1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nghiên cứu các điều kiện tối ưu để xác định lượng vết In3+ bằng phương pháp vôn ampe hoà tan hấp phụ, sử dụng điện cực màng thủy ngân trên nền nano cacbon

8 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 329,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các điều kiện tối ưu để xác định In3+ bằng phương pháp vôn-ampe hòa tan hấp phụ làm giàu bằng quá trình tạo phức với resorcin, sử dụng điện cực màng thủy ngân trên điện cực nền cacbon nano paste được nghiên cứu.

Trang 1

NGHIÊN CỨU CÁC ĐIỀU KIỆN TỐI ƯU ĐỂ

HOÀ TAN HẤP PHỤ, SỬ DỤNG ĐIỆN CỰC MÀNG THỦY NGÂN

TRÊN NỀN NANO CACBON

CAO VĂN HOÀNG (*) TRỊNH XUÂN GIẢN (**) TRỊNH ANH ĐỨC (***)

TÓM TẮT

Các điều kiện tối ưu để xác định In 3+ bằng phương pháp vôn-ampe hoà tan hấp phụ làm giàu bằng quá trình tạo phức với resorcin, sử dụng điện cực màng thuỷ ngân trên điện cực nền cacbon nano paste được nghiên cứu Điện cực paste được chế tạo bằng cách trộn giữa dầu tricrezyl photphat và bột cacbon nano theo tỉ lệ khối lượng 4/6, màng thuỷ ngân được tạo đồng thời cùng kim loại phân tích với nồng độ Hg 2+ 5ppm ở thế điện phân -1,2V trong thời gian 120s, nền đệm axetat (pH = 4,34), thời gian cân bằng 15s, tốc độ quay cực

2000 vòng/phút, nồng độ resorcin là 8,5x10 -4 M và pH = 4,34 Các điều kiên tối ưu cho phương pháp Vôn- Ampe hoà tan sóng vuông là: U step = 6mV; f = 30Hz;E = 30mV.

Phương pháp đã cho độ lệch chuẩn rất tốt (RSD = 0,75% ) với nồng độ In 3+ là 1ppb.

Từ khoá: điều kiện tối ưu, phương pháp, điện cực, màng thuỷ ngân

ABSTRACT

preceded by deposition of complex with resorcin using mercury film nano carbon paste electrode have been investigated The paste electrode was made by mixing tricrezyl phosphate oil and nano carbon powder with a 4:6 (w/w) ratio, mercury film plated in situ

expressed as relative standard deviation was very good (RSD = 0.75%) at the

Keywords: optimal condition, electrode, mercury film

1 MỞ ĐẦU (*) (**) (***)

Hiện nay, vấn nạn ô nhiễm môi trường

đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức

khỏe con người, trong đó ô nhiễm do kim

(*) ThS, Trường Đại học Quy Nhơn

(**)

GS.TSKH, Viện Hoá học, Viện KH & CN Việt Nam

loại nặng đang là vấn đề rất bức xúc [1]

Do vậy, việc đánh giá, xử lí mức độ ô nhiễm kim loại nặng là rấ t quan trọng Trong các kim loại nặng, Indi (In) là kim loại ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, có khả năng tích luỹ cao nên trở thành chất độc ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con

