1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nền giáo dục Việt Nam theo tinh thần văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng

9 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 450,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, giáo dục đã trở thành nhân tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong yêu cầu phát triển của đất nước, việc đổi mới giáo dục là một cuộc cách mạng.

Trang 1

TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 9 - Tháng 4/2012

PHÁT TRIỂN NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM THEO TINH THẦN VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TỒN QUỐC

LẦN THỨ XI CỦA ĐẢNG

TRẦN MAI ƯỚC (*)

TĨM TẮT

Với bối cảnh tồn cầu hố hiện nay, giáo dục đã trở thành nhân tố quan trọng đối với

sự phát triển kinh tế - xã hội Trong yêu cầu phát triển của đất nước, việc đổi mới giáo dục

là một cuộc cách mạng Nĩ gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, với sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố (CNH, HĐH) đất nước, tạo tiền đề để xây dựng đất nước phát triển nhanh và mạnh trong giai đoạn tới

Từ khố: giáo dục, chiến lược, đại hội, nâng cao, giải pháp

ABSTRACT

In the context of current globalization, education has become an important factor for the socio-economic development Educational reform is a revolution for the requirement of the national development, which has attached the strategy of the socio-economic development of 2011-2020 to the cause of national industrialization and modernization, thus creating good grounds for the rapid and vigorous national development in the coming stage

Key words: educational globalization, strategy, congress, document, revolutionary

cause, to improve, solution

1 MỞ ĐẦU

Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế

tri thức đã thực sự trở thành “đích ngắm”

trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

của nhiều quốc gia Từ sự tác động mạnh

mẽ của khoa học và cơng nghệ hiện đại,

đặc biệt cơng nghệ thơng tin, sinh học, vật

liệu mới, năng lượng… nền kinh tế thế giới

đang dần chuyển mình phát triển một cách

tồn diện, từ kinh tế cơng nghiệp sang kinh

tế tri thức1

Đây là một bước ngoặt cĩ ý

nghĩa lịch sử đối với quá trình phát triển

của các quốc gia trên thế giới nĩi chung và

Việt Nam nĩi riêng Ngày nay, vai trị của

nền kinh tế tri thức được khẳng định, nổi bật

trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất,

(*) ThS, Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí

Minh

vai trị của giáo dục lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Nhận thức rõ điều này, Đảng ta

đã từng khẳng định “cùng với khoa học và cơng nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”[1, 107], chú trọng

“nâng cao chất lượng giáo dục tồn diện” [3, 216] tạo cơ sở vật chất cho nước ta phát triển nhanh và bền vững Trong cương lĩnh xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta cũng

đã nhấn mạnh “giáo dục và đào tạo cĩ sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, gĩp phần quan trọng phát triển đất nước nền văn hố và con người Việt Nam” [3, 77] Tại Đại hội XI, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và cơng nghệ

Trang 2

là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và

đào tạo là đầu tư phát triển” [3, 77]

Với bối cảnh như vậy, giáo dục và đào

tạo đã trở thành nhân tố quan trọng đối với

sự phát triển kinh tế xã hội Các nước trên

thế giới kể cả những nước đang phát triển,

đều coi giáo dục là nhân tố hàng đầu quyết

định sự phát triển nhanh và bền vững của

mỗi quốc gia Do xác định giáo dục và đào

tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách

mạng Việt Nam, từ Nghị quyết của Đại hội

lần thứ IV của Đảng (1979) đã ban hành

Quyết định số 14-NQTƯ về cải cách giáo

dục với tư tưởng: Xem giáo dục là bộ phận

quan trong của cuộc cách mạng tư tưởng;

Thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục

thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành;

