1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định vấn đề nghiên cứu cho công trình khoa học như thế nào?

9 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 342,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này sẽ cố gắng trình bày nguyên tắc giúp học viên sau đại học chủ động sáng tạo trong công đoạn đầu tiên của nghiên cứu khoa học, đó là xác định vấn đề.

Trang 1

XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHO CÔNG TRÌNH KHOA HỌC NHƯ THẾ NÀO?

TRẦN THANH ÁI (*)

“Mọi kiến thức khoa học đều bắt đầu từ một câu hỏi”

(G Bachelard)

TÓM TẮT

Một trong những nhược điểm của nghiên cứu khoa học ở nước ta là cách xác định vấn

đề trước khi nghiên cứu Đó là một công đoạn đã được cộng đồng khoa học thế giới đúc kết thành quy chuẩn Để xác định vấn đề cho nghiên cứu, cần phải phân biệt vấn đề thường ngày trong cuộc sống và công tác, với vấn đề khoa học Vấn đề khoa học là một lát cắt thực tế mà người nghiên cứu thực hiện bằng cách quan sát thực tế rồi phân tích, đối chiếu với kho tàng tri thức của nhân loại, đề phát hiện ra khoảng trống tri thức và tìm ra cái mới trong khoa học Bài viết này sẽ cố gắng trình bày nguyên tắc giúp học viên sau đại học chủ động sáng tạo trong công đoạn đầu tiên của nghiên cứu khoa học, đó là xác định vấn đề

Từ khóa: nghiên cứu khoa học, quan sát thực tế, đối chiếu, phân tích

ABSTRACT

One of weakness of Vietnamese research is how to determine research problems This stape is standardized by international scientific community To determine research problems, it must distinguish daily problems from scientific problems Scientific problem is

a “tranch” of reality that researcher makes by observing reality then analyses it, compares

it and the corpus of knowledge of humanity, in order to discover gaps of knowledge and to finds out scientific novelty This paper will introduce principles which help master students

to determine autonomously and creatively research problem

Keywords: scientific research, observe reality, comparison, analyse

*Nghiên cứu khoa học là nghiên cứu

những gì? Câu hỏi này có vẻ ngây ngô, tầm

thường, nhưng không ít người ngắc ngứ,

hoặc ngộ nhận Thậm chí, có thể nói rằng

trở ngại lớn nhất của mọi sinh viên, học

viên cao học, kể cả nghiên cứu sinh tiến sĩ,

khi phải trả lời cho câu hỏi “nghiên cứu cái

gì?” mà họ phải tự đặt ra để tìm đề tài cho

luận văn của họ Thật vậy, đã có không ít

(*) PGS.TS, Nhà giáo ưu tú, Trường Đại học Cần Thơ

học viên sau đại học phải bỏ học nửa chừng chỉ vì không thể tìm được câu trả lời thỏa đáng, hoặc nói cách khác, không xác định được vấn đề mà họ muốn phát triển thành đề tài nghiên cứu, mặc dù đã hoàn tất các học phần lý thuyết Còn những luận văn/luận án đã hoàn thành thì một số không ít phải hứng chịu nhiều sự phê bình của giới khoa học về nhiều phương diện,

mà đầu tiên là cách xây dựng vấn đề nghiên cứu (research problem) không thích

Trang 2

hợp, khiến chất lượng công trình không

bảo đảm Nhận xét sau đây của GS Trần

Văn Thọ dù cách nay hơn 10 năm nhưng

không hề mất tính thời sự, nếu không

muốn nói rằng ngày càng chính xác:

“Cách suy nghĩ về việc chọn đề tài ở

Việt Nam chỉ làm cho luận án tiến sĩ thiếu

tính học thuật và phần lớn thiếu tính độc

sáng Nội dung, trình độ của luận án do đó

còn rất xa mới đạt được tiêu chuẩn tối thiểu

của thế giới và người được cấp bằng trong

trường hợp đó khó có thể thảo luận khoa

học với chuyên gia nước ngoài trong cùng

ngành” (Trần Văn Thọ, 2003)

