Bài viết đã chỉ ra nhu cầu mãnh liệt của người dân trong tục thờ cúng các vị nữ thần được thờ ở các Dinh Bà trên đảo, về sự đa dạng của văn hóa tộc người và sự đa dạng của văn hóa vùng miền thể hiện trong tín ngưỡng thờ Bà ở các ngôi Dinh.
Trang 1TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 20 - Tháng 4/2014
THỜ NỮ THẦN Ở PHÚ QUỐC: TỪ TÍN NGƯỠNG
THỜ BÀ THUỶ ĐẾN TÍN NGƯỠNG THỜ THÁNH MẪU
TRẦN THỊ AN (*)
TĨM TẮT
Sử dụng các kiến thức điền dã các ngơi dinh thờ nữ thuỷ thần ở Phú Quốc: Dinh
Bà Dương Đơng, Dinh Bà Hàm Ninh, Dinh Bà Ơng Lang, Dinh Bà Cửa Cạn, bài viết đã chỉ ra nhu cầu mãnh liệt của người dân trong tục thờ cúng các vị nữ thần được thờ ở các Dinh Bà trên đảo, về sự đa dạng của văn hố tộc người và sự đa dạng của văn hố vùng miền thể hiện trong tín ngưỡng thờ Bà ở các ngơi Dinh Từ điểm nhìn đương đại, bài viết
đã chỉ ra sự vận động của tín ngưỡng thờ Bà ở các Dinh từ tục thờ bà Thủy của các cư dân ngư nghiệp (trên đảo) và người đi biển (ở trên đảo và ở các vùng khác) đến tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu của các tầng lớp cư dân (trên đảo, trong nước và nước ngồi) với tư cách là một hệ thống mở để cĩ thể đáp ứng nhu cầu gửi gắm niềm tin của người dân trước những biến đổi mau lẹ của đời sống hơm nay
Từ khố: tín ngưỡng, thờ cúng, nữ thần, thờ Thánh Mẫu
ABSTARCT
Based on countryside knowledge of temples with naiad worship in Phu Quoc such as: Lady Duong Dong’s Temple, Lady Ham Ninh’s Temple, Lady Ong Lang’s Temple, Lady Cua Can’s Temple, the article has shown the strong demand of the people in the practice
of worshipping goddesses at Ladies’ Temples on the island as well as the diversity of the ethnic culture and the regional culture shown in goddess worshipping faiths at different Ladies’ Temples Based on the contemporary points of view, the article points out the developments of the naiad worshipping beliefs at the temples from naiad worshipping beliefs of the fishery residents (living on the island) and the seafarers (living on the island and in other regions) to “Thanh Mau” worshipping beliefs of different classes of the people (living on the island as well as in Vietnam and foreign countries) as an open system which can meet the people’s needs of relying their faiths in facing the rapid change of modern life
Keywords: belief, worship, goddess, “Thanh Mau” worship
*Là một hịn đảo lớn nhất trong số 22
hịn đảo của huyện đảo Phú Quốc với diện
tích là 574 km² (tồn huyện đảo là 593,05
km²), đảo Phú Quốc là nơi cĩ cảnh sắc
thiên nhiên đẹp, đ a hình đa dạng: cĩ núi,
cĩ sơng, cĩ suối và bao quanh tứ bề là biển
Với đặc điểm này, Phú Quốc được coi là
một nơi trú ẩn an tồn, một nơi dừng chân
lí tưởng trên các chuyến hải hành hay những chuyến tìm đất nên đã đĩn nhận nhiều đợt di dân Bên cạnh đĩ, do nhiều cơ duyên trong l ch sử, đảo Phú Quốc cũng đã
là nơi dừng chân, nơi trú ngụ của một số nhân vật l ch sử quan trọng Những đặc điểm đ a lý, l ch sử này khiến cho Phú Quốc trở thành nơi hội tụ nhiều luồng văn hĩa và sự đan xen văn hố của các cộng đồng dân cư trong quá trình cộng cư và đã
Trang 2làm nên nét đặc sắc của văn hoá nơi đây
Bao quanh là biển, do vậy, để bám trụ
lại hòn đảo này, dù không hành nghề chài
lưới thì người dân nơi đây cũng phải
thường xuyên đối diện với biển; họ đương
nhiên phải thích ứng với biển để tồn tại,
phải nương vào biển để sống Sự thích ứng
ấy dẫn đến sự gắn bó sâu sắc với vùng đất
đang sống; sự nương tựa đó dẫn đến một
lòng biết ơn và tình yêu với biển khơi Nó
đã được chưng cất thành những biểu tượng
của đời sống tâm linh con người Phú Quốc
Một trong những biểu hiện của tính đa sắc
thái văn hóa, tính thích ứng và nương tựa
vào biển cả của Phú Quốc là tín ngưỡng
thờ nữ thần, mà người dân ở đây quen gọi
là Bà và di tích thờ Bà được gọi là Dinh:
Dinh Bà
1 VỀ HỆ THỐNG DINH BÀ Ở
ĐẢO PHÚ QUỐC
Đảo Phú Quốc có 4 ngôi Dinh Bà, đó
là: Dinh Bà Dương Đông (thờ Thủy Long
Thánh Mẫu) ở th trấn Dương Đông; Dinh
Bà Ông Lang (còn gọi là Dinh Bà Lớn
Tướng, thờ bà Lê Kim Đ nh) ở ấp Ông
Lang, xã Cửa Dương, Dinh Bà Hàm Ninh
(thờ Thiên Ya Na ở xã Hàm Ninh), Dinh
Bà Cửa Cạn (thờ bà Kim Giao) ở xã Cửa