Trang 2

người, như: làm rối loạn trí óc, co giật,

động kinh, hôn mê hay làm viêm thậ n, thấp

khớp [1]… Chính vì vậy, việc xác định In

trong các mẫu môi trường như: nước, đất,

không khí, mẫu thực phẩm… là việc rất

cần thiết

Trong tự nhiên indi thường tồn tại

dạng vết (cỡ < 10-6M) và siêu vết (cỡ < 10

-9

M) nên để định lượng nó cần phát triển và

hoàn thiện các phương pháp phân tích có

độ nhạy, độ chọn lọc cao và giới hạn phát

hiện thấp như: UV-Vis, AAS, ICP-AES

là các phương pháp được dùng phổ biến để

xác định lượng vết indi Tuy nhiên, trước khi

tiến hành định lượng, các phương pháp này

thường phải qua các giai đoạn chiết, tách

hoặc làm giàu, nên có thể gây nhiễm bẩn,

mất nhiều thời gian và làm phức tạp quy

trình phân tích Mặt khác, chi phí thiết bị và

chi phí phân tích khá cao nên hạn chế khả

năng ứng dụng Để khắc phục những hạn chế

trên, hiện nay người ta thường dùng các phương

pháp phân tích điện hoá hiện đại mà điển

hình là phương pháp von-ampe hoà tan (SV

– Stripping Voltammetry) [7,8] Yếu tố

quan trọng quyết định độ nhạy của phương

pháp SV là điện cực làm việc (WE

-working electrode) Hiện nay, đa số các

nghiên cứu về phương pháp SV trên thế

giới cũng như ở nước ta đều sử dụng điện

cực giọt thuỷ ngân treo (HMDE - Hanging

Mercury Drop Electrode) hoặc điện cực

giọt thuỷ ngân tĩnh (SMDE - State Mercury

Drop Electrode) là những loại điện cực khó

sử dụng và khó bảo quản Do vậy, gần đây

đã có nhiều nghiên cứu sử dụng điện cực

màng thuỷ ngân, màng bismut, màng vàng

hoặc điện cực biến tính… trên các nền

khác nhau

Từ năm 1990 đến nay các nhà phân

tích trên thế giới đã nghiên cứu và chế tạo

ra các loại điện cực khác nhau để xác định

thành phần, hàm lượng các chất [2,4,5,6,9]… Ở Việt Nam, hiện nay chưa

có công trình nghiên cứu nào về lĩnh vực

điện hoá chế tạo và ứng dụng điện cực

màng trên nền cacbon nano để phân tích

hàm lượng các kim loại trong các đối tượng môi trường

Xuất phát từ những vấn đề trên, trong bài báo này chúng tôi thông báo kết quả nghiên cứu các điều kiện tối ưu để xác định vết indi bằng phương pháp von-ampe hoà tan hấp phụ dùng điện cực màng thuỷ ngân trên nền cacbon nano (MFE/NC)

2 THỰC NGHIỆM

2.1 Thiết bị, dụng cụ và hoá chất

2.1.1 Thiết bị và dụng cụ

Máy điện hoá 797 VA Computrace

(Metrohm, Thụy Sỹ): gồm máy đo, bình

điện phân và các điện cực gồm: điện cực

làm việc MFE/NC (d = 3,0 ± 0,1mm), điện cực so sánh Ag/AgCl/ KCl 3M và điện cực phụ trợ Pt; Máy rung siêu âm, lò nung,

kẹp mm

- Micropipet các loại: 0,5 ÷ 10µL; 10 ÷

100µL; 100 ÷ 1000µL…

2.1.2 Hoá chất

- Tricrezyl photphat (Mĩ), Cacbon nano (Nhật), resorcin (Merck) CH3COONa (Merck); CH3COOH (Merck); các dung dịch resorcin, Hg2+, In3+, Pb2+, Cd2+, Cu2+,

chuẩn sử dụng cho AAS có nồng độ

loại PA (Trung Quốc)

- Nước cất dùng để pha chế hoá chất và tráng rửa dụng cụ là nước cất hai lần đã

được lọc qua thiết bị lọc nước siêu sạch (Ф = 0,2µm)

Nước cất, các hoá chất, mẫu phân tích đều được bảo quản trong chai nhựa PE

Trang 3

hoặc chai thuỷ tinh sạch.

2.3 Chuẩn bị điện cực l àm việc (WE)

2.3.1 Chuẩn bị điện cực nền cacbon

nano

Cân 0,5 g cacbon nano, sau đó đem

cacbon nano xốp Sau khi loại bỏ oxy

hấp thụ, bột cacbon nano được trộn đều

não theo tỉ lệ thích hợp giữa cacbon

nhão được đem đi rung siêu âm để đánh

tơi bề mặt của cacbon nano ta được bột

vào ống teflon dài 52 mm, đường kính

trong (3 ± 0,1 mm), phần trên có chố t kim

loại có thể kết nối với máy điện hoá như

một điện cực làm việc

2.3.2 Tạo màng thuỷ ngân trên bề mặt

điện cực nền cacbon nano (MFE/CN)

