Bài viết trình bày việc vận dụng kết hợp một số phương pháp giảng dạy chủ động để dạy học chương “Cảm ứng điện từ” của môn Vật lý đại cương 2 tại Trường Đại học Công nghiệp Vinh. Với phương pháp này, hầu như sinh viên hoàn toàn chủ động, tự lực tìm kiếm và tiếp nhận kiến thức.
Trang 1VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
CHỦ ĐỘNG VÀO VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG
“CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” MÔN VẬT LÝ II
Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT
NGUYỄN DUY CƯỜNG (*)
TÓM TẮT
Trong bài báo, chúng tôi đã vận dụng kết hợp một số phương pháp giảng dạy chủ động để dạy học chương “Cảm ứng điện từ” của môn Vật lý đại cương 2 tại Trường Đại học Công nghiệp Vinh Với phương pháp này, hầu như sinh viên hoàn toàn chủ động, tự lực tìm kiếm và tiếp nhận kiến thức Lớp học được chia làm các nhóm sinh viên, mỗi nhóm đảm nhận một khối lượng kiến thức trong chương Giảng viên hướng dẫn và yêu cầu các nhóm tự chế tạo, lắp ráp, vận hành thí nghiệm liên quan đến kiến thức cần xây dựng Những thí nghiệm và kiến thức đó được sinh viên sử dụng phần mềm Powerpoint viết và trình bày báo cáo quá trình chế tạo, vận hành thí nghiệm để làm rõ kiến thức cho cả lớp Sau báo cáo của mỗi nhóm, sinh viên cùng giảng viên nhận xét, đánh giá, bổ sung, chuẩn hóa kiến thức, cùng nhau xây dựng và tiếp nhận kiến thức theo sát mục tiêu của chương Kết quả dạy học cho thấy: Về kiến thức, sinh viên chiếm lĩnh tri thức một cách sâu sắc hơn, vận dụng lý thuyết làm bài tập tốt hơn Về kỹ năng, sinh viên hình thành được năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hành động thực tiễn,… Điều đó cho thấy phương pháp giảng dạy chủ động này góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở trường Đại học, Cao đẳng hiện nay
Từ khóa: Phương pháp giảng dạy chủ động; cảm ứng điện từ
ABSTRACT
In this article, issue of applying several dynamic methods in teaching the chapter
“electromagnectic induction”, a physics II unit at Industrial University of Vinh is presented The issue discused is active learning performed by students in which students dynamically carry out most of their knowledge searching and understanding with the tutoring form the teachers This method includes students in their group manufacturing, assembling, doing experiments and writing the report on Powerpoint as well as presenting their work themselves and hence gaining knowledge from other groups After reports of each team, students and faculty comments, reviews, supplements and standardized knowledge, work together to build knowledge and reception follow the objectives of the program Results showed that teaching: knowledge, knowledge of students occupied a deeper way, applying theory homework better Skills, students formed problem solving capacity, capability practices, This shows that teaching methods actively contribute innovative teaching methods in universities and colleges today
Key words: dynamic teaching methods; electromagnetic induction.
