1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phát triển năng lực cho người học bằng hình thức tổ chức cho học sinh thuyết trình về văn bản

14 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 441,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này nhằm mục tiêu: Phát triển năng lực kiến tạo kiến thức của học sinh, tạo cho học sinh cơ hội thể hiện ý kiến cá nhân về văn bản, phát triển năng lực giao tiếp và kĩ năng đánh giá, tự đánh giá.

Trang 1

TẠP CHÍ ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 20 - Tháng 4/2014

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO NGƯỜI HỌC BẰNG HÌNH THỨC

TỔ CHỨC CHO HỌC SINH THUYẾT TRÌNH VỀ VĂN BẢN

VŨ THỊ KIM HỒNG (*) NGUYỄN THỊ HỒNG NAM (**)

TĨM TẮT

Phương pháp dạy học phổ biến trong các giờ dạy đọc hiểu văn bản hiện nay là phương pháp diễn giảng, giáo viên trình bày cách hiểu về văn bản của mình cho học sinh, học sinh tiếp nhận Cách dạy này mang tính áp đặt, khơng phát huy được năng lực sáng tạo của học sinh Để gĩp phần giải quyết tình trạng này, chúng tơi đã thử nghiệm tổ chức cho học sinh lớp chuyên Anh, Trường PTTH Chuyên Lý Tự Trọng, TP Cần Thơ thuyết trình Nghiên cứu này nhằm mục tiêu: phát triển năng lực kiến tạo kiến thức của học sinh, tạo cho học sinh cơ hội hể hiện ý kiến cá nhân về văn bản, phát triển năng lực giao tiếp và

kĩ năng đánh giá, tự đánh giá Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực kiến tạo kiến thức, năng lực giao tiếp và đánh giá đã được phát triển Mơ hình tổ chức cho học sinh thuyết trình các tác phẩm văn chương trong giờ hiểu văn bản mà chúng tơi thực hiện trong nghiên cứu này cĩ thể được sử dụng ở các trường phổ thơng

Từ khố: phát triển năng lực, thuyết trình, sáng tạo, giao tiếp, đánh giá

ABSTRACT

The popular method of teaching reading literature texts is lecturing in which teachers present their understandings of a specific text for students to receive This method is imposing and restrains students’ creativity In order to improve this situation, another way

of teaching was experimented with a class of selected students at Ly Tu Trong highschool, Can Tho City, in which students made oral presentations This study aims to establish a learning environment in which students are able to construct their own knowledge, express their judgements on a literature text, develop their communication skills, and enhance their assessment ability The result of this study indicates that these competencies of the students were enhanced and that this method of teaching reading liturature texts can be disseminated in highschools

Keywords: competency development, oral presentation, creativity, communication,

assessment

1 ĐẶT VẤN ĐỀ*

Nhược điểm lớn nhất của cách dạy học

hiện nay là tập trung nhồi nhét kiến thức

mà khơng chú trọng việc phát triển năng

lực cho người học Cách dạy giờ Đọc hiểu

TP Cần Thơ

văn bản (VB) ở trường phổ thơng cũng mắc phải nhược điểm này, học sinh (HS) khơng cĩ cơ hội trình bày cảm nhận của mình về VB, tranh luận, thảo luận, chia sẻ những cách hiểu khác nhau về VB Vì thế, năng lực sáng tạo, giao tiếp, đánh giá của

HS khơng được phát triển Vậy làm thế nào

để phát triển được những năng lực này cho

Trang 2

người học? Chúng tôi cho rằng, một trong

những hình thức tổ chức dạy học giúp đạt

được mục tiêu này là tổ chức cho HS

thuyết trình (TT)

2 BỐI CẢNH THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU

Trường phổ thông trung học (PTTH)

Chuyên Lí Tự Trọng, TP Cần Thơ có 27 lớp

trong số đó có 23 lớp chuyên Nhà trường

mong muốn HS các lớp chuyên có sự chủ

động, sáng tạo, tự tìm tòi kiến thức HS lớp

chuyên thường tập trung học môn chuyên

mà lơ là các môn khác Do vậy, trong năm

học 2011-2012, chúng tôi đã tổ chức cho

HS lớp 11C2, chuyên Anh TT về một số

VB nghệ thuật trong CT Ngữ văn 11

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi

nhằm trả lời những câu hỏi sau:

- Việc tổ chức cho HS TT có nâng cao

năng lực chủ động kiến tạo kiến thức,

tạo cho HS cơ hội thể hiện ý kiến cá

nhân về VB?