Màng thuỷ ngân có thể được tạo ra

theo kiểu in situ hoặc kiểu ex situ Tạo

màng kiểu ex situ bằng cách điện phân dd

Hg2+ có nồng độ thích hợp ở thế và thời

gian xác định và cho điện cực MFE/NC

quay với tốc độ không đổi Sau đó tia rửa

WE cẩn thận bằng nước cất rồi nhúng WE

vào dung dịch nghiên cứu Kiểu in situ

bằng cách điện phân đồng thời dd Hg2+với

dung dịch nghiên cứu

2.4 Tiến trình khảo sát các điều kiện

tối ưu để phân tích indi (III)

Theo [1,4] và sau khi khảo sát sơ bộ,

chúng tôi cố định các điều kiện ban đầu

cho các thí nghiệm tiếp theo nhau như sau:

- Đuổi oxi hoà tan 300 s;

- Thế làm sạch điện cực (Eclean) 0,4;

- Thời gian làm sạch điện cực (tclean) 30 s;

- Thế điện phân làm giàu -1,2 V;

- Thời gian điện phân làm giàu 120;

- Tốc độ quay điện cực: 2000

vòng/phút;

- Thời gian nghỉ: 10 s; Quét thế: -0,4 ÷

-0,9 mV;

- Biên độ xung: 15 mV; Tần số Hz:15;

- Bước nhảy thế: 0,006 V

Sau đó tiến hành khảo sát các thông số

bằng phương pháp đơn biến và đa biến theo mô hình hoá thực nghiệm

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đặc tính von-ampe hoà tan hấp

phụ của In 3+ trên điện cực màng thuỷ

ngân trên nền cacbon nano (MFE/NC)

Theo [1] chúng tôi chọn nền đệm axetat (pH = 4÷5) để xác định In3+ theo

phương pháp von-ampe hoà tan hấp phụ

catôt xung vi phân (DP-AdSV)

Hình 1: Các đường von-ampe hoà tan

vòng trong các trường hợp (1), (2), (3)

15 ppb; [Hg2+] = 5 ppm; Edp= -1200 mV;

Trang 4

[resorcin] = 8,75.10-4 M; tdp = 60 s; ω =

2000 vòng/phút; Đuổi oxi hoà tan bằng N2

trong 300s; Erange= -0,4mV -0,9 mV; tốc

độ quét thế v = 90m V/s; mode cyclic

Voltammetry (CV)

(1) Dung dịch nghiên cứu chỉ chứa

nền đệm axetat, dung dịch Hg2+, không

chứa dung dịch In3+và resorcin, (2) Dung

dịch nghiên cứu chỉ chứa đệm axetat,

resorcin và Hg2+, không chứa In3+, (3)

Dung dịch nghiên cứu chứa đồng thời đệm

axetat, resorcin, In3+ và Hg2+, thu được kết

quả ở hình 1a

Các đường Von-Ampe vòng cho thấy:

Trong trường hợp (1): trên đường

Von-Ampe vòng không xuất hiện dòng đỉnh hoà

tan của In Điều này chứng tỏ trong khoảng

thế nghiên cứu, nền đệm axetat không gây

ra hiệu ứng điện hoá trên điện cực làm việc

và do vậy, sẽ không ảnh hưởng đến tín hiệu

hoà tan của In, Trong trường hợp (2): trên

đường von-ampe vòng cũng không xuất

hiện - đỉnh hoà tan của In (xem hình 1a),

điều này chứng minh rằng thuốc thử

resocin trên màng thuỷ ngân không có tín

hiệu về điện hoá Trong trường hợp (3) trên

đường von-ampe hoà tan xuất hiện đỉnh

hoà tan rõ rệt của In (xem hình 1a) ứng với

thế đỉnh Ep(In) = -660mV Để nghiên cứu

độ ổn định của điện cực và độ lặp lại của

phương pháp, chúng tôi tiến hành ghi

đường vôn ampe vòng lặp lại 4 lần với các

nồng độ khác nhau (hình 1b) Từ kết quả

hình 1b cho thấy phép đo lặp lại khá tốt với

RSD = 0,75 và rất tuyến tính cho những

nồng độ khác nhau, vì vậy chúng tôi lựa

chọn màng thuỷ ngân và chất tạo phức là

resorcin cho phép xác định In

3.2 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng

3.2.1 Ảnh hưởng tỉ lệ khối lượng nano

cacbon và tricrezyl photphat (TCP)