Thực hiện tốt nguyên lí giáo dục: học đi

đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động

sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội

Tư tưởng chỉ đạo trên được phát triển bổ

sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu

thực tế qua các kì Đại hội VI, VII, VIII, IX,

X của Đảng Cộng sản Việt Nam Đại hội X

đã xác định mục tiêu giáo dục là nhằm bồi

dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, lòng

tự tôn dân tộc, lí tưởng chủ nghĩa xã hội,

lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật,

tinh thần hiếu học, ý chí tiến thủ lập

nghiệp, không cam chịu nghèo nàn, đào tạo

lớp người lao động có kiến thức cơ bản,

làm chủ năng lực nghề nghiệp, quan tâm

hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với chính trị,

có ý chí vươn lên về khoa học – công nghệ

Nhằm đáp ứng yều cầu của sự nghiệp

CNH, HĐH đất nước và xu thế đổi mới,

hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta chủ

trương phát triển nền giáo dục khoa học,

đại chúng, hướng đến xây dựng một xã hội

học tập thực thụ: “tạo điều kiện để toàn xã

hội học tập và học tập suốt đời” [2, 206 -

207]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng diễn ra từ ngày 11 đến ngày 19- 1-2011 tại thủ đô Hà Nội đã thành công tốt đẹp Ngoài việc bầu ra Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, đại hội đã thông qua Nghị quyết và các văn kiện quan trọng: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội 2011 - 2020, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khoá X tại Đại hội XI của Đảng và Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi) với nhiều đổi mới thiết thực Đại hội XI cũng đã nhấn mạnh việc phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá,

xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc

tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí là khâu then chốt[3, 130 - 131] Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực[3, 321], gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ Xác định rõ giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng nền văn hoá

và con người Việt Nam, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau[3, 103]

2 NỘI DUNG

2.1 Tầm quan trọng của việc phát triển nền giáo dục Việt Nam

Có thể nói rằng, trong giai đoạn mới của sự nghiệp phát triển giáo dục, với bối cảnh quốc tế chứa nhiều thời cơ và thách thức, trước những yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội và xu thế toàn cầu hoá, phát triển kinh tế tri thức[7, 95], yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững,

Trang 3

thì việc đổi mới giáo dục là một cuộc cách

mạng sâu sắc, nó gắn liền với chiến lược

phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, với

sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, nhằm làm

cho đất nước phát triển nhanh hơn, vững

bền hơn, có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ

hơn, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao

hơn trong những giai đoạn tới Trong

không gian giáo dục hội nhập, từ nhu cầu

cấp thiết của sự nghiệp CNH, HĐH, giáo

dục phải đáp ứng những tiêu chuẩn do xã

hội đặt ra và do những nhu cầu đổi mới tự

thân của giáo dục

Hội nhập toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ

hội to lớn để đất nước ra khỏi khu vực các

nước kém phát triển, nhưng cũng đồng thời

là thách thức lớn Thời gian qua, Việt Nam

tuy đã xoá tên khỏi danh sách các nước

kém phát triển, nhưng trình độ kinh tế vẫn

lạc hậu, tăng trưởng chưa bền vững, phân

tầng xã hội và chênh lệch vùng miền chưa

thu hẹp, nguy cơ tụt hậu cao hơn về kinh tế

kéo theo nguy cơ tụt hậu về giáo dục Có

thể xem rằng, sự tụt hậu của giáo dục Việt

Nam là một trong những nguyên nhân dẫn

đến sự chậm phát triển về kinh tế Chúng ta

đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng

xa với các nước phát triển Để đưa đất

nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, kém

phát triển thì con người là yếu tố quyết

định, trong đó vai trò của giáo dục đóng

vai trò quan trọng Muốn vậy, cần tập trung

vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền

giáo dục quốc dân, xây dựng một nền giáo

dục trung thực, lành mạnh và hiện đại, đủ

sức tạo ra chất lượng và hiệu quả thật sự

trong sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển

nguồn nhân lực2, đặc biệt là nguồn nhân

lực chất lượng cao, đủ sức đáp ứng những

đòi hỏi ngày càng cao của kinh tế tri thức,

góp phần vào quá trình phát triển kinh tế và

thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH của Việt

Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay[11, 246] Tuy nhiên, cho đến nay, nền giáo dục nước ta vẫn trong tình trạng chậm đổi mới, thể hiện qua việc được tăng đầu tư tài chính nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao3, công tác tổ chức, cán bộ, chế