- Việc tổ chức cho HS TT có nâng cao

kĩ năng giao tiếp cho HS?

- Kĩ năng đánh giá và tự đánh giá của

HS có được phát triển?

4 CƠ SỞ LÍ THUYẾT

4.1 Mục tiêu dạy học và mục tiêu

dạy học môn Ngữ văn

Bàn về những năng lực mà người học

cần có trong thế kỉ 21, OECD – Tổ chức

các nước có nền kinh tế phát triển (2012)

nêu lên 4 C’s: Creativity (sáng tạo),

Critical thinking (tư duy phê phán),

Communication (giao tiếp), Collaboration

(hợp tác) Hội đồng khoa học giáo dục Hoa

Kì (2012) xác đ nh những năng lực HS cần

có trong thế kỉ 21 là: Năng lực nhận thức

(gồm sáng tạo, tư duy phê phán, giải quyết

vấn đề, ra quyết đ nh, lập luận); Năng lực

tự thân (gồm năng lực tự quản lí, khả năng

kiểm soát các hành vi và cảm xúc của bản

thân để đạt mục tiêu); Năng lực liên cá nhân (diễn đạt thông tin với người khác cũng như năng lực suy luận thông điệp của người khác và phản hồi thích hợp) Dù cách diễn đạt của Hội đồng giáo dục của Hoa kì và OECD khác nhau, nhưng đều đề cập đến những năng lực cốt lõi; sáng tạo, giao tiếp, tư duy phê phán, hợp tác

Đó là những năng lực mà tất cả các môn học trong nhà trường, trong đó có môn Ngữ văn, cần giúp người học phát triển Bên cạnh những năng lực chung, mỗi môn học có những yêu cầu riêng về năng lực Chương trình (CT) môn Văn của Hongkong (2007), Singapore (2007), bang New South Wales – Úc (2007) đề cập những năng lực riêng của môn Văn là (1) năng lực đánh giá và thưởng thức nhiều thể loại VB khác nhau; (2) năng lực diễn đạt ý tưởng một cách mạch lạc, rõ ràng, năng lực trình bày sự cảm thụ sâu sắc và tư duy logic khi thảo luận và viết về VB; (3) sự hiểu biết về văn hóa CT của Hongkong còn xác đ nh mục tiêu “thể hiện sự phát triển cá nhân” CT của Singapore đặt ra mục tiêu: người học “tham gia vào VB, thể hiện ý kiến cá nhân về VB, thể hiện sự nhận thức mang tính trí tuệ và cảm xúc về các chủ đề, các nhân vật, bối cảnh xảy ra câu chuyện và ngữ cảnh đọc VB” CT của bang New South Wales (Úc) yêu cầu phải phát triển năng lực tạo nghĩa bằng ngôn ngữ cho các loại VB khác nhau để phục vụ cho những mục tiêu khác nhau Mục tiêu dạy văn của các nước nêu trên vừa thể hiện quan điểm kiến tạo kiến thức, vừa thể hiện đặc trưng của hoạt động tiếp nhận văn chương: tính cá nhân của mỗi người đọc,

và ở mỗi thời điểm khác nhau, với vốn sống, quan điểm thẩm mỹ khác nhau, người đọc có thể có cảm nhận khác nhau

về VB Do CT được xây dựng dựa trên

Trang 3

quan điểm kiến tạo kiến thức nên vai trò

trung tâm của người học trong học tập

được đề cao Cách dạy truyền đạt mục tiêu

và chấp thuận kiến thức được thay bằng

cách dạy giúp cá nhân mỗi HS học cách tự

xây dựng và giải thích kiến thức, kiến thức

được đ nh dạng bởi chính người học

Một trong 3 mục tiêu dạy học môn

Ngữ văn được những người biên soạn CT,

SGK của Việt Nam đề ra là “hình thành và

phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng

Việt, tiếp nhận văn học, cảm nhận thẩm

mĩ; phương pháp học tập, tư duy đặc biệt là

phương pháp tự học; năng lực ứng dụng

những điều đã học vào cuộc sống”

[16, tr.6]