(*) ThS, Trường Đại học Công nghiệp Vinh
Trang 21 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, hầu hết phương pháp giảng dạy
môn vật lý đại cương ở các trường Đại học,
Cao đẳng còn mang tính thụ động, phổ biến
nhất vẫn là sử dụng bảng viết phấn, hoặc
sử dụng máy tính trình chiếu các slide đầy
chữ để sinh viên ghi chép lại Những
phương pháp đó không còn hiệu quả, quá
phụ thuộc vào các bài thuyết trình của
giảng viên và ít sử dụng các kỹ năng học
tập tích cực, ít có sự tương tác giữa sinh
viên và giảng viên trong và ngoài lớp học
Sinh viên học một cách thụ động chủ yếu
nghe diễn thuyết của thầy, trò ghi chép,
nhớ lại những thông tin đã học, học thuộc
lòng và tái hiện lại khi làm bài thi hay sử
dụng trong công việc Học thụ động nên
những cử nhân sau khi ra trường sẽ ít tham
gia nghiên cứu khoa học và không sáng tạo
trong công việc
Mặt khác vật lý đại cương II là môn học
có rất nhiều ứng dụng trong khoa học kỹ
thuật, thực tiễn và đời sống Trong khi, một
số yêu cầu đào tạo đối với sinh viên các
ngành công nghệ sau khi học xong môn vật
lý đại cương II về mặt kiến thức và kỹ năng
đó là: sinh viên phải hiểu rõ các khái niệm,
quy luật, hiện tượng vật lý, tìm hiểu cấu tạo,
nguyên tắc hoạt động của các thiết bị kỹ
thuật để làm cơ sở cho việc học chuyên
ngành sau này và khi ra trường Do vậy, nếu
giảng viên giảng dạy thụ động sẽ không đáp
ứng được những yêu cầu đó
Để khắc phục những hạn chế trên,
chúng tôi nghiên cứu các phương pháp
giảng dạy chủ động vận dụng vào tổ chức
dạy học chương “Cảm ứng điện từ” của
môn vật lý đại cương II, được thực hiện tại
trường Đại học Công nghiệp Vinh
2 PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHỦ
ĐỘNG
Qua những kết luận tại hội thảo CDIO
(Conceive - Design - Implement - Operate)
2010 của Trung tâm Nghiên cứu cải tiến phương pháp dạy và học đại học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Chúng tôi trình bày về phương pháp dạy học chủ động như sau:
2.1 Khái niệm về phương pháp giảng dạy chủ động
Phương pháp giảng dạy chủ động là phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học “Chủ động” trong phương pháp giảng dạy chủ động được dùng với nghĩa là hoạt động tích cực, trái nghĩa với
bị động, thụ động Phương pháp giảng dạy chủ động hướng tới việc hoạt động hóa, chủ động hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính chủ động của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính chủ động của người dạy
Một nghiên cứu của Biggs năm 2003 cho thấy rằng mối liên hệ chặt chẽ giữa các hoạt động của người học với hiệu quả học
10% đọc 20% nghe 30% nhìn 50% nghe và nhìn 70% trao đổi với người khác
90% dạy lại cho người khác 80% sử dụng trong thực tế
Hình 1: Tháp học tập thể hiện tỉ lệ phần
trăm ghi nhớ kiến thức tương ứng với các hoạt động học tập của sinh viên
Trang 3tập Tỉ lệ tiếp thu kiến thức của người học
tăng lên cao khi được vận dụng đa giác
quan vào hoạt động học tập (hình 1), được
sử dụng trong thực tế và đặc biệt nếu được
dạy lại (hoặc truyền đạt lại) cho người
khác Giảng dạy chủ động chính là tổ chức
các hoạt động học tập đa dạng và phong
phú giúp làm tăng khả năng ghi nhớ và tái
hiện kiến thức
2.2 Một số đặc điểm của phương pháp
giảng dạy chủ động
a Người học là trung tâm
Trong phương pháp dạy học chủ động,
người học - đối tượng của hoạt động “dạy”,
đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” -
được cuốn hút vào các hoạt động học tập
do giảng viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua
đó tự lực khám phá những điều mình chưa
rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những
tri thức đã được giảng viên sắp xếp trước
Sinh viên được đặt vào những tình huống
của đời sống thực tế, người học trực tiếp
quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải
quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của
mình, từ đó nắm được kiến thức kỹ năng
mới, vừa nắm được phương pháp tìm ra
kiến thức, kỹ năng đó
b Chú trọng rèn luyện phương pháp
tự học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi
nhanh, với sự bùng nổ thông tin, khoa học
và công nghệ phát triển như vũ bão, thì
việc sinh viên tự học sau khi ra trường là
rất quan trọng Khi đó, người thầy không
còn là người cung cấp trực tiếp cho bạn
kiến thức nữa Phương pháp giảng dạy chủ
động sẽ rèn luyện cho người học có được
phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí tự
học từ đó sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi
dậy nội lực vốn có trong mỗi con người,
kết quả học tập sẽ được nhân lên trong đời
sống của họ
c Phối hợp giữa học tập cá nhân với học tập hợp tác
Lớp học là môi trường giao tiếp giảng viên - sinh viên, sinh viên - sinh viên, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh tri thức Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Điều này phù hợp với môi trường thực tế sau này khi sinh viên tốt nghiệp và đi làm, buộc mọi người phải học tập suốt đời, phối hợp giữa học tập cá nhân
và học tập hợp tác
d Vai trò của giảng viên trong giảng dạy chủ động: người hướng dẫn, tổ chức hoạt động
Với phương pháp chủ động, người thầy không chỉ là người truyền đạt thông tin mà còn là người tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của người học Một cách cụ thể hơn, người thầy còn đóng vai trò thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để sinh viên tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, sinh viên hoạt động là chính, giảng viên chỉ là người hướng dẫn
e Kết hợp đánh giá của giảng viên với
tự đánh giá của sinh viên
Trước đây giảng viên giữ độc quyền đánh giá sinh viên, nhưng trong phương pháp chủ động thì giảng viên cần phải hướng dẫn sinh viên phát triển kỹ năng đánh giá kiến thức để tự điều chỉnh cách học Vì vậy, giảng viên cần tạo điều kiện,
tổ chức hoạt động để sinh viên được đánh giá về kiến thức khi các nhóm trình bày, quá trình hoạt động của các nhóm Qua đó, sinh viên khắc sâu kiến thức hơn, mạnh dạn hơn, chủ động hơn trong học tập
Trang 42.3 Giới thiệu một số phương pháp
giảng dạy chủ động
Có rất nhiều phương pháp giảng dạy
chủ động, trong bài viết này chúng tôi chỉ
giới thiệu tóm tắt một số phương pháp dạy
học sử dụng phổ biến tại các trường đại
học tiên tiến Chúng tôi tạm phân biệt chia
các phương pháp dạy học chủ động thành 2
nhóm tùy thuộc vào mức độ gắn kết với
thực tế ít và nhiều: Nhóm phương pháp
sinh viên học chủ động và nhóm phương
pháp giúp sinh viên học tập qua trải
nghiệm Sau đây là bảng tóm tắt các
phương pháp giảng dạy:
Hợp chất 2 là tinh thể lập phương
không màu, điểm nóng chảy 162-163oC
Phổ UV cho hấp thụ cực đại ở 212 nm Phổ
IR (cm-1)cho thấy các pic hấp thụ mạnh ở
tần số 2937 (C=C), 1690 (C=O), 1487 (C=C) Phổ khối lượng va chạm electron
(EI-MS) cho pic ion phân tử ở m/z 302 [M]+
tương ứng với công thức phân tử C20H30O2 Phổ 1H-NMR của hợp chất 2 cho thấy
tín hiệu của hai proton trên liên lết C=C tại
4,80 (1H, br s, H-17b) và 4,73 (1H, br s,
H-17a), tín hiệu của proton H-13 trên
nhóm metin tại 2,63 (1H, br s, H-13), và tại 1,24 (3H, s, H-18), 0,95 (3H, s, H-20) là
của proton ở hai nhóm metyl vị trí H-18 và H-20 Phổ cộng hưởng từ 13C-NMR cho thấy tín hiệu của 20 cacbon, trong đó có tín hiệu của cacboxylic ở 184,7 ppm, tín hiệu của liên kết đôi của C-16 và C-17 lần lượt tại 155,8 và 103,0 ppm Giá trị cụ
thể được ghi ở bảng 2
STT
Tên
phương
pháp
Mô tả vắn tắt Lợi ích của người học Giúp sinh viên học tập chủ động
- GV nêu vấn đề cần giải quyết, quy định thời gian và cách làm việc
- SV làm việc cá nhân, liệt kê nhanh các ý tưởng.