độ, chính sách chậm đổi mới, chất lượng giáo dục còn thấp và không đồng đều giữa các vùng miền, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng, quản lí của nhà nước về giáo dục nhiều lúc còn lúng túng, chưa có biện pháp để khắc phục triệt

để xu hướng thương mại hoá, sa sút về đạo đức trong giáo dục Chương trình, giáo trình, tài liệu tham khảo thiếu cập nhật những thông tin mới, kiến thức mới, chậm hiện đại hoá để đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của xã hội, của thực tiễn đặt

ra, đặc biệt là trong quá trình hội nhập4 Thêm nữa, cơ chế hoạt động và hệ thống văn bản pháp quy từ Trung ương chưa đầy

đủ, rõ ràng, thiếu tính cập nhật thường xuyên, việc nhận thức về xã hội hoá giáo dục chưa đồng đều, chưa thống nhất giữa các lực lượng xã hội [10, 502] Ngoài ra, việc đổi mới phương pháp dạy và học đến nay vẫn chưa tạo bước đột phá về chất, tình trạng dạy theo kiểu truyền thống, thụ động, một chiều vẫn còn phổ biến, ít có điều kiện

để thực hành, chưa có thống nhất về phương pháp và tài liệu phục vụ đổi mới phương pháp dạy và học, một bộ phận nhà giáo có trình độ ngoại ngữ, tin học còn hạn chế, việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy và học chưa được thực hiện rộng rãi Đánh giá và nhận định về điều này, văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội Chưa giải quyết tốt

Trang 4

mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô

với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và

dạy người Chương trình, nội dung,

phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới

chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lí giữa

các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất

lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa

đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá Quản lí nhà nước

về giáo dục còn bất cập Xu hướng thương

mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục

khắc phục còn chậm, đang trở thành nỗi

bức xúc của xã hội” [3, 107 – 168]

2.2 Nội dung phát triển nền giáo dục

Việt Nam theo tinh thần văn kiện Đại hội

Nhận thức được tầm quan trọng của

việc đổi mới căn bản, toàn diện và mạnh

mẽ nền giáo dục Việt Nam, nhất là trước

yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền

vững trong bối cảnh thế giới hội nhập và

phát triển, Bộ Chính trị đã nêu rõ bảy

nhóm nhiệm vụ, giải pháp cần thực hiện tốt

để phát triển giáo dục và đào tạo đến năm

2020: Thứ nhất, nâng cao chất lượng giáo

dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân

cách, đạo đức, lối sống cho HSSV, mở

rộng quy mô giáo dục hợp lí Phát triển quy

mô hợp lí cả giáo dục đại trà và mũi nhọn,

rà soát và bổ sung cơ chế, chính sách, tổ

chức phát hiện, bồi dưỡng nhân tài ngay từ

bậc học phổ thông Nhóm giải pháp thứ

hai là đổi mới mạnh mẽ quản lí nhà nước

đối với giáo dục và đào tạo Trong đó cần

“chấn chỉnh, sắp xếp lại hệ thống các

trường đại học, cao đẳng, đội ngũ cán bộ

giảng dạy, cơ sở vật chất, trang thiết bị và

đầu vào của sinh viên, không duy trì các

trường đào tạo có chất lượng kém” Hai

nhóm giải pháp tiếp theo là xây dựng đội

ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục đủ

về số lượng, chất lượng và tiếp tục đổi mới

chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về

phương pháp giáo dục Rà soát toàn bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông, sớm khắc phục tình trạng quá tải, nặng về