Điều đó cho thấy rằng việc xác định

vấn đề nghiên cứu có một vai trò quyết

định trong mọi nghiên cứu khoa học, trong

đó có luận văn, luận án Vì thế, hoàn toàn

có thể hiểu được khi có nhiều nhà khoa học

cho rằng khi học viên, nghiên cứu sinh xây

dựng được đề tài nghiên cứu là đã đi được

nửa chặng đường! Do đó, muốn nâng cao

hiệu quả và chất lượng đào tạo nghiên cứu

khoa học cho các học viên sau đại học,

trước hết cần phải huấn luyện họ cách xây

dựng đề tài Tình trạng chung hiện nay ở

các cơ sở đào tạo sau đại học là học viên

chỉ nhận được sự huấn luyện theo kiểu

“cầm tay chỉ việc” của người hướng dẫn,

thậm chí có không ít học viên phải tự xoay

xở, khiến họ như người mù, ai dắt đi đâu

thì đi đó, nên không rèn luyện được sự chủ

động và sáng tạo Thế mà mục tiêu đào tạo

sau đại học là giúp học viên có năng lực

nghiên cứu khoa học độc lập GS Ngô Bảo

Châu đã nhận xét, các nhà khoa học trẻ sẽ

gặp nhiều khó khăn, vì bối cảnh khoa học

hiện đại cạnh tranh rất quyết liệt, trong khi

họ phải có năng lực làm khoa học độc lập

(Ngô Bảo Châu 2013a)

Để tích cực hóa việc thực hành nghiên

cứu khoa học cho học viên, cần phải hướng

dẫn cho họ những nguyên tắc xây dựng vấn

đề nghiên cứu, khiến họ trở thành người học thông minh, chủ động và sáng tạo Như thế mới tránh được sao chép, rập khuôn trong nghiên cứu, mà trước hết là rập khuôn trong cách chọn đề tài, và mới

có thể tìm được cái mới đóng góp cho khoa học, là điều kiện tiên quyết để được cộng đồng khoa học thế giới công nhận Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày những nguyên tắc xây dựng đề tài nghiên cứu phù hợp với chuẩn mực thế giới; nhưng trước hết, ta thử điểm lại một số đề tài luận án mà dư luận cho là “có vấn đề”,

đã được bảo vệ ở nước ta

1 MỘT SỐ ĐỀ TÀI LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN BỊ PHÊ BÌNH

Vấn đề chất lượng đào tạo sau đại học

đã được báo động nhiều lần trong các cuộc hội nghị và trên các phương tiện thông tin đại chúng Đặc biệt, báo chí còn ghi lại những “trận cười ra nước mắt” về tên các

đề tài nghiên cứu của các luận án tiến sĩ trong hội nghị hiệu trưởng các trường đại học miền Trung - Tây Nguyên diễn ra tại

Đà Nẵng ngày 26/8/2006, khi những người

có trách nhiệm của ngành giáo dục đã nhắc đến một số đề tài “có vấn đề” (Xem Hải Châu 2006, Vũ Thơ 2006, Uyên Na 2012):

- Tắm giặt tập trung cho các quân đoàn đóng quân phía Bắc,

- Nghiên cứu nhận thức của sinh viên ĐHSP về sức khỏe sinh sản,

- Các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh trung học phổ thông,

- Biện pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục của sinh viên đại học sư phạm,

- Giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của sự biến động giá đồng USD