- Tư duy sáng tạo
- Giải pháp và đề xuất
2 Chia sẻ theo cặp
- GV nêu vấn đề cần thảo luận, qui định thời gian
và cách chia sẻ
- SV làm việc theo cặp, lắng nghe và trình bày ý kiến, bảo vệ và phản bác
- Cấu trúc giao tiếp
- Tư duy suy xét, phản biện
3
Tổ chức
học tập theo
nhóm
- GV tổ chức lớp học theo nhóm và chuẩn bị các nhóm học tập
- Mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ học tập và cùng hợp tác thực hiện
- Kỹ năng làm việc theo nhóm
- Kỹ năng giao tiếp
4 Dạy học dựa trên
vấn đề
- GV xây dựng “vấn đề” có liên quan đến nội dung dạy học
- SV được giao giải đáp “vấn đề” trên cơ sở cá nhân hoặc nhóm
- Xác định và hình thành vấn đề.
- Đề xuất các giải đáp
- Trao đổi, phán xét, cân bằng trong hướng giải quyết
5
Phương
pháp đóng
vai
- GV chuẩn bị “kịch bản” có nội dung liên quan đến môn học
- Một số sinh viên được phân vai để thực hiện
“kịch bản” Số sinh viên còn lại đóng vai trò khán giả và người đánh giá
- Tư duy suy xét, phản biện
- Nhận biết về kiến thức, kỹ năng và thái độ cá nhân của bản thân
Trang 5Giúp sinh viên học qua trải nghiệm
6
Dạy học
thông qua
làm đồ án
- GV chuẩn bị nội dung các đồ án môn học
- SV được giao thực hiện đồ án trên cơ sở cá nhân hoặc nhóm
- Lập giả thiết
- Kỹ năng thiết kế - triển khai
- Kỹ năng giao tiếp bằng viết
- Kỹ năng thuyết trình
tình huống
- GV xây dựng tình huống có liên quan đến nội dung dạy học
- SV được giao giải đáp các tình huống trên cơ
sở cá nhân hoặc nhóm
- Đề ra giải pháp
- Ước lượng và phân tích định tính
- GV xây dựng mô hình mô phỏng (phần cứng, phần mềm), giải thích các qui tắc, tình huống, giám sát mô hình khi nó vận hành
- SV thực hiện các mô phỏng và phản ánh lại trải nghiệm qua những bài báo cáo hoặc các bài tập
- Kỹ năng mô hình hóa
- Kỹ năng thử nghiệm khảo sát
- Giao tiếp đồ họa
9
Học tập
phục vụ
cộng đồng
- GV liên hệ cộng đồng và nối kết các vấn đề cộng đồng với các lý thuyết môn học
- SV tự nguyện tham gia, giải quyết vấn đề của động đồng, áp dụng các kiến thức được học
- Vai trò và trách nhiệm đối với
xã hội
- Nhận biết được bối cảnh các tổ chức xã hội
- Ham tìm hiểu và học tập suốt đời
3 TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG
“CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ” THEO
HƯỚNG GIẢNG DẠY CHỦ ĐỘNG
Để đạt được mục tiêu về kiến thức và kỹ
năng khi giảng dạy chương “Cảm ứng điện
từ” tại trường Đại học Công nghiệp Vinh,
chúng tôi đã sử dụng tổng hợp nhiều phương
pháp giảng dạy chủ động khác nhau
Phương pháp tổ chức học tập theo nhóm
Giảng viên chia lớp thành các nhóm
sinh viên, giao cho mỗi nhóm một nhiệm
vụ nhất định, hướng dẫn tiến trình thực
hiện và yêu cầu thời gian hoàn thành Với
chương “Cảm ứng điện từ” chúng tôi chia
làm 4 nhóm tương ứng với các nội dung