Tổ chức cho HS TT là một trong

những hình thức tổ chức dạy học có thể

góp phần đạt được một số những mục tiêu

dạy học đã nêu Đó là phát triển năng lực

tư duy sáng tạo (qua quá trình kiến tạo kiến

thức), tư duy phê phán, phản bác, lập luận

(qua quá trình thảo luận, tranh luận), năng

lực hợp tác (qua hoạt động thảo luận

nhóm), năng lực giao tiếp (qua việc trình

bày, diễn đạt ý tưởng) Việc tổ chức cho

HS TT còn tạo cho HS cơ hội “tham gia

vào VB, thể hiện ý kiến cá nhân về VB, thể

hiện sự nhận thức mang tính trí tuệ và cảm

xúc về VB”[10] Qua hoạt động tranh luận,

thảo luận, HS còn có được những cách hiểu

mới về VB

4.2 Thuyết trình và tổ chức cho

học sinh thuyết trình

Theo Tự điển tiếng Việt (Hoàng Phê,

1988) TT là “trình bày rõ ràng một vấn đề

trước nhiều người TT một đề tài khoa học

TT dự án xây dựng mới Bản TT trước hội

ngh ”[13, tr.240]

Tài liệu “Teaching Presentation skills

to ESL students” (2002) đ nh nghĩa như

sau về TT “đó là việc một người hay một

nhóm người giới thiệu và miêu tả một vấn

đề cụ thể nào đó, ví dụ một sản phẩm mới, hình ảnh của một công ty hoặc một chiến

d ch quảng cáo sản phẩm bằng lời nói, băng hình ”[15]

Cả hai đ nh nghĩa trên đều nói về TT nói chung chứ không nhằm vào việc lí giải thế nào là tổ chức cho HS TT trong dạy học Các tác giả như Đặng Thành Hưng (2002), Phan Trọng Ngọ (2005), Hanm P.H (2006), Đặng Đình Bôi (2010), Thái Duy Tuyên (2010) đều coi TT là một phương pháp dạy học (PPDH) của giáo viên (GV)

để truyền thụ kiến thức Trong phạm vi tài liệu mà chúng tôi khảo sát được, chúng tôi chưa thấy tài liệu nào đề cập đến việc tổ chức cho HS TT Mặc dù việc GV TT và tổ chức cho HS TT có một số điểm giống nhau như xác đ nh chủ đề, sưu tầm tài liệu, xây dựng đề cương nhưng mục đích và tiến trình tổ chức hoàn toàn khác nhau Theo chúng tôi, tổ chức cho HS TT là

một hình thức tổ chức dạy học chứ không

đơn thuần là một PPDH GV là người tổ chức, xây dựng tình huống dạy học chứa đựng những tri thức cần lĩnh hội đồng thời xây dựng môi trường mang tính xã hội để người học tự kiến tạo kiến thức Trong quá trình TT, người học có cơ hội bộc lộ quan điểm của mình, lắng nghe quan điểm của bạn, tranh luận Kết quả của tiến trình này

là người học được phát triển năng lực tra cứu tài liệu, lập kế hoạch làm việc, hợp tác, giao tiếp, tư duy sáng tạo và tư duy phê phán

Một bài TT tốt cần đáp ứng nhiều yêu cầu Về nội dung: bài TT cần làm rõ chủ đề

TT, các luận điểm, luận cứ cần được trình bày rõ ràng, lập luận chặt chẽ Về cấu trúc: bài TT cần có đầy đủ ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận Về hình thức, nếu trình bày bài TT bằng powerpoint, người TT cần

Trang 4

kết hợp sử dụng hợp lí các kênh chữ, kênh

hình, sơ đồ, biểu bảng, băng video, màu

sắc, font nền của màn hình, cỡ chữ Về

phong cách, người TT cần có thái độ tự

nhiên, sự nhiệt tình, tích cực, điềm tĩnh, tự

tin, sử dụng thành thạo phương tiện hỗ trợ,

giao tiếp với khán giả bằng ánh mắt, nét

mặt; điệu bộ, cử chỉ, giọng nói rõ ràng,

truyền cảm; trả lời câu hỏi của người nghe

một cách thuyết phục

Để góp phần đạt được một số mục tiêu

trong số các mục tiêu dạy học Văn như đã nêu trên, chúng tôi tổ chức cho HS TT về một số VB nghệ thuật trong CT Ngữ văn

11

5 THỰC NGHIỆM

5.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng thực nghiệm (TN) của nghiên cứu này là 29 HS lớp 11C2 (chuyên Anh) trường THPT Chuyên Lí Tự Trọng