Cạn Phú Quốc có 5 khu dân cư chính thì
các di tích thờ Bà trên nằm ở 3 khu dân
cư/làng chài: th trấn Dương Đông (vốn là
một làng chài lớn của đảo), làng chài Hàm
Ninh và làng chài Cửa Cạn
1.1 Dinh Bà Dương Đông
Nổi tiếng nhất đối với du khách là
Dinh Bà Dương Đông (nằm trên đường Võ
Th Sáu, Khu 1, Th trấn Dương Đông)
trông ra biển, dưới chân núi Dinh Cậu
Dinh Bà Dương Đông thờ Thuỷ Long
Thánh Mẫu
Dinh Bà Dương Đông được bài trí đơn
giản: từ ngoài đường vào, qua một cái sân
nhỏ có một bức bình phong là một gian thờ Mẫu có tên là Thủy Long Thánh Mẫu cung Phía trong, không gian thờ cúng gồm một gian thờ có ba ban: ban chính giữa thờ Mẫu
có bức đại tự: “Vạn cổ anh linh”, ban bên phải thờ Tiền hiền, ban bên trái thờ Hậu hiền Ban thờ Mẫu được thiết kế gần giống với điện thờ Tứ phủ gồm có phía trên thờ Mẫu, và phía dưới là một khám nhỏ Nhìn vào cách bài trí này, có thể thấy ở đây sự hội nhập giữa việc thờ Mẫu với tín ngưỡng thờ các v khai canh (tiền hiền, hậu hiền) – vốn là một bước đệm cho việc xây dựng biểu tượng của tín ngưỡng thờ thành hoàng
từ Trung Bộ vào Nam Bộ Bên trái của lối vào gian thờ là một tủ quần áo của Mẫu do người dân cúng Bà, tủ quần áo này giống như tủ quần áo mà ta thấy ở đền thờ bà Chúa Xứ (Châu Đốc, An Giang)
Về nhân vật được thờ, một số tài liệu cho biết, Dinh thờ bà Kim Giao, công chúa của vương quốc Khmer có công khai phá đảo Dinh Bà Dương Đông và Dinh Bà Cửa Cạn đều cùng thờ Bà Trong khi đó, Trương Thanh Hùng lại cho rằng, dinh Bà Dương Đông thờ Thủy Long Thánh Mẫu, được gọi là Dinh Bà Ngoài để phân biệt với Dinh Bà Trong thờ Kim Giao1 Điều này cũng được xác nhận thêm bởi ch Tư, người trông coi Dinh Bà Dương Đông trong d p điền dã tháng 6/2013 của chúng tôi Ch Tư cho biết: Dinh Bà Dương Đông thờ Thủy Long Thánh Mẫu, trong Dinh hiện có bức cuốn thư đề Thủy Long Thánh Mẫu cung khẳng đ nh đây là cung điện thờ Thánh Mẫu Hiện nay, bức cuốn thư được trang trí rất đẹp nhưng một bức ảnh khác (nguồn Internet, không rõ năm chụp) cho thấy vào năm 1970, năm chữ này chỉ mới được viết lên tường (phụ đề dưới cụm từ trên là “Kỉ niệm tái thiết năm canh tuất ngày 18-10-1970”) Bức ảnh này cho ta
Trang 3biết ít nhất là việc đ nh danh “Thủy Long
Thánh Mẫu” đã có từ năm 1970 Hai bên
cửa ra vào của gian thờ Thánh Mẫu (cùng
với bức ảnh ghi năm tu sửa 1970) là đôi
câu đối:
Siêu tứ thủy dĩ vi vương công năng phối địa
Mại quần long nhi lập cực đức khả tham thiên
Có nghĩa là:
Vượt qua bốn bể làm vương, công sánh
cùng với Đất
Cao hơn cả đoàn rồng để lập ngôi cao, đức
lớn ngang Trời
Đôi câu đối này đã dùng 2 chữ “Thủy”
và “Long” ở 2 vế để chỉ danh xưng Thủy
Long của Mẫu và dùng những lời tán tụng
để ca ngợi công đức sánh ngang Trời, Đất
của ngài Điều này cho thấy người soạn đôi
câu đối đã bày tỏ lòng tôn kính bà Thủy
Long với tư cách là v vua biển mà công
đức được đánh giá ở mức tuyệt đối
1.2 Dinh Bà Ông Lang
Cách th trấn Dương Đông 7 km về
phía Tây Bắc là một ngôi Dinh Bà Ông
Lang (ở ấp Ông Lang, xã Cửa Dương) là
một ngôi dinh nằm sát bờ biển phía Bắc
đảo Nằm trong một khuôn viên rất rộng,
nhưng Dinh cũng chỉ mới có một gian thờ
nhỏ Theo đại tự ghi ngay cửa vào Dinh
thờ, Dinh được dựng năm 1946, và mới
được tu sửa lại năm 2007 với kiến trúc rất
mới Trong gian thờ chỉ có một ban thờ bà
Lê Kim Đ nh Ngai thờ được bài trí bằng
một bức tượng bà mặc quần áo có màu sắc
rực rỡ và đeo vòng xuyến rất đẹp và bên
trái là bức chân dung Nguyễn Trung Trực
Hai bên ban thờ là 2 dòng chữ đắp nổi theo
hàng dọc: “Anh hùng dân tộc” và “Trung
trinh liệt nữ” Lối vào bên trái cũng có một
tủ quần áo Bà Lớn Tướng được người dân
cúng như ở Dinh Bà Dương Đông Ngoài
sân, phía trông ra biển có hai pho tượng
thờ Quan Âm Nam Hải
Về nhân vật được thờ, Dinh Bà Ông Lang thờ bà Lê Kim Đ nh, tương truyền là
vợ Nguyễn Trung Trực Bà cùng ông tham gia chống quân Pháp những năm cuối đời nên được dân gian tôn vinh là bà Lớn Tướng (người kể cho tôi biết gọi như thế bởi bà vừa là bà tướng, vừa là vợ ông lớn) Cách đó khá xa, nằm ngay sát mé biển là ngôi mộ của bà Đường đi đến mộ bà tương đối khó khăn, phải vượt qua một cánh đồng cát trắng, chưa có đường ô tô, qua một cái cầu nhỏ, đến mép biển thì mới đến mộ Mặc dù nằm giữa một vùng cát khá hoang