sau đây:
- Nhóm 1: Tìm hiểu và trình bày khái
niệm về “Hiện tượng cảm ứng
điện từ”
- Nhóm 2: Tìm hiểu và trình bày “Dòng
điện Phucô”
- Nhóm 3: Tìm hiểu và trình bày về “Hiện
tượng tự cảm”
- Nhóm 4: Tìm hiểu và trình bày “Một số
ứng dụng của hiện tượng cảm ứng điện từ”
Phương pháp mô phỏng giúp sinh viên
trải nghiệm Giáo viên yêu cầu sinh viên chuẩn bị trước các thiết bị thí nghiệm liên quan đến nhiệm vụ mà nhóm mình đảm nhiệm Đối với việc chuẩn bị này giảng viên phải nêu định hướng trước cho sinh viên biết các tên thí nghiệm liên quan đến nội dung nghiên cứu, tên thiết bị, cách tìm hay chế tạo thiết bị Có thể giảng viên dành thời gian tương tác thêm ngoài giờ hướng dẫn cho sinh viên cho đến khi sinh viên hoàn thành thí nghiệm Thông qua quá trình sinh viên chuẩn bị và làm thí nghiệm
họ sẽ nảy sinh vấn đề, tự đạt ra các câu hỏi
“tại sao?”, “vì sao?”
Sau khi làm xong thí nghiệm các nhóm sinh viên viết báo cáo để chuẩn bị trình bày bằng phần mềm Powerpoint Vì là sinh
Trang 6viên năm thứ nhất nên giáo viên cần hỗ trợ,
hướng dẫn sinh viên tìm đọc những kiến
thức liên quan của nhóm trong sách giáo
khoa để trình bày về mặt lý thuyết và hỗ
trợ về cách sử dụng phần mềm trình diễn
Powerpoint
Phương pháp đóng vai, cho các nhóm
sinh viên trình bày nội dung đã chuẩn bị
Các nhóm sinh viên cử người báo cáo đóng
vai là người truyền đạt thông tin Số sinh
viên còn lại đóng vai là khán giả và đánh giá
phần báo cáo của các nhóm khác Giáo viên
là người hỗ trợ, điều chỉnh những nội dung
kiến thức mà sinh viên có sai lệch, bổ sung
những kiến thức còn thiếu trong báo cáo
3.1 Trình tự tổ chức dạy học chương
“Cảm ứng điện từ”
3.1.1 Tổ chức các nhóm sinh viên
chuẩn bị thiết bị thí nghiệm liên quan đến
nhiệm vụ mà nhóm đảm nhiệm
Trên cơ sở những kiến thức đã có,
giảng viên hướng dẫn các nhóm sinh viên
chuẩn bị thiết bị liên quan đến nhiệm vụ
mà nhóm đảm nhiệm Nội dung hướng dẫn
cần nêu được: tên thí nghiệm là gì, mục
đích của thí nghiệm, tên các thiết bị thí
nghiệm và mua hoặc tận dụng, chế tạo như
thế nào Nhiệm vụ này rất quan trọng, có
thể xem là quan trọng nhất và khó nhất, bởi
vì việc làm thí nghiệm bước đầu không dễ
thành công, do đó giáo viên cần hỗ trợ để
sinh viên chắc chắn phải hoàn thành thì
mới có thể làm các bước tiếp theo
3.1.2 Hướng dẫn và yêu cầu sinh viên
hoàn thành bài báo cáo
- Các nhóm độc lập lắp ráp thí nghiệm
và tiến hành thí nghiệm ở nhà, hoặc ở các
phòng học dành cho sinh viên tự học cho
đến khi thành công
- Sau khi lắp rắp và tiến hành xong, các
nhóm trình bày nội dung cần báo cáo theo
sự chỉ dẫn của giáo viên Nội dung báo cáo