Để khảo sát sự ảnh hưởng của tỉ lệ

khối lượng nano cacbon (mC) và dầu TCP

pha trộn các tỉ lệ khối lượng khác nhau và

thu được kết quả như ở bảng 1

Bảng 1: Khảo sát ảnh hưởng của I p

mC:

mTCP

Hiện

tượng

Quá

Hơi

uớt

Hơi

khô Khô

Ip(In) nA

Không

đo được

RSD - 59,13 14,46 5,52 42,41

[In3+] = 3ppb; Edp= -1200mV; [resorcin] = 8,75.10-4M; tdp=120s; ω= 2000 vòng/phút;

Eclean= 0,4V; tclean= 30s; Đuổi oxi hoà tan

300s; Erange = -0,4mV  -0,9mV; Tốc độ quét thế v = 35,5mV/s

Để đánh giá khả năng ảnh hưởng của

nghiệm với các nồng độ Hg2+ khác nhau Qua hình 4 cho thấy khi tăng nồng độ

Hg2+, Ip của In tăng nhanh, nhưng khi [Hg2+]>5ppm thì Ipcủa In tăng không đáng

kể Giá trị [Hg2+] = 5ppm (Ip (In)=566 và RSD=5,5-) là thích hợp cho các thí nghiệm tiếp theo

Hình 2 Ảnh hưởng của nồng độ thuỷ

ngân đến Ip của In

Trang 5

ĐKTN: n=5; Như bảng 1.

3.2.3 Ảnh hưởng của oxi hoà tan (DO)

Tiến hành ghi đường von-ampe hoà tan

trong hai trường hợp đuổi và không đuổi

DO ở các nồng độ indi khác nhau được kết

quả về độ nhạy lần lượt là (nA/1ppb):

350nA/ppb và 125nA/pb, giới hạn phát

hiện (ppb) lần lượt là: 0,1ppb và 0,4ppb, hệ

số tương quan R lần lượt là 0,998 và 0,959

Như vậy trong trường hợp đuổi oxy cho kết

quả tốt hơn khi không đuổi oxy Điều này

có thể giải thích là do oxy có mặt trong

dung dịch phân tích có E1/2gần với E1/2của

In nên làm ảnh hưởng đến đường hoà tan

của In, hơn thế nữa sự có mặt của oxy hoà

tan có thể oxy hoá chất tạo phức resocin

làm giảm độ nhạy của phép phân tích

3.2.4 Ảnh hưởng của thế hấp phụ

Việc khảo sát được thực hiện với dung

dịch 2ppb Các điều kiện khác: pH = 4,34;

thế điện phân -1,2V, thời gian điện phân

120s, thời gian hấp phụ 10s, tốc độ quét

35,5mV/s, Cresorcinol= 8,5.10-4M

Vì thế, hấp phụ là thế lúc bắt đầu quét,

do đó thay đổi thế hấp phụ bằng cách mở

rộng khoảng quét thế về phía dương

Ta thấy rằng cường độ dòng khử tăng

khi thế hấp phụ dịch về phía dương Điều

này chứng tỏ rằng phức của In3+ với

Resorcinol là phức mang điện tích âm Chúng tôi chọn thế Ehp= -0.4V làm thế hấp phụ cho phức In với Resorcinol Vì thế, dịch chuyển về phía dương hơn thì đồng làm ảnh hưởng đến pic của In và gần với thế hoà tan của Hg

3.2.5 Phương pháp mô hình hoá- tối

ưu hoá thực nghiệm

Thiết kế thực nghiệm là một phương pháp thống kê nhằm tìm ra các điều kiện tối ưu và mô hình hoá mặt mục tiêu Thiết

kế thực nghiệm thống kê đánh giá một cách chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến hàm mục tiêu c ần nghiên cứu