vu nhưng ngôi mộ của bà được xây khá khang trang
1.3 Dinh Bà Hàm Ninh
Ở làng chài Hàm Ninh có một ngôi dinh được gọi là Dinh Bà Hàm Ninh Khác với hai ngôi dinh trên, Dinh Bà Hàm Ninh không nằm sát biển mà nằm sâu trong xã Người dân ở đây kể lại là trước đây, ngôi dinh nằm sát biển nhưng do sạt lở đã được chuyển vào v trí hiện nay Ông Vạn (65 tuổi ở tổ 13, ấp Rạch Hàm, xã Hàm Ninh)
và ch Phúc (47 tuổi, nhà ở ngay cạnh Dinh) cho biết, khi ông Vạn về đây ở (cách đây 40 năm) và khi ch Phúc còn nhỏ, ngôi dinh đã được chuyển về đ a điểm này Dinh Bà Hàm Ninh có 2 gian thờ là Dinh Ông Nam Hải và Dinh Bà Thuỷ; phía ngoài sân là hai khám thờ nhỏ bên trái bên phải kiểu như ban thờ Cô, thờ Cậu trong tín ngưỡng Tứ phủ Trong Dinh Ông Nam Hải có một bộ xương cá Ông, trong Dinh
Bà Thủy có hai cung thờ, cung phía ngoài chỉ có một bát hương và hai con hạc chầu hai bên; cung trong thờ Bà, có một pho tượng Bà khá nhỏ nhắn, cao chừng 30 cm Hai bên của ban thờ Bà có 2 chiếc thuyền
gỗ và một số sản vật biển như san hô Phía trái lối vào có một tủ quần áo cúng Bà, các
bộ quần áo ở đây bằng kích thước quần áo
Trang 4của người bình thường dùng để treo và một
số bộ quần áo nhỏ để thay cho bà vào d p
lễ hội (tối 22, ngày 23/3 âm l ch)
Đặc biệt, ngay trước cửa vào gian thờ
bà Thủy là một tấm liễn nhỏ bằng gỗ,
chính giữa khắc chữ “Tâm” Dòng lạc
khoản hai bên ghi là: Quang Tự, Quý Mão
niên, quý xuân nguyệt, cát đán, Hải Nam
tín phàm Hoàng Ứng Tinh, Khánh Vân,
Đắc Lan, Quách Viễn Phiên đồng kính
phụng (có nghĩa là: Ngày tốt đầu tháng Ba
năm Quý Mão, niên hiệu Quang Tự (1903),
Tín chủ là người phàm trần ở Hải Nam là
Hoàng Ứng Tinh, Hoàng Khánh Vân,
Hoàng Đắc Lan và Quách Viễn Phiên cùng
kính thờ) Đây là một thông tin hết sức
quan trọng Thông tin này cho biết: đây là
tấm liễn do những người ở đảo Hải Nam
ghé lên bờ cúng Có thể đây là những
người làm ăn trên biển (theo lời người dân
kể là Dinh Bà trước đây nằm sát bờ biển),
trên đường đi đã lên cúng ở Dinh Bà, do
được bà phù hộ nên đã trở lại lễ tạ Nếu
đúng là như vậy thì có thể thấy rằng, Dinh
Bà Hàm Ninh đã nổi tiếng là một đ a chỉ
thiêng ít nhất vào cuối thế kỉ XIX
Về đối tượng được thờ, Dinh Bà Hàm
Ninh thờ Ông Nam Hải (cá Ông) và thờ Bà
Thuỷ (Thuỷ Long Thánh Mẫu) Theo lời kể
của ông Vạn, Thủy Long Thánh Mẫu đây
là Thiên Ya Na được người dân Hàm Ninh
rước từ Khánh Hòa vào thờ Ngày rước bà
là ngày 23/3, ngày Ông lụy cũng là ngày
23/3 nên đó là ngày lễ hội của Dinh
1.4 Dinh Bà Cửa Cạn
Cách Dinh Bà Ông Lang chừng 5 km
về phía Tây Bắc, nằm ở hữu ngạn sông
Cửa Cạn, là một ngôi Dinh khác, được gọi
là Dinh Bà Cửa Cạn (thường được gọi là
Dinh Trong – để phân biệt với Dinh Ngoài
thờ Thủy Long Thánh Mẫu ở Dương
Đông) Dinh nằm ở cửa sông, cạnh vũng
nước sâu (dân đ a phương gọi là “búng”) nên còn được gọi là Búng Dinh Bà
Về nhân vật được thờ, các tài liệu truyền ngôn cho biết, Dinh thờ Bà Kim Giao, tương truyền là người Khơ Me, thuộc dòng dõi vua Campuchia Do vua b lật đổ nên Bà lánh nạn sang đảo Phú Quốc Khi
đi, Bà mang theo đàn trâu để khai phá đất đai tìm đất làm ruộng Tương truyền, Bà Kim Giao lập trại bên bờ Búng, hiện vẫn còn cánh đồng gọi là Đồng Bà và các dấu vết cột được coi là cột buộc trâu của Bà xưa kia Người dân Phú Quốc có một niềm tin thiêng liêng đối với Bà – với tư cách là người khai khẩn hòn đảo này
Nhìn một cách tổng thể 4 di tích Dinh
Bà ở đảo Phú Quốc, có thể bước đầu rút ra một số nhận xét sau: việc hình thành tín ngưỡng thờ Bà và lập Dinh để thờ là một quá trình khá lâu dài, thể hiện trong đó trước hết là nhu cầu về đời sống tâm linh của người dân Trong quá trình thích ứng với vùng đất mới gồm một phức hệ đ a lý rừng, núi, sông biển, các cư dân đảo đã có một nỗ lực không ngừng để chung sống với môi trường đ a lý-xã hội mới Sự nỗ lực thích nghi trong đời sống xã hội đã thể hiện