HS được chia thành 4 nhóm, 7-8 HS/nhóm Mỗi nhóm ch u trách nhiệm

TT bốn bài đọc hiểu VB trong năm học 2011-2012 (bảng 1)

Bảng 1: Thống kê số bài TN

2 Tình yêu và thù hận (Shakespeare) Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử)

3 Hai đứa trẻ (Thạch Lam) Từ ấy (Tố Hữu)

5.2 Tiến trình thực nghiệm

Tiến trình tổ chức cho HS TT được

thực hiện qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1 Hướng dẫn TT là hoạt

động khá xa lạ với HS vì các em quen với

việc nghe GV diễn giảng mà ít khi được

GV yêu cầu TT Vì thế, chúng tôi đã dành

một tiết hướng dẫn cách chuẩn b cho bài

TT: đọc tác phẩm, tìm tài liệu, đọc và xử lí

tài liệu Chúng tôi giới thiệu cấu trúc bài

TT và tiêu chí đánh giá bài TT (Phiếu 3) để

đ nh hướng cho HS biết cần làm gì và làm

như thế nào để bài TT đạt kết quả tốt

Giai đoạn 2 Chuẩn bị Chúng tôi

phân công bài cho các nhóm chuẩn b đồng

thời giới thiệu nguồn tư liệu mà HS có thể

tham khảo Mỗi nhóm có 4 tuần chuẩn b

cho bài TT Tuần 1 nhóm tự phân công

công việc và lập kế hoạch thực hiện Tuần

2 và 3, nhóm chuẩn b bài TT dưới hình thức VB word và nộp VB hoàn thiện vào ngày cuối tuần 3 Tuần 4 là thời gian để nhóm làm báo cáo bằng powerpoint và gửi cho GV

Giai đoạn 3 Tổ chức TT trên lớp

Tiến trình TT của các nhóm trên lớp được thực hiện qua hai bước Bước 1: các nhóm

TT, bước 2: các thành viên trong lớp đặt câu hỏi cho nhóm TT Bước 1 cho các nhóm cơ hội thể hiện năng lực nói, viết, trình bày kiến thức bằng nhiều phương tiện: ngôn từ, hình ảnh, kĩ năng máy tính, ngôn ngữ cơ thể Trong bước 2, nhóm TT thể hiện bản lĩnh, năng lực nắm bắt và giải quyết vấn đề mà các nhóm khác đặt ra, kĩ năng lập luận, giao tiếp với các nhóm khác

Trang 5

Đây cũng là bước để các thành viên trong

lớp trình bày những quan điểm khác về VB

hay nêu câu hỏi về những vấn đề mà họ

chưa rõ hoặc chưa đồng tình với nhóm TT,

qua đó, cả lớp học cách nhìn VB từ những

quan điểm khác nhau, học kiến thức thông

qua sự tương tác

Giai đoạn 4 Đánh giá sau khi TT

Giai đoạn này gồm 3 bước Bước 1: các

nhóm TT tự nhận xét về ưu, nhược điểm

của mình Bước 2: các nhóm khác nhận xét

về nhóm TT Bước 3: nhận xét của GV Ở

bước 1, người học có cơ hội nhìn lại sản

phẩm và quá trình làm việc của nhóm,

nhận ra ưu, nhược điểm để tự điều chỉnh và

hoàn thiện Bước 2: các thành viên khác

trong lớp thể hiện năng lực tư duy phê

phán (đánh giá, học hỏi từ ưu, nhược điểm

của nhóm bạn), năng lực giao tiếp (cách

dùng từ ngữ, giọng điệu khi nhận xét)

Bước 3: GV tóm lược, bổ sung kiến thức cho HS

Đánh giá là công việc không dễ dàng, đặc biệt là đối với HS Công việc này đòi hỏi phải phân tích, tổng hợp, am hiểu vấn

đề được đánh giá và phải công tâm, hiểu mục đích của đánh giá không phải để phê phán mà giúp người được đánh giá tiến bộ

Để hoạt động đánh giá đạt được mục tiêu trên, chúng tôi đã thiết kế một số phiếu đánh giá để HS tự đánh giá (phiếu 1 và 2)

và đánh giá lẫn nhau (phiếu 3) Các phiếu này có hai chức năng: hướng dẫn HS cách

TT và đánh giá mức độ hoàn thành công việc của HS Để HS biết cách TT và biết yêu cầu đối với bài TT về hình thức, nội dung, phong cách và sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm, chúng tôi phát các phiếu này cho các nhóm trước khi các nhóm tiến hành công việc

