1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình hiện đại hoá văn học Trung Quốc trong tiếp nhận ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX

7 70 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 405,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết khảo sát sự tiếp nhận quá trình hiện đại hóa văn học Trung Quốc ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX nhằm góp phần hiểu thêm quan hệ văn hóa giữa hai nước trong bối cảnh mới, tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt trong quá trình hiện đại hóa văn học giữa hai nước và góp phần rút ra một số bài học về hiện đại hóa văn học trong thời kì hiện đại.

Trang 1

TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 9 - Tháng 4/2012

QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HỐ VĂN HỌC TRUNG QUỐC

TRONG TIẾP NHẬN Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX

TĨM TẮT

Quá trình hiện đại hố văn học ở Trung Quốc và Việt Nam diễn ra gần như đồng thời,

từ cuối thế kỉ XIX đến những thập niên đầu thế kỉ XX

Bài viết khảo sát sự tiếp nhận quá trình hiện đại hố văn học Trung Quốc ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX nhằm gĩp phần hiểu thêm quan hệ văn hố giữa hai nước trong bối cảnh mới, tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt trong quá trình hiện đại hố văn học giữa hai nước và gĩp phần rút ra một số bài học về hiện đại hố văn học trong thời kì hiện đại

Từ khố: hiện đại hố, văn học, thế kỉ, quá trình, tiếp nhận, Trung Quốc

ABSTRACT

The process of literary modernization in China and in Vietnam took place almost simultaneously from the end of the 19th century to the early decades of the 20th century The research paper aims to investigate the reception of Chinese literary modernization process in Vietnam in the period from the end of the 19th century to the beginning of the 20th century so as to get a better understanding of the cultural relationship between the two countries in the new context as well as to find out the differences and similarities of the process of literary modernization of the two countries The paper also expects to draw some lessons on the literary modernization in modern time

Key words: modernization, literature, century, process, reception, China

1 DẪN NHẬP

Trong nửa đầu thế kỉ XX, quá trình

hiện đại hố văn học ở Trung Quốc diễn ra

khá sơi nổi, gắn với bối cảnh chung của

văn hố khu vực dưới sức tác động ngày

càng mạnh mẽ của văn hố, văn minh

phương Tây từ nửa sau thế kỉ XIX Trong

tính lịch sử cụ thể của nĩ, quá trình này

được hiểu là quá trình xây dựng nền văn

học mới theo hướng thốt khỏi phạm trù

văn học trung đại để từng bước đi vào

phạm trù văn học hiện đại

(*) TS, Trường Đại học KHXH & NV - Đại học

Quốc gia TP Hồ Chí Minh

Những biểu hiện đầu tiên của quá trình hiện đại hố văn học ở Trung Quốc xuất hiện từ những năm cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, khi một số trí thức Trung Quốc bắt đầu quan tâm đến vai trị của đại chúng, chủ trương cải cách văn tự, đổi mới tiểu thuyết, dịch thuật tinh hoa văn hố, văn học nước ngồi Đến giữa thập niên thứ hai của thế kỉ XX, quá trình này thể hiện rõ nét

qua chủ trương của tờ Tân Thanh niên do

Trần Độc Tú sáng lập (1915) với tơn chỉ

“dân chủ”, “khoa học”, phản đối nền văn học cũ, đề xướng văn học mới và nhất là

sau các cuộc vận động: Tân văn học (Hồ

Thích chủ xướng, 1917)(1) và Ngũ Tứ vận

Trang 2

động (1919)(2)