rõ trong đời sống tâm linh khi mà tín ngưỡng được hình thành, được tin tưởng, trở thành một động lực tinh thần vô giá cho con người lạ lẫm trước vùng đất mới và chơi vơi giữa biển khơi Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ Bà ở đảo Phú Quốc đã thể hiện quá trình hội nhập không ngừng của các chiều cạnh khác nhau của niềm tin, và đến nay, đã hình thành một tín ngưỡng thờ Bà trong các dinh, dù đã được đ nh v phần nào nhưng vẫn là một hệ thống mở để đón nhận những sắc thái mới của đời sống tâm linh người dân
Trang 52 CÁC LỚP VĂN HÓA TRONG
TÍN NGƯỠNG THỜ BÀ Ở PHÚ QUỐC
Qua việc giới thiệu di tích của 4 ngôi
Dinh Bà ở trên, có thể thấy các lớp văn hoá
đan xen trong tín ngưỡng của người dân
Phú Quốc như sau:
2.1 Tín ngưỡng thờ thần phù hộ
ngư dân
Ở 4 ngôi Dinh Bà và mộ Bà Lớn
Tướng Lê Kim Đ nh, một bộ phận lớn
người đi lễ là ngư dân Theo lời của người
dân mà chúng tôi có d p phỏng vấn trong
tháng 6/2013 (người hướng dẫn du l ch,
người lái xe ôm, những người trông coi tại
các di tích: Dinh Bà Dương Đông, Dinh
Cậu, Dinh Bà Hàm Ninh, Dinh Bà Ông
Lang, Đình thần Nguyễn Trung Trực) thì
hầu hết các chủ ghe, tàu đều gửi niềm tin
vào sự phù hộ của các v thần được thờ ở
các di tích trên Các chủ ghe, tàu khi đi
đánh cá thì có thể không lên cầu cúng ở các
di tích trên vì ghe, tàu nào cũng đều có ban
thờ Quan Âm Nam Hải nhưng khi đi qua
họ đều bái vọng lên các di tích Ông Võ
Vạn, thành viên Ban quản tr Hội Dinh Bà
Hàm Ninh cho biết: “Dân ở đây tin dữ lắm
Vào ngày vía Bà, người dân Hàm Ninh dù
có đánh bắt xa bờ đến đâu cũng quay về
đến lễ Bà Người dân trong xã từ nhỏ tới
lớn đều rất tin… Dân ở đây làm nghề hạ
bạc, Ông Nam Hải độ cho đánh được nhiều
cá, ghe cộ chìm thì ông đưa vô bờ Bà phù
hộ, độ cho cô bác ngư dân chài lưới, nghèo
khổ, không con cái, buôn bán, sức khỏe, ai
cầu gì được nấy” (Phỏng vấn ngày
5/6/2013) Trong Dinh Bà Hàm Ninh, như
đã nói ở trên, có một gian thờ Nam Hải;
trong sân ngôi Dinh Bà Ông Lang có 2 pho
tượng Quan Âm Nam Hải; các ngôi Dinh
Bà đều trông ra biển và tọa lạc ở ngay bờ
biển (trừ Dinh Bà Hàm Ninh do b sạt lở
nên chuyển sâu vào trong đảo) Câu đối ở
Dinh Bà Dương Đông (như đã nói ở trên)
đã thể hiện sự ca tụng của người dân đối với một v vua của biển cả Đôi câu đối ở Dinh Cậu cũng thể hiện một cảm hứng
ngợi ca như thế: Phong điều vũ thuận dân
an lạc, Hải yến hà thanh thế thái bình,
D ch nghĩa là: Mưa thuận gió hòa, dân an
lạc, Sông yên biển lặng đời thái bình Ước
muốn về mưa thuận gió hòa, về sông yên biển lặng là ước muốn thường trực nhất của cư dân biển, và họ đã tìm thấy nơi nương tựa về mặt tinh thần ở những v thần linh này
Hơn nữa, trong 4 ngôi Dinh Bà ở đảo Phú Quốc thì có 2 ngôi dinh có tên là Thủy Long Thánh Mẫu, riêng Dinh Bà Hàm Ninh lại có cung thờ ghi là Dinh Bà Thủy Điều này cho thấy lớp tín ngưỡng thờ thần phù hộ ngư dân là rất rõ ở các Dinh Bà Phú Quốc
2.2 Tín ngưỡng thờ người mở cõi
Trong các truyền thuyết của người dân được lưu truyền trên các trang mạng, Dinh
Bà Dương Đông và Dinh Bà Cửa Cạn đều thờ một v thần là Kim Giao, tương truyền
là người khai phá đảo Phú Quốc Các truyền thuyết về bà Kim Giao, như đã nói ở trên, đều kể về một người có công khai khẩn hòn đảo này và người dạy dân cách làm ruộng ở đây Hiện bà Kim Giao được thờ ở dinh Cửa Cạn, nơi còn vết tích cánh đồng bà khai hoang và hàng loạt cột buộc trâu xưa kia Còn Dinh Bà Dương Đông, nơi hiện nay thờ Thủy Long Thánh Mẫu thì vẫn còn những dấu vết của tín ngưỡng thờ thần khai canh Dù người trông coi Dinh Thủy Long Thánh Mẫu Dương Đông khẳng đ nh, ngôi Dinh này thờ bà Thuỷ Long nhưng trong hậu cung, có hai ban thờ Tiền hiền và Hậu hiền - những người có công khai khẩn trong tín ngưỡng của người dân miền Trung trở vào Nam
Trang 62.3 Tín ngưỡng thờ nhân vật lịch sử
Một hiện tượng đã thành phổ biến
trong truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian
Việt Nam là xu hướng “l ch sử hóa truyền
thuyết” và “truyền thuyết hóa l ch sử”
Điều này có nghĩa là các lớp truyền ngôn
thường có xu hướng được dân gian “gắn”
vào một sự kiện l ch sử nào đó để tăng tính
chính thống, tầm vóc và quy mô của sự
kiện và nhân vật được kể trong truyền
thuyết Ngược lại, các nhân vật và sự kiện
l ch sử nhiều khi được “ảo hóa” bằng cách
gán cho họ những chi tiết nhuốm màu sắc
thần kỳ để tăng tính kỳ vĩ của nhân vật l ch
sử Hai xu hướng này đan quyện vào nhau
khiến cho nhiều truyền thuyết đàng hoàng