PHIẾU 1 ĐÁNH GIÁ LẪN NHAU TRONG NHÓM

Ngày……tháng……năm…… ………tiết………

Tên bài TT:………

Tên người đánh giá:………nhóm………lớp ………

Giáo viên hướng dẫn: ………

thành/không hoàn thành)

1

2

3

4

Sau khi hoàn thành bài TT, các thành

viên trong nhóm dùng phiếu này để đánh

giá lẫn nhau về mức độ đóng góp của từng

thành cho công việc của nhóm

Phiếu 2 được dùng sau khi HS thực

hiện xong bài TT Nội dung phiếu được thiết kế dựa trên các chiến lược tự đánh giá

mà Fogarty (1994) giới thiệu Câu 1 giúp

GV và nhóm tự xem xét nhóm có hiểu nhiệm vụ được giao hay không Câu 2 giúp

Trang 6

HS xác đ nh mục tiêu công việc của nhóm

Câu số 3 giúp nhóm nhận biết ưu điểm Trả

lời được câu số 4 giúp nhóm không chỉ

nhận biết khuyết điểm mà còn tự đề ra

hướng khắc phục Câu số 5 giúp GV nhận

ra khó khăn của HS để có biện pháp giúp

đỡ, đồng thời nhóm tự nhận ra khó khăn để

có cách giải quyết

PHIẾU 2 NHÓM TỰ ĐÁNH GIÁ

Ngày ……tháng……năm…… ………tiết………

Tên bài TT:………

Tên nhóm TT:……… ….…lớp ………

Giáo viên hướng dẫn: ………

STT Nội dung 1 Nhiệm vụ của nhóm là gì? 2 Mục tiêu cần đạt của nhóm là gì? 3 Nhóm đã làm tốt điều gì? 4 Nhóm gặp những khó khăn gì khi thực hiện công việc? 5 Nếu được làm lại, nhóm sẽ làm gì? PHIẾU 3 ĐÁNH GIÁ THUYẾT TRÌNH (Dành cho GV đánh giá HS và các nhóm đánh giá lẫn nhau) Ngày ……tháng……năm ………tiết………

Bài TT:………

Tên nhóm đánh giá:………lớp ………

Tên nhóm được đánh giá:……… lớp ………

Giáo viên hướng dẫn: ………

Tiêu chí

đánh giá

điểm

Nhận xét

Mức đạt

Hình thức

(25 điểm)

Logic, khoa học trong quá trình bày luận

Trang 7

Sử dụng sơ đồ biểu bảng phù hợp với nội dung 3

Nội dung

(50 điểm)

Đảm bảo yêu cầu của từng phần: giới thiệu

Trong từng luận điểm nêu được dẫn chứng

Có những cảm nhận, phát hiện mới lạ,

Phong

cách TT

(15 điểm)

Hình thức TT ấn tượng thu hút được các

Sự phối

hợp trong

nhóm

(10 điểm)

Phối hợp giữa các thành viên trong quá trình

TT, trả lời câu hỏi của các nhóm khác

10

Tổng

Điểm cho bài TT của HS là tổng

hợp của sự tự đánh giá của HS, đánh

giá lẫn nhau của các nhóm và đánh giá

của GV

6 DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

6.1 Dữ liệu

Các dữ liệu được thu thập trong quá

trình HS TN là: 8 file word bài TT của các

nhóm, 8 file powerpoint bài TT của các

nhóm, 8 phiếu tự đánh giá của các nhóm,

21 phiếu các nhóm đánh giá lẫn nhau, 29

phiếu điều tra ý kiến HS sau TN, bảng hỏi

sau tiến trình TN, 8 bản ghi chép của GV

về các tiết TN

6.2 Phân tích dữ liệu

Các dữ liệu được phân tích bằng phương

pháp đ nh tính để đánh giá hiệu quả của TN

Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt trả lời các

câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra

(1) HS chủ động kiến tạo kiến thức, thể hiện ý kiến cá nhân về văn bản

Quá trình TN cho thấy năng lực kiến tạo kiến thức của người học được phát

triển, thể hiện ở nhiều phương diện Thứ nhất, HS tích cực đón nhận tình huống học

tập, hăng hái đăng ký VB mà nhóm yêu thích Việc chủ động đón nhận tình huống học tập của người học là tiền đề thúc đẩy tinh thần tự giác, tích cực của người học Các nhóm chủ động lập kế hoạch thực hiện, phân chia công việc cho từng thành viên HS có cơ hội phát huy trí tưởng tượng, sự sáng tạo trong cách phân tích và đánh giá về VB Khi TT về VB “Chí Phèo”, nhóm 4 triển khai 3 luận điểm: quá trình tha hóa của Chí Phèo, khát vọng hoàn lương của Chí Phèo, bi k ch của Chí Phèo