Trang 3

đến kinh tế Việt Nam,

- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây

trồng cho vùng…,

- Nghiên cứu cách đánh số nhà trong

thành phố

- v.v

Khi đọc tên các đề tài trên đây, người

đọc không thấy được tính xác đáng khoa

học (scientific pertinence) của vấn đề

nghiên cứu mà các tác giả đã chọn cho

công trình khoa học của mình, ngoại trừ

trường hợp “ngọc ẩn trong đá” Nói cách

khác, nếu các tên đề tài phản ảnh đúng nội

dung công trình, những đề tài trên đây chỉ

nhằm tìm kiếm kết quả giải quyết một vụ

việc cụ thể, mà không hướng đến việc tìm

kiếm quy luật hay nguyên nhân chi phối

các hiện tượng Điều này vi phạm nghiêm

trọng tính học thuật trong khoa học mà mọi

đại học trên thế giới đều hướng đến

GS Hoàng Tụy cũng đã nhiều lần phê

phán nghiêm khắc về cách chọn đề tài

nghiên cứu của giới khoa học nước ta,

chẳng hạn như đề tài Nghiên cứu những

biện pháp chống ách tắc giao thông trong

thành phố, và nói rằng đó không phải là đề

tài nghiên cứu khoa học, mà là công việc

nằm trong chức phận của Sở Giao thông -

Công chính (Hoàng Tụy 2013) Hoặc đề tài

“chống lấn đường”, với kết luận ngây ngô

và vô bổ là “muốn chống lấn đường là phải

đề ra những biện pháp tăng cường lãnh đạo

giáo dục nhân dân” PGS-TS Đặng Xuân

Thi cũng đã chỉ ra loại yếu kém khác trong

việc chọn đề tài nghiên cứu của nhiều công

trình khoa học ở nước ta:

“Tuyệt đại nội dung các đề tài mà

chúng ta tiến hành nghiên cứu là ứng dụng

những thành tựu của thế giới vào điều kiện

cụ thể của Việt Nam Những vấn đề mà

chúng ta chọn làm mục tiêu nghiên cứu đối

với thế giới thường là quá cũ, có khi cũ đến

hai, ba hoặc cũng có thể tới bốn chục năm” (Vũ Thơ, 2012)

Cách chọn đề tài nghiên cứu như thế

đã góp phần làm cho chất lượng đào tạo sau đại học không cao: trong Hội nghị tổng kết công tác đào tạo sau đại học do Bộ

GD-ĐT tổ chức ngày 4 và 5/1/2006 tại Hà Nội,

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT lúc bấy giờ là Nguyễn Minh Hiển đã cho biết 30% số tiến

sĩ đào tạo trong nước có trình độ yếu (Vietnamnet 2006)

Tóm lại, theo GS Hoàng Tụy, “thiếu tính chuẩn mực, không giữ đúng chuẩn mực, bất chấp chuẩn mực quốc tế là nguyên nhân tình trạng lộn xộn, thật giả lẫn lộn, đang tràn lan hiện nay” (Hoàng Tụy 2003) Vậy chuẩn mực thế giới trong việc xây dựng đề tài nghiên cứu là như thế nào? Chúng tôi nghĩ đó là mấu chốt của vấn đề cần giải quyết để có thể cải thiện chất lượng đào tạo sau đại học, và kể cả chất lượng nghiên cứu khoa học của nước ta

2 KHỞI ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: HIỆN TƯỢNG CÓ VẤN ĐỀ Mọi nghiên cứu đều phải bắt đầu từ việc phát hiện ra một hiện tượng có vấn đề, tuy nhiên, không phải hiện tượng có vấn đề nào cũng có thể làm nghiên cứu khoa học Thật vậy, trong cuộc sống hàng ngày, con người thường xuyên phải đối diện với nhiều vấn đề khác nhau và từ xưa đến nay mọi người có thể giải quyết mà không cần đến nhà khoa học: vấn đề trong cuộc sống

cá nhân, gia đình và xã hội, vấn đề trong công việc Vậy vấn đề nào cần phải làm nghiên cứu khoa học, vấn đề nào không? Đây là câu hỏi then chốt mà mọi học viên cần phải nắm vững, để việc xây dựng đề tài nghiên cứu không phạm sai lầm