cần làm rõ: Mục đích nghiên cứu của nhóm, các thiết bị thí nghiệm và cách chế tạo hoặc lấy từ đâu, lắp ráp, tiến hành và nêu hiện tượng của thí nghiệm, giải thích hiện tượng, xử lý kết quả thí nghiệm, từ kết quả thí nghiệm khái quát hóa nên kiến thức vật lý liên quan Tất cả các nội dung được trình bày trên phần mềm trình diễn Powerpoint
3.1.3 Trình bày báo cáo trước tập thể lớp
- Các nhóm cử một sinh viên đại diện hoặc một số sinh viên (nếu cần thiết để hỗ trợ trong khi tiến hành thí nghiệm) để báo cáo trước lớp Để báo cáo thành công và có hiệu quả, giáo viên yêu cầu các nhóm phải tập duyệt trước khi báo cáo trước lớp
- Các nhóm còn lại theo dõi báo cáo để hiểu nội dung, đánh giá báo cáo, đồng thời đặt câu hỏi, trao đổi và thảo luận
3.1.4 Sinh viên và giảng viên chuẩn hóa kiến thức
Kiến thức mà các nhóm sinh viên báo cáo có thể vẫn chưa được phát biểu thật chính xác vì vậy sinh viên và giảng viên cần chuẩn hóa kiến thức Các nhóm sinh viên đặt ra những câu hỏi để nhóm báo cáo trả lời Nếu nhóm báo cáo không trả lời được, hoặc trả lời chưa chính xác, giảng viên cần ghi chép lại Sau khi các nhóm báo cáo và chất vấn xong, giảng viên cần chuẩn hóa kiến thức sao cho đúng với mục tiêu của bài
4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
4.1 Về chuẩn bị thiết bị, lắp ráp thí nghiệm và tiến hành các thí nghiệm ở từng nhóm
4.1.1 Thí nghiệm cho khái niệm “Hiện tượng cảm ứng điện từ”(nhóm 1)
- Thiết bị thí nghiệm Hai bản từ (1) gồm nhiều nam châm gốm được ghép sát nhau Chúng được gắn thẳng đứng trên một giá nhựa nằm ngang
và quay dễ dàng do giá nhựa được lắp trên
Trang 7ổ bi Các nam châm gốm (2) dùng để gắn
lên hai bản từ Một khung dây dẫn kín (3)
được quấn từ các sợi dây đồng có đường
kính 0,07 mm, có phủ sơn cách điện Trên
khung dây có hai cặp đầu dây lấy ra 200
vòng và 400 vòng Khung dây được làm
biến dạng nhờ một thanh thép inox mảnh
(4), xê dịch dễ dàng, được gắn ở phía dưới
khung Hai đèn LED (5) được dùng để phát
hiện có dòng điện cảm ứng trong khung
dây hay không (nếu đèn lóe sáng chứng tỏ
có dòng điện) Nguồn điện một chiều 12 V
có sẵn ở các trường Đại học, Cao đẳng
- Với các thiết bị thí nghiệm trên nhóm 1 có thể làm được các thí nghiệm sau:
Thí nghiệm về sự xuất hiện dòng điện
cảm ứng trên khung dây khi độ lớn cảm ứng từ B tại tiết diện khung dây thay đổi
Thí nghiệm về sự xuất hiện dòng điện
cảm ứng trên khung dây khi diện tích S của tiết diện khung dây thay đổi
Thí nghiệm về sự xuất hiện dòng điện
cảm ứng trên khung dây khi góc α giữa
véc tơ pháp tuyến n của tiết diện khung dây và cảm ứng từ B thay đổi
4.1.2 Thí nghiệm về “Dòng điện Fu - cô”(nhóm 2)
- Thiết bị thí nghiệm Thanh nhôm dài 300 mm, có gắn tấm nhôm mỏng, liền khối (1) và thanh nhôm dài 300 mm, có gắn tấm nhôm mỏng, được
xẻ nhiều rãnh (2) Hai tấm nhôm này có cùng kích thước là 70 mm 50 mm 2