Về nghệ thuật, nhóm nêu nghệ thuật kể

Trang 8

chuyện và xây dựng nhân vật của tác giả

Trong khi đó, nhóm 1 lại phân tích VB

theo kiểu cắt ngang, từ những chi tiết tiêu

biểu trong từng tình huống cụ thể để tìm ra

ý nghĩa.Về nghệ thuật: nhóm này so sánh

nghệ thuật xây dựng nhân vật Chí Phèo với

các nhân vật khác Nếu GV chỉ sử dụng PP

diễn giảng truyền thống thì HS không có

cơ hội thể hiện những cách tiếp cận khác nhau về VB

Nhóm 4 thể hiện rất sáng tạo mối quan

hệ giữa Chí Phèo với các nhân vật khác

bằng sơ đồ (hình 1)

Hình đồ 1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhân vật trong tác phẩm Chí Phèo

Sơ đồ trên tuy chưa khái quát chính

xác về mối quan hệ giữa các nhân vật

nhưng thể hiện cách nhìn của các em về

nhân vật dưới góc độ thiện, ác, bản năng

tính dục và bản năng xâm hại/b xâm hại

Dù bản TT của hai nhóm thiết kế theo

những cách khác nhau nhưng đều đáp ứng

yêu cầu của bài học Khi tiến hành khảo sát

sau TN, với câu hỏi “Người học có được

chủ động trong quá trình tìm kiếm thông

tin và thể hiện thông tin?”, 87,7% HS

khẳng đ nh được chủ động trong tiếp nhận

tri thức

Thứ hai, HS học được kiến thức mới

thông qua các tương tác với GV và bạn học

(với bạn cùng nhóm và giữa các nhóm)

HS thường xuyên chủ động trao đổi với

GV về tài liệu cần đọc, về những điểm cần

chỉnh sửa trong bản TT (cả nội dung lẫn

hình thức), về phong cách TT HS thảo

luận, tranh luận về cách khai thác từng chi

tiết trong VB, về cách thể hiện bài TT Quá trình thảo luận cho HS cơ hội tự kiến tạo kiến thức và tự điều chỉnh kiến thức của mình khi so sánh cách hiểu trước đây của bản thân với cách hiểu của những người khác về VB Ví dụ dưới đây thể hiện rõ điều này Khi TT về VB “Đời thừa” (Nam Cao), nhóm 4 chỉ tập trung vào những bi

k ch của nhân vật Hộ Khi nhóm 3 nêu câu

hỏi “Ngoài việc nói lên bi kịch của người trí thức, Nam Cao có đề cập đến vấn đề nào khác?”, nhóm 4 lúng túng chưa trả lời

được, nhưng khi nghe GV đọc một số câu

“Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái

gì chưa có…”, nhóm 4 nhận ra “tác giả không chỉ phản ánh, bày tỏ thái độ của mình trước hiện thực mà còn thể hiện

Hướng thiện

Th Nở

Bà Ba

Bản năng tính dục

Bản năng xâm hại/b xâm hại

Trang 9

những tuyên ngôn về nghệ thuật” Hay khi

nhóm 1 TT bài “Tương tư” (Nguyễn Bính),

nhóm 2 hỏi “Trong phong trào Thơ mới,

nhiều nhà thơ đã vẽ được nhiều bức tranh

quê tươi đẹp như Anh Thơ, Đoàn Văn

Cừ… nhưng chỉ có Nguyễn Bính nói được

cái hồn quê, nhờ đó gợi lên được “hồn xưa

đất nước”(Hoài Thanh) Điều này đã được

thể hiện thế nào qua bài “Tương tư”? Câu

hỏi chứng tỏ người hỏi có kiến thức về

“bức tranh quê”, về “hồn xưa đất nước”