2.1 Hai loại “vấn đề”

Cần phân biệt hai loại vấn đề: vấn đề trong sinh hoạt, công tác hàng ngày và vấn

Trang 4

đề trong khoa học

2.1.1 “Vấn đề” hàng ngày

Trước hết, đừng nhầm lẫn cách dùng

thông dụng của từ “vấn đề” và nghĩa thực

sự của nó Trong hoạt động ngôn ngữ hàng

ngày, ta thường dùng từ “vấn đề” để chỉ

mọi thứ, chẳng hạn như khi ta nói: về vấn

đề sức khỏe của nhân dân địa phương…

thay cho về tình hình sức khỏe…, vấn đề

học hành của con cái thay cho việc học

hành của con cái, vấn đề cơm áo gạo tiền

thay cho chuyện cơm áo gạo tiền… nghĩa

là ta có thể thay chữ “vấn đề” bằng một

chữ khác, chẳng hạn như “chuyện”,

“việc”… hoặc bỏ hẳn mà vẫn không làm

nghĩa của cụm từ thay đổi Tóm lại, cách

dùng đó chỉ là thói quen ngôn ngữ mà thôi

Khái niệm “vấn đề” trong đời thường

có nghĩa là “điều cần được quan tâm”, “điều

có ít nhiều khó khăn” Sau đây là một số

cách diễn đạt quen thuộc trên sách báo,

trong đó chữ “vấn đề” có nghĩa như trên:

Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học

Vấn đề đánh giá kết quả học tập

Vấn đề thay sách giáo khoa

Vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin

trong dạy học

Vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi

trường cho học sinh

Vấn đề việc làm của sinh viên, v.v

Những vấn đề trên đây có thể đang là

mối quan tâm hàng đầu của ngành giáo

dục, và cần phải có nhiều cải tiến, đổi mới

cho tốt hơn Nhưng để trở thành vấn đề

nghiên cứu khoa học thì chưa được, vì các

“vấn đề” này còn quá mơ hồ Chúng mơ hồ

ở chỗ mỗi câu nêu trên chứa đựng nhiều

vấn đề nhỏ bên trong, trong đó có những

“vấn đề đúng” và “vấn đề sai”: “vấn đề

đúng”, tức vấn đề trong khoa học, là vấn đề

mà khoa học chưa thể giải thích bản chất

và nguyên nhân đầy đủ của nó, còn “vấn đề

sai” là vấn đề mà nhà nghiên cứu lặp lại những điều mà khoa học đã biết: người ta gọi trường hợp này là “đấm vào cánh cửa

đã mở”, vừa phí sức lại vừa phí thời gian, tiền bạc…

2.1.2 “Vấn đề” trong khoa học

Trong khoa học, người ta gọi “vấn đề”

là những hiện tượng mà kiến thức của cộng đồng khoa học chưa thể giải thích được, và nghiên cứu vấn đề ấy là nhằm xây dựng kiến thức mới về bản chất và quy luật, nguyên nhân của vấn đề ấy để mở rộng tri thức của nhân loại “Vấn đề” cũng có thể là những hiện tượng đã được giải thích rồi nhưng người nghiên cứu phát hiện ra cách giải thích ấy chưa thỏa mãn một điều kiện nào đó Trong trường hợp này, nghiên cứu

là nhằm bổ sung kiến thức đã có để nó ngày càng đầy đủ hơn Cũng cần phải nhắc lại rằng “giải quyết” vấn đề trong khoa học không phải là giải quyết từng vụ việc như mọi người thường làm trong cuộc sống hàng ngày, mà là giải quyết vấn đề về mặt

lý thuyết, nghĩa là tìm cách giải thích bản chất, quy luật, nguyên nhân, nguồn gốc của vấn đề

Để nhận dạng vấn đề trong khoa học, người nghiên cứu cần dựa vào các đặc tính sau đây:

- Hiện tượng không phù hợp nguyên tắc chung đã biết

Chẳng hạn như trường hợp sau đây: nguyên tắc chung là nếu dành thời gian càng nhiều cho một môn học nào đó thì thành tích học tập sẽ cao (như người ta thường nói “văn ôn võ luyện”) Thế nhưng mặc dù đã học tiếng Anh gần 10 năm nhưng nhiều sinh viên Việt Nam không sử dụng được ngoại ngữ này, cả trong giao tiếp trực tiếp lẫn trong giao tiếp gián tiếp (đọc, viết) Hoặc lĩnh vực nào được quan tâm đầu tư nhiều thì càng có điều kiện

Trang 5

thuận lợi để phát triển Hiện nay, ở nước ta,

giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu

Trong điều kiện như vậy, lẽ ra giáo dục

phải phát triển tốt đẹp Thế nhưng, như mọi

người thấy, giáo dục càng ngày càng rối

rắm Hai trường hợp này đi ngược lại quy

luật mà mọi người đều xem là đương

nhiên Lúc ấy người nghiên cứu sẽ đặt câu

hỏi: Vì sao trình độ ngoại ngữ của sinh

viên không cao, mặc dù nhà trường đã dạy

từ lớp 6 cho đến đại học? Vì sao giáo dục

ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề nan giải

mặc dù nhà nước đã xem đó là quốc sách

hàng đâu?