mm Trục lồng hai ổ bi (3) để lắp các thanh nhôm và trục được gắn trên giá thí nghiệm (4) Hai bản từ gồm nhiều nam châm gốm được ghép sát nhau gắn trên giá đỡ có ổ bi
ở thiết bị thí nghiệm về hiện tượng cảm ứng điện từ Ống dây đồng 2000 vòng, hình trụ đường kính trong 40 mm, cao 60
mm (5), có các đầu ra được nối vào phích cắm điện Lõi thép chữ U (6) có tiết diện ngang 10 mm 10 mm, cao 60 mm, được ghép từ nhiều lá thép cách điện với nhau Khối thép chữ I đặc (7) và khối thép chữ I được ghép từ nhiều lá thép cách điện với nhau (8) Các khối thép đều có kích thước
là 10 mm 10 mm 40 mm; nhiệt kế (9), nguồn điện một chiều 12 V hiện có ở trường Đại học, Cao đẳng
- Với các thiết bị thí nghiệm các em có thể tiến hành được các thí nghiệm sau:
Thí nghiệm về dao động của tấm nhôm
Hình 2 TBTN hiện tượng cảm ứng điện từ
Trang 8liền khối trong không khí và trong từ trường
Thí nghiệm về dao động của tấm nhôm
liền khối và tấm nhôm xẻ rãnh trong không
khí và trong từ trường
Thí nghiệm về sự nóng lên của khối
thép đặc và khối thép được ghép từ nhiều
lá thép cách điện với nhau khi đặt trong từ
trường biến đổi theo thời gian
4.1.3 Thí nghiệm về “Hiện tượng
tự cảm” (nhóm 3)
- Thiết bị thí nghiệm
Khung dây dẫn (1) có lõi sắt có 1000
vòng dây Biến trở 30(2) được lắp trên
đế có giắc cắm Hai đèn dây tóc 1,5V-3W
(3) được lắp trên đế có giắc cắm Cầu dao
đóng ngắt điện (6), cầu nối điện (4) và
bảng mạch in (5) có các cặp lỗ để cắm các
linh kiện điện Để tiến hành các thí nghiệm
với thiết bị thí nghiệm, còn cần sử dụng
nguồn điện một chiều 12V có ở các trường
Đại học, Cao đẳng
- Các thiết bị thí nghiệm cho phép tiến
hành các thí nghiệm sau:
Thí nghiệm về hiện tượng tự cảm khi
đóng mạch
Thí nghiệm về hiện tượng tự cảm khi
ngắt mạch
4.1.4 Các thiết bị thí nghiệm về “Một
số ứng dụng của hiện tượng cảm ứng điện
từ”(nhóm 4)
- Thiết bị thí nghiệm
Nhiệt kế (1) dùng để nhận biết sự nóng
lên của nước trong ca (3) Giá đỡ (2) dùng
để lắp đặt thí nghiệm mô hình chức năng
của bếp từ Ống dây đồng 2000 vòng, hình trụ đường kính trong 40 mm, cao 60 mm (4), có các đầu ra được nối vào phích cắm điện Lõi thép chữ U có tiết diện ngang 10
mm 10 mm, cao 60 mm, được ghép từ nhiều lá thép cách điện với nhau, khối thép chữ I đặc Môtơ một chiều (5), giá đỡ bằng
gỗ (6), khối nhôm (7) được đặt trên giá và
có thể quay quanh trục của nó, nam châm hình chữ U được chế từ nam châm gốm (8), dây curoa truyền động (9) Ngoài ra, để tiến hành các thí nghiệm với thiết bị thí nghiệm, nhiệt kế, nguồn điện một chiều 12
V hiện có ở trường Đại học, Cao đẳng
- Các thiết bị thí nghiệm cho phép tiến hành được các thí nghiệm sau:
Thí nghiệm mô hình chức năng của bếp
điện từ
Thí nghiệm minh họa nguyên tắc cấu
tạo và hoạt động của phanh điện từ