Từ các cuộc vận động này,

nền văn học mới Trung Quốc xuất hiện

nhiều tên tuổi lớn có tiếng vang trên văn

đàn thế giới như Lỗ Tấn, Quách Mạt

Nhược, Tào Ngu

Là một nước có quan hệ văn hoá, văn

học lâu đời với Trung Quốc và cũng đang

trong tiến trình hiện đại hoá văn học dân

tộc, văn học nước ta trong giai đoạn này

tiếp nhận như thế nào và tiếp nhận được

những gì từ những cuộc vận động văn hoá,

văn học ở Trung Quốc? Nghiên cứu quá

trình hiện đại hoá văn học Trung Quốc

trong việc tiếp nhận ở Việt Nam sẽ góp

phần làm rõ đặc điểm của quá trình hiện

đại hoá văn học ở hai nước trong bối cảnh

hiện đại hoá văn hoá ở khu vực, đồng thời

góp phần tìm hiểu sự chuyển biến về văn

hoá, văn học giữa hai nước trong bối cảnh

mới Chúng tôi giới hạn vấn đề trong

khoảng nửa đầu thế kỉ XX vì quan hệ văn

hoá, văn học giữa hai nước từ nửa sau thế

kỉ XX, đúng hơn là từ 1945, đã có những

chuyển biến mới về chất và quá trình hiện

đại hoá văn học của hai nước, hiểu theo

nghĩa là quá trình vận động theo hướng học

theo mô hình văn học phương Tây, cũng

kết thúc vào khoảng thời gian này

2 TỪ NHỮNG TIẾNG VỌNG MƠ HỒ…

Trong khoảng thời gian văn học Trung

Quốc có những chuyển biến mạnh mẽ với

sự phát triển của nền văn học mới, ở ta

cũng có phong trào vận động xây dựng nền

“Quốc văn mới” lấy quốc ngữ làm phương

tiện, chú trọng khảo cứu, dịch thuật tinh

hoa văn hoá Đông – Tây Riêng đối với

văn học Trung Quốc, chúng ta đã dịch hầu

hết các tác phẩm văn học cổ điển Trung

Quốc, dịch cả tác phẩm của Từ Trẩm Á –

một tác giả viết theo lối diễm tình có ảnh

hưởng khá sâu đậm đến sáng tác và đời

sống tiếp nhận văn học ở nước ta trong

thập niên 1920 Tuy nhiên suốt thời gian khá dài, quá trình hiện đại hoá văn học Trung Quốc hầu như không được biết đến

ở nước ta Có chăng cũng chỉ là những tiếng vọng mơ hồ

Theo hồi ức của Vũ Ngọc Phan, năm

1931 ông có dịch in truyện Khổng Ất Kỉ của Lỗ Tấn trên tạp chí Pháp Việt số 59 (1-

12-1931) Tuy vậy, bấy giờ ông không biết

Lỗ Tấn là ai và không phiên âm được tên tác giả Lousin thành Lỗ Tấn, còn tên

truyện thì phiên âm thành Khổng Sĩ Khí

Có tình trạng như vậy vì Vũ Ngọc Phan chuyển dịch từ một bản Pháp văn trong

Anthologie des conteurs Chinois (Tuyển

tập truyện ngắn Trung Quốc) xuất bản ở Paris năm 1930(3)

Trong những năm 30 và đầu những năm 40 của thế kỉ XX, cũng xuất hiện một

số bài viết nói đến nền văn học mới Trung Quốc như: Nguồn gốc văn học nước nhà và

nền văn học mới của Lê Dư trên Nam Phong tạp chí số 190 (1933), Cuộc vận động Tân văn hoá ở Trung Quốc của Trực

Tâm trên Phụ nữ tân văn số 248 (1934),

Văn mới của người Tàu của Nguyễn Tiến

Lãng trên Nam Phong tạp chí số 210 (1934), Trên đàn văn học thế giới, văn học

Trung Hoa ở địa vị nào? của Phan Khôi

trên Đông Dương tạp chí số 28 (1937),

Nhớ lại Lỗ Tấn và lối văn bạch thoại nước Tàu của Quán Chi trên Trung Bắc chủ nhật

số 61 (1941)… Các bài viết trên chỉ giới thiệu sơ bộ về cái lợi của việc dùng văn bạch thoại thay cho văn ngôn, đánh dấu bước chuyển biến mới trong văn học Trung Quốc Lê Dư trong bài viết kể trên, cho rằng cuộc vận động văn học ở Trung Quốc chỉ là chuyện ngôn ngữ, văn tự nên coi đó

là “cha ông ta đã làm trước Tàu ngót nghìn năm rồi” và ông không thể chịu được “lối thơ mới của Hồ Thích không vần, không