Trong bài báo này chúng tôi tìm điều kiện tối ưu cho 4 yếu tố ảnh hưởng đến

cường độ dòng là: thế điện phân, tốc độ

quét, nồng độ resorcinol và pH Các thông

số thực nghiệm khác được cố định: thời

gian điện phân 120s, thế hấp phụ -0,4V, thời

gian hấp phụ 10s, tốc độ khuấy 2000rpm, nồng độ In3+2ppb, khoảng quét thế (-0,4÷

-0,9V) Để loại bỏ ảnh hưởng gây ra sự

nhiễm bẩn hệ thống làm cho mô hình tìm

-Iplanklàm hàm mục tiêu để nghiên cứu

Số thí nghiệm cần làm là 31.2 = 62 thí nghiệm ở bảng 2

Bảng 2: Số thí nghiệm cần được tiến hành theo mô hình

Các thí nghiệm phải được tiến hành một cách ngẫu nhiên theo các gi á trị mã hoá Để tránh sai số hệ thống, mỗi thí nghiệm được lặp lại 2 lần, như vậy tổng số thí nghiệm được tiến hành là 31x 2 = 62

Trang 6

Bảng 3: Các mức giá trị và khoảng biến thiên của các yếu tố

biến thiên

Điểm

sao (-2)

Mức thấp (-1)

Mức gốc (0)

Mức cao (+1)

Điểm

sao (+2)

C: CResorcinol(×10-4Mol/l) 0,5 4,5 8,5 12,5 16,5 4

Phương trình mã hoá thu được nh ư sau:

Y=-7568,45 – 423,20x + 123,31y +64,72z + 140,62 t – 32,93x2 + 14,4xy – 1,43y2 –

4,21yt – 4,23z2-155,25t2.

Khảo sát mặt mục tiêu ta thu được:

Hình 3: Mô hình mặt mục tiêu mô tả ảnh hưởng của hai nhân tố lên hà m mục tiêu khi cố

định các nhân tố còn lại ở mức gốc (điểm 0)