4.2 Về kiến thức và kỹ năng
Phương pháp giảng dạy trên cho thấy sinh viên hầu như chủ động trong các hoạt động học từ việc thiết kế, chế tạo các thiết
bị thí nghiệm, trình bày báo cáo, đến nhận xét đánh giá, chuẩn hóa thu nhận kiến thức Sinh viên chủ động trong hoạt động chuẩn
bị các thiết bị thí nghiệm Sự chủ động được thể hiện qua việc các em phải tự lập
kế hoạch thực hiện, tìm kiếm thiết bị, lắp ráp, chạy thử cho đến khi thí nghiệm thành công dưới sự định hướng ban đầu của giảng viên Mặt khác, các em chủ động
Hình 4 TBTN về hiện tượng tự cảm
Hình 5 TBTN về ứng dụng của hiện
tượng cảm ứng điện từ
6 7
Trang 9trong hoạt động trình bày báo cáo trước
lớp, hoạt động này chính là “dạy lại cho
người khác”, rồi đánh giá và chuẩn hóa
kiến thức Để làm tốt những hoạt động này,
các em phải tự chuẩn bị ở nhà cả phần kiến
thức, kỹ năng soạn thảo trình chiếu lẫn kỹ
năng thuyết trình thật kỹ, vì thế mà kiến
thức thu nhận được khắc sâu hơn Ngoài ra,
giảng viên đã thiết kế cho sinh viên nhiều
hoạt động nên sẽ hình thành cho sinh viên
nhiều kỹ năng Từ hoạt động chia nhóm,
giao đề tài giúp sẽ hình thành kỹ năng đặt
vấn đề, cách giải quyết một vấn đề, kỹ năng
làm việc nhóm, yêu cầu chuẩn bị thí
nghiệm cho đến hoạt động đóng vai trình
bày báo cáo cách giúp các em làm quen với
một số thiết bị kỹ thuật, hình thành kỹ năng
thực hành, giải thích nguyên tắc hoạt động của các thiết bị kỹ thuật và kỹ năng thuyết trình trước đám đông
Phương pháp giảng dạy chủ động nâng cao tính chủ động của người học nhưng không có nghĩa xem nhẹ vai trò của người thầy mà ngược lại đòi hỏi giảng viên dành nhiều thời gian để tương tác ngoài giờ, giúp đỡ sinh viên trong các hoạt động Người thầy phải thể hiện vai trò là một người tổ chức, định hướng, dẫn dắt sinh viên để đạt được mục tiêu dạy học Nhưng
bù lại sự vất vả đó, sinh viên không những chiếm lĩnh tri thức một cách sâu sắc mà còn hình thành cho họ được năng lực tự học và học tập suốt đời
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đặng Minh Chưởng (2010), “Xây dựng và sử dụng thiết bị thí nghiệm trong dạy
học chương “Cảm ứng điện từ” ở lớp 11 trung học phổ thông nâng cao theo hướng phát triển hoạt động nhận thức sáng tạo của học sinh”, luận án tiến sĩ
2 Lương Duyên Bình (2003), “Vật lý đại cương tập 2”, NXBGD
3 Nguyễn Hữu Thọ (2009), “Vật lý đại cương, tập 2”, lưu hành nội bộ, trường Đại
học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh
4 Nguyễn Thành Hải, Phùng Thúy Phượng, Đồng Thị Bích Thủy “Hội thảo CDIO
2010” Trung tâm Nghiên cứu cải tiến phương pháp Dạy và Học đại học Trường
ĐH Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc Gia Tp.HCM
* Nhận bài ngày: 3/4/2014 Biên tập xong: 5/6/2014 Duyệt bài: 12/6/2014