Trang 3

luật”(4)

; Nguyễn Tiến Lãng trong bài viết

của mình có nhắc đến Từ Chi Ma, Quách

Mạt Nhược, Lão Xá, Mao Thuẫn, Đinh

Linh và tác phẩm “Đời Ahy” (tức AQ

chính truyện của Lỗ Tấn) nhưng cũng chỉ ở

mức nêu tên tác giả, tên tác phẩm, xác định

cái lợi của việc dùng văn bạch thoại và giới

thiệu để người đọc “Xem qua đủ thấy

người Tàu biết nhận cái ảnh hưởng của

Thái Tây về hình thức cũng như về tinh

thần”(5)

Các bài viết của Trực Tâm, Phan

Khôi, Quán Chi cũng không vượt quá việc

nhìn nhận tiến bộ của văn học Trung Quốc

về phương diện ngôn ngữ, văn tự Phan

Khôi điểm qua cái lợi của văn bạch thoại ở

chỗ “viết và nói có một” và văn bạch thoại

là “văn học sống” để từ đó dự báo văn học

Trung Quốc từ một vị trí kém cỏi hẳn sẽ có

một địa vị trên văn đàn thế giới(6)

, còn Quán Chi ghi nhận sự thắng lợi của lối văn

bạch thoại của Trung Quốc nhờ công “của

Lỗ Tấn với các bạn đồng chí đối với văn

học và dân gian giáo dục nước Tàu”(7)

Quả thật, đến đầu thập niên 1940, nước

ta không có nhiều thông tin và cũng không

nắm được thực chất của quá trình hiện đại

hoá văn học Trung Quốc với tư cách là

cuộc “vận động đấu tranh về nội dung văn

học trong thời kì 1917 – 1927 bắt đầu với

cuộc “cách mạng văn học” và chuyển lần

tới vận động “văn học cách mạng”(8)

Thậm chí, có người như Hoài Thanh còn cho

rằng: “Trung Quốc hiện đại không có gì

nữa, chỉ có cách phải quay về những cái

đẹp cổ xưa như sứ Giang Tây, thơ

Đường”(9)

3 ĐẾN Ý THỨC NGHIÊN CỨU, GIỚI

THIỆU

Trước tình hình như có một “khoảng

trắng” trong quan hệ văn hoá, văn học Việt

– Trung đương đại, Đặng Thai Mai – một

trí thức yêu nước vốn có nhiều “cơ duyên”

với văn hoá Trung Quốc qua nhịp cầu Lỗ Tấn(10) - đã quyết định giới thiệu nền văn học mới Trung Quốc, để qua đó, góp phần tác động đến lớp thanh niên và cả giới sáng tác văn học “đang đi vào lĩnh vực cá nhân chủ nghĩa, than khóc, mơ mộng, bi lụy, an bài”(11) Ông nêu rõ điều này trong Lời giới

thiệu cuốn Tạp văn trong văn học Trung Quốc ngày nay (1945) : “Giới thiệu “Tạp

văn trong văn học Trung Quốc ngày nay” cùng các độc giả nước ta, chúng tôi rất mong rằng các bạn thanh niên nếu ai có chí hướng “từ đời sống đại chúng bước vào lĩnh vực văn nghệ” sau này, sẽ nhận rõ mục đích và ý nghĩa văn học đại chúng trong một thời kì lịch sử Trung Quốc Một nền

„nghệ thuật vị nhân sinh‟ không bao giờ khinh miệt tính cách thời sự của văn nghệ”(12)

Đặng Thai Mai mở đầu cho việc nghiên cứu, giới thiệu văn hoá, văn học hiện đại Trung Quốc bằng hiện tượng Lỗ Tấn, bởi theo ông, Lỗ Tấn không chỉ là người có tâm hồn đồng điệu mà “đằng sau