lí thuyết, nhẹ về thực hành, chưa khuyến khích đúng mức tính sáng tạo của người học; chuẩn bị kĩ việc xây dựng và triển khai thực hiện bộ chương trình giáo dục phổ thông mới theo hướng hiện đại, phù

hợp và có hiệu quả Nhóm giải pháp thứ

năm, yêu cầu tăng đầu tư nhà nước cho

giáo dục và đào tạo, đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo nhằm góp

phần quan trọng nâng cao chất lượng Hai

nhóm giải pháp cuối cùng, Bộ Chính trị

yêu cầu Chính phủ, các cấp ủy, chính quyền thực hiện để phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 là bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục và tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo Trong quá trình đổi mới và hội nhập hiện nay, giáo dục ở nước ta đã bắt đầu thực hiện lộ trình hội nhập với thế giới và

đã đạt được một số kết quả bước đầu Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo đạt trên 20% tổng chi; việc huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục, đào tạo, phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển Đến năm

2010, tất cả các tỉnh thành, thành phố đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ

sở Tỉ lệ lao động qua đào tạo tăng, năm

2010 đạt 40% tổng số lao động đang làm việc Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tiến

bộ khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội [2, 12 - 13]

Trong điều kiện giáo dục đã trở thành đại chúng, giáo dục đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân và nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao

Trang 5

cho phát triển kinh tế - xã hội, với mạng

lưới trường lớp và quy mô giáo dục phát

triển rộng khắp trên phạm vi toàn quốc thì

việc chuyển từ mô hình giáo dục hiện nay

sang mô hình phát triển mới, năng động

hơn, chất lượng và hiệu quả hơn là một yêu

cầu khách quan Chúng ta cần thật sự thực

hiện phương châm "giáo dục và đào tạo là

quốc sách hàng đầu" [1, 107] Cần nhận

thức rõ “đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát

triển” và cần phải xem việc “phát triển giáo

dục là quốc sách hàng đầu” [3, 130], thực

hiện lời dạy "vì lợi ích mười năm thì phải

trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải

trồng người" [5, 180] của Chủ tịch Hồ Chí

Minh Xây dựng nên một nền giáo dục có

tính toàn diện: Từ thể chất, đến tinh thần,

đạo đức và tri thức; giáo dục toàn dân: xã

hội hoá giáo dục; và một nền giáo dục trọn

đời, một xã hội học tập Tập trung nâng

cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng

giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng

tạo, kĩ năng thực hành, khả năng lập nghiệp

[3, 131] Cần xây dựng tư tưởng: dạy và

học để phục vụ Tổ quốc, giáo dục phải

toàn diện, phải nhằm mục tiêu đào tạo con

người lao động mới, phải coi trọng cả tài

lẫn đức [8, 32] Không những phải giàu về

tri thức mà còn phải có đạo đức cách mạng

Bên cạnh đó, cần nhanh chóng khắc phục

những yếu kém trầm kha nhiều năm qua

của nền giáo dục nước nhà Đảng, Nhà

nước, và toàn thể cộng đồng hãy cùng

hưởng ứng thiết thực phong trào xóa bỏ

tiêu cực trong giáo dục, tôn vinh giá trị

thực học Chúng ta phải phát huy truyền

thống cần cù, thông minh, hiếu học của dân

tộc; biến đó thành một lợi thế cạnh tranh

trong nền kinh tế tri thức

3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN

Xuất phát từ nhận thức: yêu cầu phát

triển đất nước nhanh và bền vững trong bối

cảnh thế giới hội nhập và phát triển, có nhiều cơ hội nhưng cũng lắm thách thức, bắt buộc nền giáo dục nước ta phải được đổi mới toàn diện và căn bản Đặc biệt, từ yêu cầu đổi mới tư duy trong quản lí giáo dục mà Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã có những chỉ thị, nghị quyết và các quyết định quan trọng về giáo dục Để làm được điều này, theo chúng tôi thì cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:

3.1 Trong xu thế hội nhập và mở cửa

như hiện nay cần phải tiến hành đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cơ chế quản lí giáo dục Phát triển môi trường pháp lí về giáo dục hoàn chỉnh theo hướng xây dựng và phát triển một nền giáo dục hiện đại, có tính

mở, phù hợp với khuynh hướng và xu thế vận động của các nước trong khu vực và trên thế giới Nên thay đổi quan điểm về qui trình giáo dục, luôn có một chiến lược linh hoạt và đổi mới để theo kịp một nền kinh tế và một quốc gia đang trên đà phát triển mạnh mẽ như Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu tổng quát mà Đại hội XI

đề ra đó là: Phấn đấu đến năm 2020, nước

ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỉ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững;

vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau [3, 103]

3.2 Tăng cường công tác bồi dưỡng,

phát hiện, giáo dục và đào tạo đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục [12] Các nghiên cứu khoa học quản lí giáo dục mới đây đã cho thấy rằng, chính chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục đóng vai trò quyết định tới hiệu quả của đổi mới

Trang 6

giáo dục và có ảnh hưởng quan trọng đến

sự phát triển cộng đồng; Chất lượng quản lí

quyết định tới chất lượng đào tạo trong các

nhà trường Việc hoàn thiện hệ thống cơ

chế, chính sách trong các khâu tuyển dụng,

bố trí, sử dụng, đãi ngộ được hoàn thiện,

tạo điều kiện cho việc ổn định, thu hút và

phát triển đội ngũ nhà giáo, nhằm đảm bảo

tốt yêu cầu Chỉ thị 40-CT/TW của Trung

ương về xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lí giáo dục đáp ứng công cuộc

CNH, HĐH thời hội nhập, thực hiện chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn

2011 – 2020 theo tinh thần của Nghị quyết

Đại hội lần thứ XI của Đảng

3.3 Có chính sách cụ thể khuyến khích

tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục

theo hướng song phương, đa phương, đa

dạng hoá, đẩy mạnh liên kết đào tạo, huy

động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn

O.D.A, thu hút và phát huy sự đóng góp

của các chuyên gia nước ngoài và người

Việt Nam ở nước ngoài với hướng tiên

quyết là cần xác định rõ lại mục tiêu hợp

tác quốc tế về giáo dục và coi đó như một

tiêu chí, thước đo về chất lượng, thương

hiệu của cơ sở đào tạo Theo tinh thần đó,

giáo dục phải gắn chặt giảng dạy với

nghiên cứu khoa học và tăng cường quan

hệ, hợp tác quốc tế, trao đổi, giao lưu học

thuật Đi đôi với việc đổi mới phương pháp

dạy và học, cần phát huy tối đa nguồn lực

cho công tác hợp tác quốc tế về giáo dục

theo hướng tạo ra bước chuyển mình lớn

để phát triển giáo dục, từng bước chuyển

sang mô hình giáo dục mở, với ưu tiên

hàng đầu trong đào tạo nhân lực, nhân tài

và nâng cao chất lượng, xây dựng nền giáo

dục hiện đại, tiếp cận trình độ tiên tiến của

khu vực và thế giới

3.4 Trong giai đoạn mới của sự nghiệp

phát triển giáo dục, với bối cảnh quốc tế

chứa nhiều thời cơ và thách thức, trước những yêu cầu mới của sự phát triển kinh

tế - xã hội, cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc

tế, nên chăng cần xây dựng một triết lí giáo dục mới cho nền giáo dục quốc dân, với những yêu cầu mới để phù hợp hơn với nền

xu thế, khuynh hướng giáo dục thời kì đổi mới và hội nhập về mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo… Bên cạnh đó, nên kết hợp đồng thời đổi mới việc tuyển sinh theo hướng gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng của xã hội, của nền kinh tế, có tính đến sự phát triển của xã hội và của nền kinh tế trong tương lai trung và dài hạn