đi vào l ch sử và nhiều nhân vật l ch sử
được tôn vinh như những v thánh, thần
Xu hướng này có thể thấy trong tín ngưỡng
thờ Bà Lê Kim Đ nh (được cho là phu nhân
Nguyễn Trung Trực) ở ngôi Dinh Bà Ông
Lang Đáng chú ý là, sách sử ghi chép về
chiến công của Nguyễn Trung Trực đều
không ghi chép về vợ của ông Tuy nhiên,
do Nguyễn Trung Trực đã gắn bó với đảo
Phú Quốc vào 2 năm cuối đời (1885-1886)
với một tinh thần yêu nước rạng ngời nên
người dân Phú Quốc đã viết thêm một
trang sử mới về ông, nối dài cuộc đời ngắn
ngủi của ông, tạo nên những vầng hào
quang lung linh khiến cuộc đời ông bất tử
để có thể sống với người dân trong những
thời khắc đương đại: đó là việc thêu dệt
nên truyền thuyết về bà Lê Kim Đ nh Và
truyền thuyết này đã không chỉ được lưu
truyền trong ngôi đền thờ Nguyễn Trung
Trực ở Gành Dầu (một bãi biển đẹp của
Phú Quốc) mà còn nhanh chóng chiếm chỗ
trong Dinh thờ Bà và hội nhập với tín
ngưỡng thờ Bà Thủy nơi đây Bằng việc
thờ cúng hai nhân vật (một l ch sử, một dã
sử) này, tín ngưỡng thờ Bà của cư dân đảo
Phú Quốc đã tạo nên sự gắn kết giữa l ch
sử chống ngoại xâm vẻ vang của dân tộc với đời sống của cư dân trên đảo
3 TÍN NGƯỠNG THỜ BÀ – SỰ HỘI TỤ
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU
3.1 Tín ngưỡng thờ Bà - Cậu
Nói đến tín ngưỡng thờ Bà của ngư dân đảo Phú Quốc không thể không nhắc đến tín ngưỡng thờ Bà - Cậu
Bà - Cậu là ai?
Tín ngưỡng đặc biệt này đã được nhắc đến trong các bài viết của Huỳnh T nh Của, Nguyễn Thanh Lợi (2004 và 2012)2
, Dương Hoàng Lộc (2010)3 và Trương Thanh Hùng (2012)4 Về vấn đề này, Trương Thanh Hùng viết: “Hầu hết người dân hoạt động trên sông nước đều rất tin tưởng “Bà Cậu” Họ cho đó là một v thần
có quyền năng rất lớn, chi phối đến đời sống, làm ăn của dân làm nghề sông biển,
kể cả dân đánh bắt và giao thông Đến nay, nhiều người không hiểu Bà Cậu là ai, là một người hay hai người Chỉ biết rằng, nếu Bà Cậu độ thì làm ăn sẽ phát đạt, đánh bắt trúng, an toàn khi hành nghề Hình tượng Bà Cậu đối với dân sông nước nói chung có thể là Bà Thiên Hậu (đối với người Hoa), Bà Chúa Liễu, Thủy Long Thánh Mẫu, là một v hoàng tử con của Long Vương, là một v thuỷ thần, sau cùng
là những người khuất mặt nào đó tế độ cho người làm nghề sông nước… Trên ghe tàu
có một bàn thờ Bà Cậu mà bài v được viết bằng chữ Hán là “Thủy Long Thánh Mẫu” hay “Thánh Mẫu nương nương” Như vậy, chúng ta thấy rằng, Bà Cậu không còn là hai v thần Bà và Cậu mà đó là một v thần gọi là Bà Cậu Tuy nhiên, nếu trên bờ thì lại phân biệt rõ ràng Bà và Cậu, có Miễu
Bà và Dinh Cậu” (tr.90) Về nguồn gốc tục
Trang 7thờ này, Trương Thanh Hùng đã dẫn ý của
Huỳnh T nh Của cho rằng, “Bà - Cậu chính
là “ba Bà, bảy Cậu” gắn với việc thờ Liễu
Hạnh Công Chúa”.5
Bên cạnh đó, có một số ý kiến khá
thống nhất cho rằng, Bà là Bà Thủy, còn
Cậu đây là Cậu Tài, Cậu Quý Đó là các ý
kiến của Dương Hoàng Lộc, Nguyễn Thanh
Lợi và người trông coi Dinh Cậu ở Phú
Quốc Dương Hoàng Lộc cho rằng: “Đặc
biệt, đối với các nghề liên quan đến sông
nước và biển cả ở Nam bộ, người ta thường
vái van Bà Cậu để cầu mong độ trì qua cơn
sóng gió Chắc vì thế mà người ta thường
hay gọi dân làm nghề thương hồ hạ bạc là
“dân Bà - Cậu” Bà Cậu chính là Bà Thủy
và hai người con trai: Cậu Tài và Cậu
Quý” Nguyễn Thanh Lợi cũng cho biết,
Bà-Cậu trong tín ngưỡng ở Bà R a – Vũng
Tàu là Bà Thuỷ và Cậu Tài, Cậu Quý
Trong lần điền dã buổi tối vào tháng
6/2013, ch Tư, người trông coi Dinh Bà
Dương Đông và ông Minh, người trông coi
Dinh Cậu đều cho tôi biết, Bà là Thủy Long
Thánh Mẫu và Cậu là Cậu Tài, Cậu Quý
Ông Nguyễn Văn Minh (87 tuổi, người An
Giang, trông coi Dinh Cậu đã 27 năm) gọi
Cậu một cách tôn xưng là “Ông” chứ không
gọi “Cậu” và không cho người khác gọi
“Cậu” Ông nói với tôi là: “Dân chài đi biển
tất nhiên là phải đến, không ai không dám
nghe Nếu muốn đóng ghe phải lên khai
báo, sau đó xin keo, nếu ngài không cho thì
đi làm nghề khác, trồng hồ tiêu hay làm gì
đó Đố ai dám cãi Khi tôi hỏi, dân làm gì
đều xin Cậu phải không, ông Minh nổi
giận: Dân đến đây cúng không ai dám gọi
là ông Cậu, chỉ dám gọi là ông Cù (Nói
đến đây, ông bỏ vào phòng trong nằm)
Vậy Cậu Tài, Cậu Quý là ai?