Lỗ Tấn còn có cả một tư trào văn học, một cuộc đấu tranh, một thời đại oanh liệt với nhiều nhà văn khác nữa”(13)

Tác phẩm đầu tiên của Lỗ Tấn được ông chọn giới thiệu

là bài thơ Người với thời gian, in trong mục Danh văn ngoại quốc, báo Thanh nghị

số 23/1942 Ông giới thiệu Lỗ Tấn là “một nhà nghệ thuật tân tiến của nước Tàu” và

hẹn sẽ dịch, giới thiệu AQ chính truyện,

giảng văn thơ Lỗ Tấn để người đọc Việt Nam có dịp “hiểu” và “gặp” một văn hào lớn của thế giới(14)

Sau Người với thời gian, trong năm

1942 và 1943, cũng trên Thanh nghị, Đặng

Thai Mai giới thiệu Lỗ Tấn khá đều đặn

với nhiều thể loại như Bóng từ giã người (thơ – Thanh nghị số/1942), Người qua

đường (kịch – Thanh nghị số 26/1942),

Trang 4

Khổng Ất Kỉ (truyện ngắn – Thanh nghị số

28/1943), AQ chính truyện (tiểu thuyết –

Thanh nghị số từ số 33 đến 44/1943, Vì sao

tôi viết truyện AQ chính truyện (tạp văn –

Thanh nghị số 48/1943), Chó, mèo, chuột

(tạp văn – Thanh nghị số 50/1943) Nhà

nghiên cứu còn viết một khảo luận công

phu về Lỗ Tấn (Thanh nghị các số 45, 46,

47/1943) Năm 1944, ông tập hợp lại thành

tập sách dày dặn Lỗ Tấn – Thân thế, văn

nghệ, gồm 220 trang Trong đó, phần khảo

luận về thân thế, địa vị Lỗ Tấn trên văn đàn

Trung Quốc 50 trang, còn lại là tác phẩm

Lỗ Tấn tuyển dịch

Ngoài Lỗ Tấn, Đặng Thai Mai còn

dịch và giới thiệu kịch của Trần Lâm, Tào

Ngu (hai vở nổi tiếng Lôi vũ và Nhật xuất)

trên Thanh nghị; viết bài giới thiệu về

Những bước đầu tiên trong cuộc vận động

Tân văn hoá của Trung Quốc (Văn mới số

1/1944), khảo luận về Địa vị văn hoá

Trung Quốc trong học thuật của nước ta

sau này (Thanh Nghị đặc san, số 2/1945)

Về mặt tiếp nhận, Đặng Thai Mai nhận

thức sâu sắc về các cuộc vận động tân văn

hoá, văn học và địa vị của nền văn học mới

Trung Quốc dẫn đến ý thức giới thiệu nền

văn học này ở nước ta Ngoài ra, có thể

thấy, những nghiên cứu, giới thiệu của nhà

nghiên cứu này đã đem đến một luồng sinh

khí mới trong đời sống tiếp nhận văn hoá,

văn học ở nước ta Trương Chính ghi nhận:

“Lúc này trên thị trường sách đang lưu

hành các bản dịch của Tản Đà, Đào Trinh

Nhất, Trúc Khê, Nhượng Tống về văn học

Trung Quốc ở những thời đại xa xưa, thực

tình chúng tôi không mấy thiết tha với

những tác phẩm đượm mùi phục cổ ấy

Còn như Lỗ Tấn, Tào Ngu, là những nhà

văn hiện đại mà lại tiến bộ, tác phẩm của

họ chứa chan sinh khí”(15)

Cũng theo Trương Chính, vào khoảng 1945 – 1946,

nhờ bản dịch Lôi vũ của Đặng Thai Mai,

“làng kịch của ta vốn rời rạc, bỗng hoạt động hẳn lên như con bệnh được tiếp máu Tôi vẫn thường tự nói với mình rằng, sở dĩ công chúng Việt Nam hoan nghênh nhiệt liệt Tào Ngu như thế là có phần đóng góp của ông Đặng Thai Mai Và phần đóng góp

đó không phải là nhỏ”(16)