Có thể nói rằng, trong giai đoạn mới của sự nghiệp phát triển giáo dục, với bối cảnh quốc tế chứa nhiều thời cơ và thách thức, trước những yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội, cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Việc chúng ta chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với cam kết mở cửa thị trường giáo dục đại học đã tạo áp lực trực tiếp buộc chúng ta phải đổi mới tư duy giáo dục – đào tạo Một khi nguồn nhân lực đã được khẳng định là chìa khoá thắng lợi trong cạnh tranh kinh tế thì hậu quả của khủng hoảng, tụt hậu trong giáo dục – đào tạo mà trực tiếp là đào tạo đại học đối với phát triển kinh tế là vô cùng nặng nề Chính vì vậy, chủ trương hướng toàn bộ nền đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cho mục tiêu đáp ứng nhu cầu của xã hội mà trước hết là nhu cầu của doanh nghiệp, đối tượng có nhu cầu lớn nhất về nhân lực đã qua đào tạo, hay nói một cách nôm na là

chuyển từ "đào tạo cái mình có" sang "đào

tạo cái mà xã hội (cụ thể ở đây là doanh nghiệp) cần" [9, 157] và việc vận dụng các

Trang 7

nguyên tắc của của thị trường trong đào tạo

và sử dụng là cần thiết Nó không những

giải quyết nhanh chóng vấn đề nguồn nhân

lực, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu

cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và

trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành

nghề [3, 130] của hiện tại mà còn trở thành

một động lực to lớn thúc đẩy nước ta phát

triển nhanh và bền vững

3.5 Đẩy mạnh hơn nữa công tác xã hội

hoá giáo dục, huy động các nguồn lực để

tăng cường xây dựng trường, lớp, đầu tư

thêm vào cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục,

ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí

giáo dục, đổi mới phương pháp dạy và học,

gắn với thực tiễn, thực hành nhiều hơn

quyết tâm nâng cao chất lượng giáo dục vì

sự phát triển bền vững của đất nước Xây

dựng một xã hội học tập là tạo dựng hình

ảnh một xã hội có tiền đồ, là cơ sở cho sự

phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay, góp phần thực hiện thành công và thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 –

2015 trong Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI

4 KẾT LUẬN

Tóm lại, có thể nói rằng, những đánh

giá và định hướng phát triển giáo dục và đào tạo mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra

chính là sự tiếp nối và “kết nối” đường lối

chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục, đào tạo trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta Việc tiến hành đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo là một điều kiện quan trọng, tiên quyết để đưa Việt Nam tiến nhanh và vững trên con đường hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế

Chú thích:

1

Khái niệm nền kinh tế tri thức ra đời từ năm 1995 do tổ chức OPDC nêu ra Kinh tế tri thức còn gọi là kinh tế dựa vào tri thức (KBE - Knowledge - Based Economy), là nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, trên cơ sở phát triển khoa học và công nghệ cao Nền kinh tế tri thức có

4 cột trụ là công nghệ cao, nhân lực chất lượng cao, cơ sở hạ tầng kinh tế và thị trường

2

Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), (năm 2005), chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam xếp thứ 53 trong số 59 quốc gia được khảo sát Báo cáo về phát triển con người của Liên hiệp quốc (UNDP) đánh giá: Việt Nam tụt hậu so với Trung Quốc 10 năm, Thái Lan

15 năm, Malaysia 20 năm, Hàn Quốc 25 năm, Singapore 35 năm, Nhật Bản 40 năm Nếu tiếp tục tốc độ phát triển như hiện nay (GDP tăng 8% - 8,6% mỗi năm và GDP/người cứ

10 năm tăng gấp đôi) thì đến năm 2020, Việt Nam vẫn đi sau Thái Lan 15 năm và GDP/người vẫn thấp hơn nhiều nước trong ASEAN