- Hiện tượng đó “đề kháng” với các giải

pháp mà xã hội đã áp dụng để cải tạo nó

Trong giáo dục, từ nhiều năm nay nổi

lên vấn đề học sinh, sinh viên thụ động với

việc học trên lớp, thờ ơ với việc tự học ở

nhà, sống không hoài bão, xem nhẹ đạo đức

học đường, đạo đức xã hội, vô cảm với nạn

nhân của bạo lực… Mặc dù toàn xã hội đã ý

thức được hậu quả của các hiện tượng này

đối với chất lượng đào tạo, tương lai của đất

nước, và ngành giáo dục cũng đã có nhiều

cố gắng khắc phục, nhưng tình hình vẫn

không khả quan, thậm chí còn có vẻ ngày

càng trầm trọng hơn Tình hình đó có thể

được hiểu là việc “bắt mạch” nguyên nhân

chưa đúng, do đó, cần phải đi tìm nguyên

nhân khác, thích hợp hơn, để làm cơ sở

khoa học cho việc xây dựng giải pháp

- Hiện tượng mà cộng đồng khoa học

chưa có nhiều kiến thức

Trong thế giới tự nhiên cũng như xã

hội, có những hiện tượng mà kiến thức

khoa học của loài người còn rất ít, do đó,

không giải thích được chính xác các hiện

tượng Những hiện tượng này có thể ghi

nhận được qua báo chí, thông tin khoa học,

tài liệu khoa học

2.2 Xác định hiện tượng có vấn đề cần làm nghiên cứu khoa học

Nguyên tắc chủ đạo của lý thuyết thực nghiệm là muốn khắc phục được hiện tượng, trước tiên, nhà nghiên cứu phải phát hiện ra nguyên nhân (hoặc nguồn gốc) đã gây nên hiện tượng đó, để từ đó làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng biện pháp khắc phục sau này Những giải pháp được xây dựng không dựa trên việc nghiên cứu tìm kiếm nguyên nhân chưa biết không được xem là giải pháp có cơ sở khoa học

Vì thế, khi xác định vấn đề nghiên cứu, nhà khoa học cần phải khảo sát các khía cạnh nêu trên, để bảo đảm rằng vấn đề mình chọn vừa khả thi, vừa là vấn đề xác đáng

về mặt khoa học GS Ngô Bảo Châu cũng

đã nói:

“Điểm xuất phát của nghiên cứu bắt đầu bằng câu hỏi Thành công của nghiên cứu liên quan nhiều đến câu hỏi ban đầu

Để tìm ra câu hỏi đúng thì cần có kinh nghiệm nghiên cứu Trong môi trường hiện đại, tính chuyên nghiệp cao, sinh viên tự xác định được câu hỏi là việc khó vì chưa

có kinh nghiệm thì khó xác định đó có phải vấn đề thời sự không, có trong khả năng giải quyết không” (Ngô Bảo Châu, 2013b) Nghiên cứu khoa học không phải là gặp bất cứ vấn đề nào chưa ổn trong thực

tế là lấy ra làm đề tài nghiên cứu Làm như vậy không phải là nghiên cứu khoa học, mà chỉ là nghiên cứu sự việc, hay nghiên cứu công vụ, là hình thức thấp của nghiên cứu Nghiên cứu khoa học giáo dục chủ yếu là

đi tìm nguyên nhân chưa biết đến, chứ không phải là nhắc lại những nguyên nhân

đã biết (việc tổng hợp các nguyên nhân đã được các tài liệu đề cập đến chỉ là một công đoạn của nghiên cứu, được gọi là