Trong Lời nói

đầu bản dịch kịch Lôi Vũ viết vào tháng 6 năm 1945, sau in trong cuốn Lôi vũ do nhà sách Đại Chúng xuất bản năm 1946, Đặng

Thai Mai cũng viết: “Trong lúc phiên dịch tác phẩm đầu tiên của Tào Ngu, chúng tôi

đã được nhiều bạn đọc tỏ ý hoan nghênh Nhiều bạn thanh niên ngỏ ý muốn đem Tào Ngu để giới thiệu lên sân khấu nước ta nữa”(17)

Ý kiến của Trương Chính và Đặng Thai Mai phần nào cho thấy tác động tích cực về nhiều phương diện của việc giới thiệu văn học Trung Quốc và tình hình tiếp nhận quá trình hiện đại hoá của nền văn học mới Trung Quốc ở nước ta trong thập niên cuối của nửa đầu thế kỉ XX

4 MỘT VÀI NHẬN ĐỊNH

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu thông tin hoặc không quan tâm đến quá trình hiện đại hoá văn hoá, văn học trong đời sống tiếp nhận ở Việt Nam trong thời gian khá dài, tính đến đầu thập kỉ 40 của thế kỉ XX

Trước hết là chuyện ngôn ngữ, văn tự Nhận định của Lê Dư thật ra không phải

không có cơ sở Vận động Tân văn học ở

Trung Quốc khởi đầu bằng việc cải cách văn tự, điều mà ở nước ta đã thực hiện khá sớm ở Nam Kì lục tỉnh và đặc biệt sôi nổi,

có tính cách mạng trong phong trào Duy Tân đầu thế kỉ XX Đến thập niên thứ hai của thế kỉ XX, chữ quốc ngữ đã thực sự có

vị trí chính thức trên phạm vi toàn quốc và thể hiện ưu thế rõ rệt của mình trong sáng

Trang 5

tác văn chương, sinh hoạt học thuật Mặt

khác, nền văn học mới của Trung Quốc

được viết bằng bạch thoại trong khi người

Việt trước đó chỉ học cổ văn Bạch thoại

hiện đại cũng không giống hẳn bạch thoại

đời trước như lối văn trong Thuỷ hử,

Tây du

Thứ hai là tình trạng kiểm duyệt Ở

nước ta từ rất sớm, chính quyền thực dân

đã đặc biệt chú ý đến kiểm duyệt thông tin

từ Trung Quốc, nhất là từ sau bài học thời

kì “Tân thư” Theo Đặng Thai Mai, “từ đầu

năm 1910 trở đi, chúng đã rào đón rất gắt

không cho tư tưởng mới của Trung Quốc

lọt vào đất nước Việt Nam này nữa Chúng

đã kiểm duyệt từng tờ báo, từng tạp chí mà

người Hoa kiều mang theo để đọc… Bộ

sách Cộng hoà quốc văn là một cuốn sách

dạy cho học sinh Trung Quốc tập đọc và

tập viết văn “mới” Nhưng chính phủ Đông

Dương cũng cấm lưu hành một tập trong số

đó, chỉ vì trong đó có bài tập đọc có mấy

câu về vận động giải phóng dân tộc bị áp

bức”(18)

Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa hơn cả,

theo chúng tôi, xuất phát từ nhận thức của

trí thức Việt Nam về “Trung Hoa đương

đại” và về quá trình hiện đại hoá văn hoá,

văn học dân tộc Từ cuối thế kỉ XIX, Trung

Quốc không còn là “mẫu hình” trong nhận

thức của người Việt, nếu không nói đó là

biểu hiện của một thế giới cũ kĩ, già nua

khi so sánh với mẫu hình phương Tây Đến

đầu thập kỉ 40 của thế kỉ XX, quan niệm

hiện đại hoá học thuật ở nước ta vẫn là

“mượn cái phương pháp khoa học của Tây

phương mà nghiên cứu các vấn đề có liên

lạc đến nền văn hoá của nước mình” như

Dương Quảng Hàm xác định(19) Những

thành tựu của nền văn học mới ở nước ta

cũng được nhìn nhận chủ yếu từ ảnh hưởng

của văn học phương Tây chứ không phải từ

Trung Quốc như ý kiến của Hội Thống Vũ Văn Lợi: “Theo ngu ý, thì những tiểu

thuyết xuất bản từ 1924 đến nay (Cảnh thu

di hận, Kim Anh lệ sử, Tố Tâm v.v…) đều

do những cây bút mới viết ra, chịu ảnh hưởng của văn chương Pháp thì có, chứ không hề chịu một chút ảnh hưởng nào của những cuốn truyện dịch của Tàu”(20)

Thêm vào đó, từ đầu những năm 1930, văn học nước ta đã tương đối hội đủ những điều kiện để trở thành một nền văn học hiện đại Chủ trương “Tự lực mình làm ra những sách có giá trị về văn chứ không phiên dịch sách nước ngoài, nếu những sách này có tính cách văn chương thôi”(21) của nhóm

Tự lực văn đoàn cũng là tinh thần chung của nhiều cây bút đương thời và là chủ trương hợp lí, phù hợp với yêu cầu khẳng định mình của một nền văn học mới, hiện đại Năm 1942, Hoài Thanh – Hoài Chân

đã cho ra mắt Thi nhân Việt Nam, tổng kết

và giới thiệu một thời đại trong thi ca

(1932 – 1941) và Vũ Ngọc Phan trình làng

công trình đồ sộ Nhà văn hiện đại (4 tập, in

lần lượt từ 1942 đến 1945)

Không chỉ không quan tâm đến văn

học mới Trung Quốc, những năm 1930,

giới nghiên cứu và độc giả ở nước ta còn

“xao lãng” cả văn học cổ điển Trung Quốc, đến mức Á Nam Trần Tuấn Khải phải than:

“ai nấy cũng chỉ đua nhau khuynh hướng

về cái học tân thời… Đến nỗi bao nhiêu những cái hay cái giỏi của áng văn chương Trung Quốc ngày xưa không còn có địa vị nào xuất hiện ra nơi học giới”(22) Tuy nhiên, cũng từ cuối những năm 1930, với

sự thắng lợi của Mặt trận Bình dân bên Pháp (1936) và sự thành lập Mặt trận Nhân dân Đông Dương (Mặt trận Bình dân) ở nước ta (1938), sách báo Trung Quốc qua Việt Nam có phần dễ dàng hơn Đồng thời,

đó là sự xuất hiện của những trí thức yêu

Trang 6

nước có khuynh hướng cách mạng đặc biệt

quan tâm đến “nền văn học chiến đấu, đại

chúng và hiện thực”(23) của Trung Quốc,

tiêu biểu là Đặng Thai Mai, dẫn đến sự

xuất hiện của một số công trình nghiên

cứu, giới thiệu văn học hiện đại Trung

Quốc ở nước ta vào những năm đầu thập kỉ

40 của thế kỉ XX như đã kể trên Tiếp nhận

văn học mới ở Trung Quốc qua giới thiệu,

nghiên cứu của Đặng Thai Mai cho thấy

đây chưa phải là chuyện xuất phát từ nhu

cầu nội tại của hiện đại hoá văn học dân

tộc mà trước hết là từ yêu cầu xây dựng

một nền văn học có tính chiến đấu, đại

chúng và hiện thực, gắn với bối cảnh lịch

sử - cụ thể của xã hội Việt Nam trước Cách

mạng tháng 8/1945

Quá trình tiếp nhận nền văn học mới

của Trung Quốc ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỉ XX cũng phần nào cho thấy sự chuyển biến trong quan hệ văn hoá, văn học giữa hai nước trong bối cảnh cùng tiếp xúc và chịu sự tác động mạnh mẽ của văn hoá, văn minh phương Tây Ở cả hai nước đều xuất hiện nhu cầu hiện đại hoá văn hoá nói chung, hiện đại hoá văn học nói riêng, nhưng mối quan tâm đến văn hoá, văn học Trung Quốc ở Việt Nam đã khác xa với truyền thống Đây cũng là hiện tượng có tính tất yếu khi một nền văn học đang vươn

ra khỏi phạm vi khu vực đậm màu sắc văn học trung đại để đi vào con đường có tính quốc tế hoá, từng bước hoà nhịp vào phạm trù văn học hiện đại