Nguyễn Thanh Lợi (2004) và Dương
Hoàng Lộc (2010) đều cho rằng, cậu Tài và cậu Quý là con của Thiên Ya Na Diễn Ngọc Phi, và ở đây Thiên Ya Na đã được đồng nhất với bà Thủy Nguyễn Thanh Lợi viết: “Bà chúa Tiên (chúa Ngọc) còn có hai người con là Cậu Tài và Cậu Quý, là những v thần đặc biệt “bảo hộ” cho vùng sông nước Dân sống bằng nghề hạ bạc và dân thương hồ đã đồng hoá Pô Nưgar với Thuỷ Long thánh phi, kèm theo hai người con của Bà là Cậu và Bà Cậu - những v thần cai quản các hải đảo hoặc cù lao ven sông, biển” Dương Hoàng Lộc viết:
“Người ta còn có quan niệm Bà Thuỷ chính là hoá thân của Thiên Ya Na Trong văn bia của Phan Thanh Giản tại Tháp Bà Nha Trang, có đoạn kể về Thiên Ya Na đã hoá phép nổi sóng gió nhấn chìm thuyền của thái tử Trung Quốc, biến chiếc thuyền này thành tảng đá Do đó, Thiên Ya Na và
2 người con của Bà (Cậu Tài, Cậu Quý) được xem là v thần của sông biển, cù lao” Tuy dẫn nguồn nhưng hai bài viết trên đều
đã có chỗ khúc xạ: trong văn bia do Phan Thanh Giản soạn năm 1856 và truyền thuyết vùng Khánh Hòa thì 2 người con của Thiên Ya Na là một trai, một gái; người con trai tên Trí và người con gái tên Quý Như vậy, chúng ta thấy xuất hiện ở đây một người mới là: Cậu Tài Danh xưng của Cậu, nguồn “xuất thân” của Cậu, truyền thuyết không giải thích rõ; chúng ta cần cắt nghĩa xem, tại sao lại có một nhân vật mới là “Cậu Tài” trong tất cả các truyền thuyết về Bà - Cậu ở vùng Nam Bộ Tại ngôi Dinh Cậu, ta thấy một phức thể thú v Tên di tích là Dinh Cậu, nhưng
ban thờ chính lại ghi bài v là Chúa Ngọc
Nương Nương (một tên gọi khác của Thiên
Ya Na), hai bên có 2 tượng thờ nhỏ dưới
hai dòng chữ Nhị hiền vương Thái tử
(tương truyền là cậu Tài, cậu Quý - hai con
Trang 8của Thiên Ya Na) Tuy nhiên, khi được hỏi
thì ông Nguyễn Văn Minh thì lại kể: “Hai
ông Cậu (Cậu Quý và Cậu Tài) là hai thiên
thần được phái xuống, một người trông coi
toàn vùng biển, một người trông coi rốn
biển Hai ông là tiên, được phái xuống
2.000 năm, nay chưa được về vì giặc dưới
biển còn quậy quá Trước đây 5-60 năm
mới có một cơn bão lớn, nay có nhiều bão
quá Vì thế ông phải trông coi Đảo Phú
Quốc có 99 ngọn núi, ở dưới biển có 99 dải
đá ngầm, là nơi ở của các loài cá Vì thế,
có đánh bắt bao nhiêu cũng không hết
được Ông cai quản các luồng cá ở đây”
Với truyền thuyết này, hai cậu đã trở thành
là người trời, dường như không có liên
quan gì đến các bà Thủy, bà Thiên Ya Na
hay bà Thủy Long Thánh Mẫu ở đây
Bên cạnh truyền thuyết cho rằng, Bà là
Thủy Long Thánh Mẫu và Cậu là Cậu Tài,
Cậu Quý (hai con của Thiên Ya Na),
Nguyễn Thanh Lợi (2012) lại cho biết một
truyền thuyết khác: ở Côn Đảo, Bà được
đồng nhất với đức Bà Phi Yến (Lê Th
Răm), tương truyền là thứ phi của Nguyễn
Ánh, mẹ của Hoàng tử Cải và Cậu được
đồng nhất với hoàng tử Cải, v hoàng tử
yểu mệnh b ông vua đầu triều Nguyễn
ném xuống biển khi vừa lên bốn tuổi.6
Một sự thống kê và khảo sát bước đầu
cho thấy, các lớp truyền ngôn về Bà và Cậu
(danh xưng, đ a điểm thờ, cách xưng hô,
truyền tích về công trạng của ông) cho thấy
tính động và tính lỏng của truyền thuyết về
Bà - Cậu - hệ quả của một tín ngưỡng mở
mà tục thờ và truyền thuyết đã và đang tiếp
tục đón nhận những lớp đắp bồi qua thời
gian và trong không gian để trở thành một
phức thể rộng hơn và thống nhất hơn
3.2 Từ tín ngưỡng thờ nữ thần biển
tới tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu
Như đã nói ở trên, các Dinh Bà ở Phú
Quốc đều có v trí sát mép biển Đây hẳn không phải là một sự tình cờ V trí này chắc hẳn đã thể hiện sự đáp ứng nhu cầu của ngư dân và người đi biển về một v thần mà họ trông chờ sự độ trì Thực tế các cuộc phỏng vấn của chúng tôi đều cho thấy rằng, ngư dân rất tin tưởng vào các Bà và thường đến cầu xin khi ra khơi, tạ ơn khi trúng vụ, tham dự một cách kính cẩn ngày vía Bà hàng năm Ở khía cạnh này, các Bà được thờ trong 4 ngôi Dinh ở đảo Phú Quốc xuất hiện với tư cách là các nữ thần (Bà Thuỷ, Bà Kim Giao, Bà Lớn Tướng Lê Kim Đ nh) chở che cho những người đi biển được bình an vô sự, phù hộ cho ngư dân đánh bắt được nhiều tôm cá, độ trì cho