Nhóm 1 đã có câu trả lời xuất sắc “Trong

thơ Nguyễn Bính, hồn quê đất nước được

thể hiện qua cảnh vật gần gũi, tình cảm

mộc mạc chân thành của con người, qua

cách sử dụng rất nhiều thành ngữ: một

nắng hai sương, chín nhớ mười mong, bảy

nổi ba chìm, trăm cay ngàn đắng, năm tao

bảy tuyết, lạnh như tiền, thở ngắn than dài,

đào sâu chôn chặt, nhạt thắm phai đào ”

Câu trả lời trên thể hiện sự hiểu biết của

nhóm 1 không chỉ về bài Tương tư mà còn

về thơ Nguyễn Bính Để trả lời những câu

hỏi như vậy các thành viên trong nhóm TT

phải động não, huy động kiến thức để lí

giải, lập luận thuyết phục bạn học, nhóm

nêu câu hỏi phải lắng nghe, phản bác và

lập luận cho phản bác của mình Đó chính

là quá trình tương tác giữa các HS, qua đó,

mỗi HS kiến tạo kiến thức mới trên nền

tảng kiến thức đã có một cách chủ động, tự

nhiên, hứng thú và tự giác

Có thể nói, quá trình tự đọc VB, thảo

luận trong nhóm, thảo luận trên lớp đã tạo

cho HS cơ hội trải nghiệm nhiều lần về

VB Nếu những hoạt động này được thực

hiện thường xuyên, giờ đọc hiểu sẽ giúp

cho HS đạt được 5 loại hiểu biết về VB mà

Probst (1992) đã nêu, đó là hiểu VB hơn,

hiểu bản thân, hiểu người khác hơn, hiểu

ngữ cảnh tạo nghĩa cho VB (khi đọc một

mình, khi thảo luận trong nhóm và trên

lớp) và hiểu tiến trình/cách thức tạo nghĩa cho VB Giờ học thực sự là “sự thám hiểm, đào sâu các ý tưởng khác nhau về VB, thăm dò các cách hiểu có thể” về VB (Langer, 1992) Vì thế, kiến thức mà HS thu nhận được vừa có tính cá nhân vừa có tính xã hội

Khi thảo luận, HS đã đặt ra được nhiều câu hỏi hay Nhóm 3 nêu câu hỏi cho nhóm

2 “Chí Phèo bị đẩy vào tù bởi Bá Kiến, thay đổi 180 0 thành một con quái vật, nhưng bát cháo hành của Thị Nở lại đưa hắn trở về Tại sao lại có sự thay đổi bởi một nhân tố có vẻ nhỏ bé như vậy?” Câu

hỏi trên thể hiện HS không chỉ nắm chắc nội dung VB mà còn biết đặt câu hỏi vào những điểm mấu chốt trong VB Cuộc trao đổi về câu hỏi này giúp cho bản thân người hỏi và người trả lời khai phá được lớp vỏ ngôn từ và đọc được ý tình mà tác giả gửi gắm

Sau khi tiến hành TN chúng tôi thăm

dò ý kiến của người học về giá tr , tác dụng của việc cho người học TT trong giờ đọc hiểu VB, 93% HS khẳng đ nh mình có điều kiện phát huy tính tự chủ trong học tập; 94% cho rằng mình được trình bày những

ý kiến của bản thân Những số liệu này trùng khớp với thực tế xảy ra trong lớp học

mà chúng tôi đã ghi nhận được

(2) Kĩ năng giao tiếp của HS được phát triển

Giao tiếp là một trong những năng lực cốt lõi mà HS cần được rèn luyện từ trong nhà trường TT tạo cho HS cơ hội được phát triển năng lực này Phương tiện chủ yếu của TT là lời nói kết hợp với ngôn ngữ hình thể, hình vẽ nhằm tác động vào thính giác, th giác của người nghe Năng lực TT của HS được tăng lên qua mỗi lần

