lao động trong sản xuất ở lĩnh vực này
- Do chưa được điều chỉnh bởi luật pháp nên hoạt động của họ
không bị quản lý, giám sát, chế tài
- Văn bản chỉ đạo của Bộ, Ngành liên quan còn ở cấp vĩ mô và
thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể về tổ chức thực hiện đặc biệt là
với đối tượng chưa thuộc phạm vi điều chỉnh của luật Từ đó liên
quan đến hàng loạt các khiếm khuyết do các yếu tố về quản lý:
+ Thiếu văn bản hướng dẫn, đào tạo, huấn luyện về ATLĐ cho
ngành, nghề trong nông nghiệp
+ Thiếu cơ chế, văn bản trong quản lý máy, thiết bị, phương
tiện sản xuất nông nghiệp
+ Thiếu cơ chế, văn bản trong công tác kiểm tra, giám sát quá
trình sản xuất nông nghiệp
Với dữ liệu như trên có thể xem thực trạng lao động với máy,
thiết bị cơ điện ở một số ngành của sản xuất nông nghiệp còn phải
đầu tư nhiều vì chưa an toàn, nguy cơ xảy ra TNLĐ vẫn còn tiếp
diễn Với máy tuốt lúa và máy phun thuốc, vật văng bắn chủ yếu
là lúa và thuốc, chúng tôi không điều tra ở góc độ thương tích
nhưng rõ ràng là nguy cơ xảy ra tai nạn không thể xem nhẹ
3.5 Đề xuất Chương trình quản lý và kiểm soát an toàn lao
động trong sản xuất lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long
Căn cứ trên cơ sở pháp lý về tình hình, chiến lược cơ giới hóa
nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long [4] ,việc tăng cường chỉ
đạo và tổ chức thực hiện An toàn – Vệ sinh lao động trong sản
xuất nông nghiệp [5] và kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi
đề xuất xây dựng Chương trình quản lý và kiểm soát an toàn lao
động với các định hướng, mục tiêu và giải pháp cụ thể để thực
hiện chương trình với tầm nhìn đến năm 2030 nhằm giúp cơ quan
quản lý nhà nước các cấp có cơ sở xây dựng chủ trương, kế
hoạch, chỉ đạo thực hiện việc đảm bảo và nâng cao công tác an
toàn lao động trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất
lúa gạo nói riêng cho khu vực
IV KẾT LUẬN
Thông qua khảo sát và đánh giá thực trạng an toàn lao động
trong sử dụng máy móc, thiết bị sản xuất lúa gạo, nhóm nghiên
cứu đã phân tích cụ thể một số nguyên nhân chủ yếu về quản lý,
máy móc thiết bị, con người và môi trường và qua đó đã đề xuất
xây dựng Chương trình quản lý, kiểm soát an toàn lao động cho
vùng ĐBSCL góp phần vào công tác quản lý, kiểm soát AT,VSLĐ
cho đối tượng là người lao động trực tiếp với máy móc sử dụng
trong nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng nhằm giảm thiểu tai nạn lao động trong thời gian tới như mục tiêu của “Chương trình Quốc gia về AT, VSLĐ giai đoạn 2016-2020” và những năm tiếp theo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Thông báo tình hình tai nạn
lao động 2016 Cục An toàn
Lao động Bộ LĐTBXH
[2] Nguyễn Thúy Quỳnh và
cộng sự (2011) “Nghiên cứu
thực trạng tai nạn thương tích trong nông nghiệp tại Việt Nam”
Đại học Y tế Công cộng [3] Tổ chức Lao động Quốc tế,
(2011) “An toàn và sức khỏe
trong nông nghiệp”.
[4] Cục Thống kê 13 tỉnh, thành phố 2013 Tổng cục
thống kê 2011 Kết quả điều tra
Nông thôn, Nông nghiệp và Thủy sản.
[5] Bộ NN và PTNT (2012)
Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030.
[6] Chỉ thị số 20/2004/CT-TTg
ngày 08/6/2004 Về việc tăng
cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện An toàn Vệ sinh lao động trong sản xuất nông nghiệp.
[7] Chu Văn Thiện (2008)
Nghiên cứu lựa chọn quy trình công nghệ và hệ thống máy, thiết bị cho mô hình sản xuất lúa hướng cơ giới hóa đồng bộ
ở vùng ĐBSH và ĐBSCL Đề
tài KHCN cấp nhà nước KC-07-06/06-10