họ gặp an lành trên biển
Tuy nhiên, phạm vi phù hộ độ trì của các Bà không chỉ dừng lại ở đó Các cuộc phỏng vấn mà chúng tôi tiến hành ở Dinh
Bà Hàm Ninh, Dinh Bà Ông Lang, Dinh
Bà Dương Đông, Dinh Cậu Dương Đông cho thấy rằng: người dân đến các di tích này lễ bái không chỉ là ngư dân và nội dung cầu cúng của họ không chỉ là cầu đánh được nhiều tôm cá
Ch Tư (Ngọc Lệ), người trông coi Dinh Bà Dương Đông và ch Trần Th Ngân, thành viên của Hội Dinh Bà Dương Đông, cho tôi biết, lượng khách thập phương đến Dinh cúng lễ hơn phân nửa là những người nơi khác, gồm khách du l ch
và khách trong đất liền đến cầu an, giải hạn Một điều đặc biệt là, khách thập phương muốn đến xin cầu an, giải hạn thì chỉ đến Dinh Bà, chứ không đến Dinh Cậu, trong khi đó, khi đi biển thì họ vái Bà-Cậu
Ch Tư và ch Ngân cho biết, vào đêm giao thừa và ngày mùng Một Tết âm l ch, khách thập phương đến lễ cầu an “đông không thể tưởng tượng được, người chen vô không lọt” và “các ch làm việc muốn xỉu luôn”
Trang 9Một trong những điều mà khách thập
phương muốn đến cầu an ở Dinh Bà
Dương Đông, có lẽ ngoài sự thuận tiện về
giao thông, còn là sự ân cần của người thực
hành nghi lễ Ch Tư cho biết, khi cúng cầu
an, có khi cả gia đình chỉ gửi lễ 10 ngàn
đồng ch vẫn cúng, không gửi lễ ch vẫn
cúng Vì thế, người dân trên đảo và khách
thập phương vẫn đến gửi niềm tin vào các
nghi thức cúng cầu an, giải hạn ở đây
Ch Nguyễn Th Lệ, 65 tuổi (Dinh Bà,
ấp Ông Lang, xã Cửa Dương) cho tôi biết,
khách đến Dinh Bà phần lớn là ngư dân,
nhưng càng ngày càng có nhiều người đến
lễ về các nhu cầu khác trong đời sống như
chữa bệnh, học hành, buôn bán Ch cho
biết, vào tháng 5 năm 2013, có người từ
Hòn Đất (Kiên Giang) đến đây kêu cầu về
việc bán đất; hai tuần sau khi kêu cầu và
được Bà làm phép cho, người đàn ông này
đã bán được đất và gọi điện cảm ơn người
trông coi Dinh Trong tình trạng bất động
sản đóng băng vào thời điểm này, việc cầu
và bán được đất có thể coi là một nội dung
mới khẳng đ nh tính thiêng đậm màu sắc
đương đại của v thần nữ được thờ cúng tại
ngôi dinh này Bên cạnh đó, người dân Phú
Quốc còn lưu truyền truyện kể rằng, trong
những ngày gian khó của Nguyễn Trung
Trực chống Pháp, Bà Lê Kim Đ nh mất
ngay khi sinh con và đứa con mới chào đời
của ông bà đã mất vì khát sữa Bà Lớn
Tướng giận người dân vùng này không cưu
mang con bà nên hễ ai sinh con đều b bà
“bắt chết” Vì thế, người dân lập đền thờ và
sửa sang ngôi mộ thờ bà và thường xuyên
lui tới cúng bái Ở một truyền ngôn khác,
bà Lê Kim Đ nh còn được tin là một v
phúc thần toàn năng: “Bà rất thiêng, vào
những đêm trăng sáng, người dân thường
thấy Bà đi thuyền từ căn cứ ra làng Thuyền
có che lọng xanh, lướt đi êm đềm trên mặt
sông Người gặp Bà liền quỳ lạy, cầu khẩn
gì cũng được Quả nhiên, năm nào có thuyền Bà xuất hiện thì nhân dân Phú Quốc làm ăn khấm khá và phát đạt Người dân Phú Quốc tin rằng Bà là người đem lại cuộc sống an lành và sung túc cho họ.”7
Một nội dung cầu xin khác tương đối phổ biến ở các ngôi Dinh Bà, Dinh Cậu ở Phú Quốc là cầu tự Các câu chuyện của chúng tôi với những người đang có mặt tại khuôn viên di tích đều dẫn tới sự thành công của một số trường hợp cầu tự nào đó Bà Hoa, một người bán vé số ở Dinh Cậu, nói với tôi: “Dân ở đây đa số là đi biển, mới đây, chỉ có người ở đất liền ra là làm du l ch thôi Ở đây cầu được nhiều thứ lắm: tài lộc (hai cậu là bộ trưởng bộ ngân khố đấy), làm