TT Những ghi chép của chúng tôi trong quá trình TN cho thấy: trong lần TT đầu

Trang 10

tiên, phần lớn HS chỉ đọc lại những nội

dung đã được thể hiện trên màn hình, thậm

chí chỉ nhìn vào màn hình, quay lưng với

bạn học, thiếu hẳn sự tương tác với các HS

khác Thông tin trên mỗi slide dài dòng, sử

dụng nhiều hiệu ứng làm phân tán sự chú ý

của người nghe Sự trải nghiệm qua mỗi

lần TT cùng với sự góp ý của bạn học và

GV đã giúp HS điều chỉnh cách sử dụng

ngôn từ, giọng điệu, điệu bộ phù hợp Cách

thức tổ chức TT sinh động hơn, các slides

trên file powerpoint được trình bày rõ ràng,

khoa học hơn Ví dụ: ở bài TT đầu tiên về

đoạn trích “Tình yêu và thù hận”, bài TT

của nhóm 1 được thiết kế dạng file Word

Người TT chủ yếu đọc bài viết, không

tương tác với người tham dự Sau khi

nhóm tự rút kinh nghiệm bằng cách điền

vào phiếu 2 và được sự góp ý, đánh giá của

GV và các nhóm khác (phiếu 3), bài TT

thứ hai của nhóm về VB “Tương tư” rất

sinh động, hấp dẫn và được đánh giá là hay

nhất trong số 4 bài TT của lớp Các em đã

kết hợp ngôn từ (hỏi, trả lời, dẫn giải) với

âm thanh (nhạc, khúc ngâm) kết hợp với

hình ảnh, màu sắc, đồng thời thu hút toàn

thể lớp học tham gia bằng trò trơi nhận

thức với tên gọi “Đôi bạn hoàn hảo”

Sự tự tin của HS được tăng lên qua

hoạt động TT, thể hiện sự thoát ly VB,

phối hợp hiệu quả với các thành viên trong

nhóm, sự tương tác với những người khác

qua hoạt động hỏi, đáp Đoạn đối thoại

giữa nhóm 1 (nhóm TT) và 3 nhóm khác

dưới đây về nhân vật Chí Phèo minh chứng

cho điều này:

- Nhóm 2: Tình yêu giữa Chí Phèo và

Th Nở là tình yêu đơn phương hay

song phương? Yếu tố nào của xã hội

đã giết chết Chí Phèo?

- Nhóm 1 (HS Đ) trả lời: Tình yêu giữa

Chí Phèo và Th Nở là tình yêu song

phương: Chí Phèo yêu Th Nở vì Chí Phèo thấy được tình yêu, tình người nơi Th Nở Th Nở đã đánh thức con người nhân tính nơi Chí Phèo Th Nở thấy được ở Chí Phèo bản chất của con người lương thiện Yếu tố xã hội giết chết con người nơi Chí Phèo gồm: Bọn cường hào (Bá Kiến) nhà tù và đ nh kiến xã hội (qua bà cô Th Nở)

- Nhóm 3: Khi Chí Phèo b cự tuyệt và

tìm đến cái chết, theo bạn, Chí Phèo tỉnh hay Chí Phèo say?

- Nhóm 1 (HS K): Chí Phèo vừa tỉnh vừa

say, say thể hiện qua việc Chí Phèo

đ nh đến nhà bà cô Th Nở nhưng lại đến nhà Bá Kiến, mời các bạn đọc lại

đoạn này trong SGK trang 186 (K đọc

“Những thằng điên… định làm”) Chí Phèo tỉnh thể hiện qua trong đoạn “Khi sầu Chí Phèo mượn rượu để giải sầu nhưng càng uống càng tỉnh và chao ôi

là buồn Hắn cứ thoảng thấy hơi cháo hành ”

- Nhóm 3 phản bác: Đoạn bạn vừa đọc

xảy ra trước khi Chí Phèo đến nhà Bá Kiến và đâm chết hắn Tuy nhiên, tôi đồng ý với bạn là Chí Phèo vừa say vừa tỉnh khi thực hiện hành động này

- Nhóm 4: Theo các bạn, trong mối quan

hệ giữa Bà Ba, Chí Phèo, Th Nở, ai là người tốt, ai là người xấu?

- Nhóm 1 (HS P): Quan hệ giữa bà Ba

và Th Nở với Chí Phèo là mối quan hệ tính dục Theo chúng tôi: Th Nở là người tốt, bà Ba là người xấu Vì bà Ba chỉ xem Chí Phèo là đối tượng thỏa mãn dục tính, bà ấy là người gián tiếp gây ra cái chết của Chí Phèo Ngược lại, tuy Th Nở là người phụ nữ xấu ma chê quỷ hờn nhưng Th Nở đến với Chí Phèo bằng trái tim, là tình cảm cảm thông, nhân tính, Th Nở đã đánh thức

Ngày đăng: 25/10/2020, 22:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w