3

Hiện nay, mức đầu tư cho GD-ĐT tính theo đầu người của Việt Nam chỉ bằng 1/8 của

Thái Lan và chỉ bằng 1/20 mức trung bình của các nước phát triển

4

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2006: Giáo dục Việt Nam đang bị tụt hậu so với các nước khác trong khu vực, chỉ có 2% dân số được học trong thời gian trên 13 năm Việt Nam xếp hàng chót trong khu vực châu Á nếu xét trong độ tuổi từ 20 đến 24 chỉ

có 10% học lên tới đại học (so với Trung Quốc 15%, Thái Lan 41%, Hàn Quốc 89%) Tỉ lệ

167 sinh viên/1 vạn dân là rất thấp so với khu vực và các nước phát triển

Trang 8

5

Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, tính đến tháng 9-2009, toàn quốc có 376 trường ĐH, CĐ, tăng gấp 3,7 lần so với 12 năm trước; phân bố ở 40 tỉnh thành Trong số này có 295 trường công lập, đào tạo 87,3% tổng số sinh viên và giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực Quy mô đào tạo từ CĐ lên đến tiến sĩ tăng hằng năm; đến năm 2009 là 1.719.499 sinh viên (SV), tăng 2,4 lần so với năm 1997, trong đó số tuyển mới tăng 4 lần; tỉ lệ SV/vạn dân

là 195, có thể đạt 200 vào năm 2010 Từ năm 2000 đến nay, mỗi năm 159 cơ sở được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học đã đào tạo được 650 tiến sĩ; số lượng nghiên cứu sinh trong nước năm 2009 cao gấp 3,57 lần số đào tạo ở nước ngoài, học viên cao học cao gấp 15,3 lần

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương

Đảng khoá X tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

5 Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

6 Nguyễn Thanh Nga, Trần Mai Ước (2011), Một vài suy nghĩ về đổi mới phương pháp

giảng dạy theo hướng tích cực tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay, Kỉ yếu

HTKH “Nâng cao chất lượng đào tạo – lần 2”, Trường Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc Gia TP.HCM

7 Lâm Quang Thiệp, Suy nghĩ về quản lí trường đại học trong thời kì đổi mới, Tạp chí giáo

dục, số 160, kì 1-4/2007

8 Trần Mai Ước (2010), Ngày tết suy nghĩ về phương pháp giáo dục của Bác Hồ kính

yêu, liên hệ ngành Giáo dục - Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Phát triển

Nhân lực, Số 5

9 Trần Mai Ước (2010), CDIO – Giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào

tạo đáp ứng yêu cầu xã hội, Kỉ yếu HTKH “Xây dựng chuẩn đầu ra và chương trình

đào tạo theo mô hình CDIO”, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

10 Trần Mai Ước (2010), Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh với xu thế hội nhập, Kỉ yếu

HTKH “Xây dựng nhà trường tiên tiến, chất lượng cao thời kì hội nhập”, Sở Giáo dục

và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh

11 Trần Mai Ước (2011), Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao – Khâu đột phá cần

thiết nhằm tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, Kỉ yếu HTKH “Quán triệt, vận dụng Nghị quyết

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI vào giảng dạy các môn Lí luận chính trị

Trang 9

trong các trường đại học, cao đẳng”, Đại học Quốc gia TP.HCM và Đại học Quốc gia

Hà Nội, Tập 1

12 Trần Mai Ước (2010), Cần đổi mới cơ chế quản lí giáo dục, Báo Giáo dục thành phố

Hồ Chí Minh, Số 910, thứ năm, ngày 06/12/2010

13 http://www cpv.org.vn

14 http://www moet.gov.vn

* Nhận bài ngày 22/7/2011 Sửa chữa xong 26/3/2012 Duyệt đăng 2/4/2012

Ngày đăng: 25/10/2020, 22:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w