“Lược khảo tài liệu”) Khi chọn một hiện tượng có vấn đề nào đó để nghiên cứu, tức

Trang 6

là ta ngầm hiểu rằng có một quy luật, một

nguyên nhân sâu xa nào đó mà con người

chưa biết đến, và quy luật đó, nguyên nhân

đó chi phối hiện tượng Vì thế, các nhà

khoa học chỉ nghiên cứu những hiện tượng

mà họ cảm thấy có quy luật (hay nguyên

nhân) nào đó mà cộng đồng chưa biết,

đang chi phối hiện tượng! Nếu chưa cảm

thấy có quy luật thấp thoáng đằng sau hiện

tượng thì ta chưa thể nghiên cứu, vì nghiên

cứu sẽ dễ rơi vào bế tắc

Nhà khoa học luận người Pháp G

Bachelard đã nói : “Mọi kiến thức khoa

học đều bắt đầu từ một câu hỏi” Thế mà

mọi câu hỏi phải dựa trên việc phát hiện ra

hiện tượng (hay sự việc) có vấn đề Nói

cách khác, mọi nghiên cứu khoa học đều

phải bắt đầu bằng việc phát hiện ra hiện

tượng có vấn đề Như đã nói ở trên, đề tài

nghiên cứu ra đời từ quá trình quan sát

thực tế và đối chiếu giữa kiến thức của bản

thân với thực tế khách quan Khi quan sát

thực tế, ta thường đối chiếu những gì quan

sát được với những gì ta biết được về thực

tế đó Nếu sự đối chiếu đó cho kết quả

hoàn toàn trùng khớp thì kiến thức của ta

được củng cố Nhưng nếu có sự sai lệch

giữa kiến thức mà ta có được với thực tế

thì ta sẽ có những thắc mắc, nghi vấn và

đặt ra hàng loạt câu hỏi Tại sao có chuyện

này xảy ra ? Nguyên nhân của nó là gì ? Có

ai giải thích chưa ? Tại sao ta học như thế

này mà thực tế lại khác ? Có phải kiến thức

của ta đã sai ? Có hai trường hợp xảy ra :

kiến thức của cá nhân còn ít nên không giải

thích được hiện tượng, và kiến thức của

nhân loại bất lực trước hiện tượng

2.2.1 Vấn đề sai (false problem)

Kiến thức của cá nhân còn hạn chế nên

không giải thích được hiện tượng, đó là

chuyện rất bình thường đối với mọi người,

kể cả đối với nhà khoa học giàu thành tích

nhất Trong trường hợp này, cá nhân phải

tự tìm tòi và sưu tầm tài liệu đề cập đến các giải thích có thể về hiện tượng để bổ sung kiến thức của mình ngày càng nhiều hơn Đây chính là giai đoạn tự học mà bất cứ nhà khoa học nào cũng phải trải qua: trước khi làm nhà nghiên cứu, mỗi cá nhân phải làm người tự học! Việc tự học này không giới hạn trong phạm vi kiến thức được viết bằng tiếng mẹ đẻ, mà phải mở rộng ra cả những tài liệu bằng tiếng nước ngoài, nhất

là tiếng Anh Việc tự học này nhằm nâng cao mặt bằng kiến thức của người nghiên cứu lên ngang với mặt bằng kiến thức của nhân loại Đây chính là điều kiện tiên quyết của việc khám phá ra kiến thức mới Nếu không nâng tầm kiến thức của cá nhân mà

đã vội vã xác định vấn đề để nghiên cứu thì

sẽ chỉ có được vấn đề sai mà thôi

2.2.2 Vấn đề có tính xác đáng khoa học

Trong tự nhiên hay trong xã hội, luôn luôn xuất hiện những sự vật và hiện tượng hoàn toàn mới lạ Vì mới lạ nên con người chưa có chút kiến thức nào về nó, khiến khoa học bất lực, không giải thích được Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều sự việc và hiện tượng mà loài người chỉ biết chút ít; thậm chí có nhiều việc người ta biết chưa chính xác Đó chính là nguồn cung cấp vấn