Bảng 4 : Bảng phân tích phương sai của hệ số hồi quy

sau khi đã loại bỏ hệ số không có nghĩa

Nguồn

phương sai

Tổng bình

phương Bậc tự do

TB bình

2

Ip

0 100

0 200

300

Nong do R

-2 0 -2 2

Toc do quet

Hold Values The dien phan 0

pH 0

Surface Plot of Ip vs Nong do R, Toc do quet

2

Ip

0

0 100

300

toc do quet

-2 0 -2

2

The dien phan

Hold Values Nong do R 0

pH 0

Surface Plot of Ip vs toc do quet, The dien phan

2

Ip

0

0 200

pH

400

-2

0 -2 2

The dien phan

Hold Values Toc do quet 0

Surface Plot of Ip vs pH, The dien phan

2 0

Ip

100

0 200

300

Nong do R

-2 0 -2 2

The dien phan

Hold Values Toc do quet 0

pH 0

Surface Plot of Ip vs Nong do R, The dien phan

2

Ip

0

0 200

pH

400

-2

0 -2

2

toc do quet

Hold Values The dien phan 0 Nong do R 0

Surface Plot of Ip vs pH, toc do quet

2

Ip

0

0 200

pH

400

-2 0 -2 2

Nong do R

Hold Values The dien phan 0 Toc do quet 0

Surface Plot of Ip vs pH, Nong do R

Trang 7

Kết quả khảo sát ảnh hưởng của Cd,

Pb đến tín hiệu hoà tan của In cho thấy

Pb không cản trở phép xác định In khi

nồng độ của Pb nhỏ hơn nồng độ của In

200 lần, còn Cd ảnh hưởng rất lớn đến tín

hiệu hoà tan của In Trong thực tế, đối

với các mẫu môi trường thường nồng độ

Pb không lớn hơn In quá 20 lần và như

vậy không lo lắng về ảnh hưởng của Pb,

đối với Cd khi nồng độ lớn hơn 50 lần thì

gây ảnh hưởng đến Ip của In Để khắc

phục ảnh hưởng của Cd đối với Ipcủa In,

chúng tôi cho thêm dung dịch KBr 0,1M

vào dung dịch phân tích thì khắc phục

được khả năng ảnh hưởng của Cd đối với

Ipcủa In

3.2.7 Độ lặp lại của phương pháp

MFE/NC được xác định thông qua độ

lệch chuẩn (RSD) của In Cố định các

điều kiện thí nghiệm đã được khảo sát ở

trên Tiến hành thí nghiệm với [In3+] =

trong cùng một dung dịch nghiên cứu,

thu được kết quả ở hìn h 4

Kết quả thu được cho thấy: trong

cùng một thí nghiệm, phép xác định In

bằng phương DP- AdSV dùng điện cực

MFE/NC đạt độ lặp lại rất tốt với RSD =

0,4 % khi n = 9

Hình 4 Các đường vôn-ampe hoà tan

hấp phụ catôt của In ghi được khi đo lặp lại 9 lần: pH = 4,34; thế điện phân -1,2V, thời gian điện phân 120s, thời gian hấp phụ 10s, tốc độ quét 35,5mV/s,

C resorcinol = 8,5.10 -4 M

4 KẾT LUẬN

Đã xác định được các điều kiện tối

ưu để xác định inđi bằng phương pháp

von-ampe hoà tan hấp phụ sử dụng điện cực MFE/NC Điện cực MFE/NC cho độ lặp lại rất tốt và độ nhạy khá cao (khoảng 500nA/1ppb In) từ đó có thể cho rằng với

điện cực này có thể xác định In với hàm lượng siêu vết Để kết luận chính xác hơn

cần nghiên cứu tiếp khoảng tuyến tính, giới hạn phát hiện, giới hạn định lượng

và kiểm soát phương pháp để từ đó xây dựng một quy trình hoàn chỉnh

Trang 8

1 Lê Huy Bá (2006), Độc học môi trường , Nxb ĐHQG TP Hồ Chí Minh.

2 Carvalho L.M., Nascimento P.C., Koschinsky A., Bau M., Stefanello R.F., Spengler

C., Bohrer D., Jost C (2007), Simultaneous determination of cadmium, lead, indium,

copper, and thallium in highly saline sample by anodic stripping voltammetry (ASV) using mercury-flim and bismuth-flim electrodes”, Electroanalysis 19 (16), pp.

1719-1726

bismuth indium telluride materials by anodic stripping voltammetry, Volume 8, Issue

8-9, pages 773–777

4 Zhang, Jialing; Shan, Yujuan; Ma, Jing; Xie, Li; Du, Xiaoyan (2009), Simultaneous

Determination of Indium and Thallium Ions by Anodic Stripping Voltammetry Using Antimony Film Electrode, Volume 7, Number 4, pp 605-608(4).

5 Ivan Svancara, Marie Hvizdalova, Kurt Kalcher, and Radomir Novotnl (2007), A

Microscopic Study on Carbon Paste Electrodes, Electroanalysis, pp 61-65.

6 Ivan Hotovy, Marian Voj (2008)s, Bismuth film electrodes forheavy metals

determination, Technical paper 14, pp 491-498.

7 Wang J (2000), Analytical electrochemistry, VCH Publishers Inc, USA.

8 Wang J., Deo R.P., Thongngamdee S., and Ogorevc B (2006), Effect of surface-active

compounds on the stripping voltammetric response of bismuth film electrodes,

Electroanalysis 13 (14), pp 1153-1156,)

9 A.Benvidia; M Mazloum Ardakania (2009), Subnanomolar Determination of Indium

by Adsorptive Stripping Differential Pulse Voltammetry Using Factorial Design for Optimization, Analytical Letters, Volume 42, Issue 15 , pages 2430 – 2443.

* Nhận bài ngày 2/6/2011 Sữa chữa xong 23/5/2012 Duyệt đăng 5/6/2012

Ngày đăng: 25/10/2020, 22:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w