Chú thích:

(1)

Huỳnh Minh Đức (1972), Hồ Thích và cuộc vận động tân văn học, Trung tâm học liệu –

Bộ Giáo dục, Sài Gòn

(2)

Viện Khoa học xã hội Việt Nam & Viện Nghiên cứu Trung Quốc (2004), Phong trào

Ngũ Tứ 85 năm nhìn lại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

(3) Vũ Ngọc Phan (1965), “Hồi ức về phê bình văn học trước Cách mạng tháng Tám”, Tạp

chí Văn học (số 9)

(4)

Lê Dư (1933), “Nguồn gốc của văn học nước nhà và nền văn học mới”, Nam phong tạp

chí (số 190), tr 399 – 408

(5)

Nguyễn Tiến Lãng (1934), “Văn mới của người Tàu”, Nam phong tạp chí (số 210), tr

318 – 333

(6)

Phan Khôi (1937), “Trên đàn văn học thế giới, văn học Trung Hoa ở địa vị nào ?” Đông

Dương tạp chí (số 28), tr 19 – 20

(7)

Quán Chi (1941), “Nhớ lại Lỗ Tấn và lối văn bạch thoại nước Tàu”, Trung Bắc chủ nhật

(số 61), tr 24 – 25

(8) Đặng Thai Mai, Lược sử Trung Quốc hiện đại (tâp 1), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958, tr 98

– 99

(9) Đặng Thai Mai (1997), Đặng Thai Mai toàn tập (tập 4), Nxb Văn học, Hà Nội, tr 694

(10) Đặng Thai Mai (1994), “Mấy điều nhớ lại trên đường tiếp xúc với văn học Trung Hoa”

(1959), trong Xã hội sử Trung Quốc, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 283 – 314

(11) Đặng Thai Mai (1997), Toàn tập (tập 4), Nxb Văn học, Hà Nội, tr 389

Trang 7

(12) Đặng Thai Mai (1997), Toàn tập (tập1), Nxb Văn học, Hà Nội, tr 594

(13) Đặng Thai Mai (1994), Xã hội sử Trung Quốc, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 310

(14) Đặng Thai Mai (1942), “Một bài thơ Lỗ Tấn”, Thanh nghị (số 23), tr 16

(15)

Trương Chính (1997), Tuyển tập Trương Chính, (tập 2), Nxb Văn học, Hà Nội, tr 299

– 300

(16)

Thuý Toàn (biên soạn) (1996), Dịch văn học và văn học dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, tr

92

(17) Đặng Thai Mai (1997), Toàn tập (tập 1), Nxb Văn học, Hà Nội, tr 393

(18) Đặng Thai Mai (1998), Toàn tập (tập3), Nxb Văn học, Hà Nội, tr 1000

(19)

Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, Bộ Giáo dục – Trung tâm học

liệu xuất bản, Saigon, tr 461

(20) Hội Thống Vũ Văn Lợi (1941), “Đọc Đại Việt văn học lịch sử của Nguyễn Sĩ Đạo”, tạp chí Tri tân (số 5), tr 8

(21) Tự lực văn đoàn (1934), “Tôn chỉ”, báo Phong hoá (số 87), tr 2

(22)

Á Nam Trần Tuấn Khải (1937), “Mấy lời nói đầu bản dịch tiểu thuyết Hoa Nguyệt

Ngân, 23, Đông Dương tạp chí (số 1), tr 19

(23) Đặng Thai Mai, Lược sử Trung Quốc hiện đại (tập 1), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1958,

tr.21

* Nhận bài ngày 10/6/2011 Sửa chữa xong 24/2/2012 Duyệt đăng 28/2/2012

Ngày đăng: 25/10/2020, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w