ăn may mắn, con cái Cầu gì được nấy Chính mắt tôi đã trông thấy một bà Việt kiều Mỹ qua đây xin cho con dâu có thai Tháng sau về cô con dâu có bầu, bà cùng con trai và con dâu quay lại tạ ơn” Các dòng đ a chỉ của khách thập phương được ghi trên ghế đá tặng Dinh Cậu, Dinh Bà cho thấy sự phong phú của các lớp người, đến từ nhiều miền quê khác nhau, trong đó có nhiều người đang sống ở nước ngoài Một hiện tượng đáng chú ý là việc tách riêng các đối tượng thờ như ở Dinh Bà Hàm Ninh (Dinh Nam Hải và Dinh Bà Thuỷ) Ở đây, theo ông Vạn, “Dân ở đây làm nghề hạ bạc, Ông Nam Hải độ cho đánh được nhiều cá, ghe cộ chìm thì ông đưa vô bờ biển Bà phù hộ, độ cho cô bác ngư dân chài lưới, nghèo khổ, không con cái, buôn bán, sức khỏe, ai cầu gì được nấy” Ta thấy hiện tượng tương tự mối quan hệ giữa Dinh Cậu (vốn là nơi thờ Nam Thần Biển)8
và Dinh Bà ở Dương Đông: trong khi ngư dân cầu cả Dinh Bà và Dinh Cậu thì người giải hạn, cầu an chỉ có thể làm ở Dinh Bà Hiện tượng này không
Trang 10chứng tỏ độ đậm nhạt của tính thiêng mà
thể hiện độ mở của một tín ngưỡng: với tín
ngưỡng thờ Long Vương hay Nam Hải,
người dân mong chờ sự độ trì cho những
chuyến đi biển thì với tín ngưỡng thờ Bà
Thủy, nội dung cầu cúng có một độ mở
không ngừng trong thời gian nhằm đáp ứng
nhu cầu tâm linh của người dân
Qua đây, có thể thấy, tín ngưỡng thờ
nữ thần biển đã mở ra để trở thành một
phức hệ tín ngưỡng mới, tín ngưỡng về
Thánh Mẫu, bởi chỉ có Mẫu mới đáp ứng
được nhu cầu muôn mặt đời thường của
người dân Đây cũng là một biểu hiện cho
tính mở của hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ
Phủ, tín ngưỡng này luôn không ngừng mở
ra cho mọi người dân đều có thể nương
tựa, mở ra để ứng hợp với nhu cầu muôn
mặt đời thường của người dân Cuộc hầu
đồng được tổ chức lần đầu tiên ở Phú Quốc
(8/2013 tại Dinh Bà Thủy Long Thánh
Mẫu ở Dương Đông) được người dân nơi
đây đón nhận một cách nồng nhiệt9
càng chứng tỏ điều đó
4 KẾT LUẬN
Khảo sát bước đầu về tín ngưỡng thờ
nữ thần ở Phú Quốc có thể rút ra một số
kết luận sau:
Tín ngưỡng thờ nữ thần thể hiện nhu
cầu mãnh liệt về đời sống tâm linh của
người dân: Khảo sát sự hình thành và phát
triển của tục thờ cúng trong thời gian, khảo
sát bước đầu về cách thực hành nghi lễ của
người dân, khảo sát sự phát triển của quy
mô lễ hội tại các di tích Dinh Bà, thấy rất
rõ nguyện vọng về nhu cầu tâm linh của
người dân: họ thực sự khát khao được thể
hiện đời sống ấy thông qua thiết chế di
tích, thông qua việc tổ chức lễ hội, thông
qua việc thực hành nghi lễ thường ngày,
thông qua việc gửi gắm niềm tin vào những
phép lạ qua việc thờ Bà
Sự phát triển từ tục thờ Bà Thủy đến tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu: Mang đặc
trưng của một hòn đảo, tín ngưỡng thờ nữ thần ở Phú Quốc khởi thuỷ là tục thờ Bà Thuỷ với mong muốn cầu xin sự an toàn khi ra khơi vào lộng Tuy nhiên, cùng với thời gian, các truyền ngôn, các cách thực hành nghi lễ, các đối tượng hành lễ và các nội dung cầu cúng của người dân ngày càng đa dạng, tiệm cận với tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu mà tính linh động và độ dung hợp lớn của nó đang là một ngôi nhà mở ra nhiều cánh cửa để tích hợp tất cả các nội dung, thu hút nhiều tầng lớp dân cư trên đảo cũng như khách thập phương trong và
ngoài nước
Sự đa dạng văn hóa tộc người Các lớp
truyền ngôn và di tích ở các ngôi Dinh Bà, Dinh Cậu cùng những di tích khác liên quan, các đ a danh và các chứng tích văn hoá vật thể cho thấy sự đan xen của văn hoá các dân tộc: Việt, Hoa, Khmer, Chăm
Và điều quan trọng là sự đan xen này đã được quyện chặt một cách nhuần nhuyễn
và trở thành tài sản chung của người dân đảo Phú Quốc hôm nay
Sự đa dạng văn hóa vùng miền: Dù
còn cần nhiều thời gian để nghiên cứu sâu hơn, cũng có thể nhìn thấy rõ trong phức thể tín ngưỡng Bà - Cậu của người dân đảo Phú Quốc hành trang của ngư dân Nam Trung Bộ (Quảng Ngãi, Bình Đ nh) đan xen với tín ngưỡng của cư dân Tây Nam
Bộ và hội nhập với tín ngưỡng Tứ Phủ của Bắc Bộ để trở thành một phức thể đang dần dần đ nh hình thành hệ thống Hệ thống này đang là một hệ thống mở nên vừa có khả năng đáp ứng nhu cầu gửi gắm niềm tin của mọi người dân lại vừa có thể dung chứa được những biến đổi mau lẹ của nhu cầu tâm linh của họ trước tác động của sự biến đổi kinh tế - xã hội và ảnh hưởng của hội nhập hôm nay./