đề cần nghiên cứu, để nhà khoa học tìm kiếm, xây dựng kiến thức mới Khi phát hiện ra sự hụt hẫng hoặc sự thiếu chính xác

đó, nhà khoa học sẽ tiến hành thiết kế nghiên cứu để làm cho kiến thức ngày càng hoàn thiện hơn Nói cách khác, khi phát hiện ra kiến thức của cộng đồng khoa học bất lực trước một hiện tượng hay sự vật nào đó thì nhà khoa học mới nghiên cứu Bằng cách xác định như thế, vấn đề nghiên cứu mới được xem là có tính xác đáng khoa học

Vì thế, một vấn đề được mọi người

Trang 7

quan tâm chưa chắc đã là vấn đề cần làm

nghiên cứu khoa học Đối với dư luận xã

hội, người ta quan tâm đến mọi chuyện có

hại, gây hậu quả xấu Đó là sự quan tâm ở

góc độ thực dụng, nhằm cải thiện tình hình

để mọi việc tốt đẹp hơn Trong khi đó, nhà

khoa học chỉ quan tâm những vấn đề mà

mọi người chưa hiểu rõ nguyên nhân,

nguồn gốc, bản chất của nó: chính vì thế

mà người ta nói rằng nghiên cứu khoa học

là nhằm làm giàu kiến thức cho cộng đồng,

bằng cách đi tìm kiếm những lời giải thích

luôn luôn mới mẻ về vấn đề đó Sự quan

tâm của nhà khoa học không giống với sự

quan tâm của người thường: nhà khoa học quan tâm đến việc truy tìm căn nguyên của vấn đề và chứng minh cái mà mình đã tìm ra! Vì vậy, trong số rất nhiều mối quan tâm của xã hội, nhà khoa học sẽ chọn ra một số

ít vấn đề khả thi nhất để làm đề tài nghiên cứu mà thôi Vì thế, xác định vấn đề nghiên cứu chẳng những là một kỹ năng khoa học mà còn là một nghệ thuật Chính

vì thế mà GS Ngô Bảo Châu có nhận xét rằng điều khó nhất đối với nhiều học viên sau đại học vẫn là tìm đề tài cho mình (Ngô Bảo Châu 2013a)

Hình 1: Mô hình xác định vấn đề nghiên cứu

3 NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ

NGHIÊN CỨU

3.1 Mỗi vấn đề nghiên cứu là một lát

cắt thực tế

Tôi dùng từ “xây dựng” đề tài nghiên

cứu thay vì “chọn lựa” đề tài như nhiều tài

liệu về phương pháp nghiên cứu khoa học

khác Việc dùng từ “xây dựng” không phải

là tùy tiện, ngẫu hứng, mà xuất phát từ

những đặc điểm của thao tác đầu tiên trong

nghiên cứu khoa học Thật vậy, đề tài

nghiên cứu không phải là những cái có sẵn

như hàng hóa trong siêu thị, nên ta không

thể chọn và đem về sử dụng Đề tài

nghiên cứu là kết quả của cả một quá trình

quan sát, phân tích, đối chiếu, nhận xét, nghi vấn, tiên đoán của người nghiên cứu Nói cách khác, đề tài nghiên cứu chính là một cách nhìn, một lát cắt của thực tế mà người nghiên cứu tạo ra, tương ứng với trình độ kiến thức chuyên ngành, thiên hướng khoa học của họ Vì thế, đề tài nghiên cứu mang dấu ấn của người nghiên cứu Đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội, trong đó có khoa học giáo dục, càng tinh tế hơn vì lát cắt thực tế xã hội thì rất trừu tượng và phức tạp, không ổn định, do đối tượng nghiên cứu luôn biến động, thay đổi Do đó, khi người ta nói “chọn đề tài nghiên cứu” chẳng qua đó chỉ là cách nói

Trang 8

theo thói quen mà thôi

3.2 Các yếu tố cần thiết của một đề tài

nghiên cứu tốt

Sau đây là một số yếu tố cần thiết cho

một đề tài nghiên cứu tốt:

- Đề tài phải bảo đảm tính xác đáng

khoa học: Khi quyết định nghiên cứu một

vấn đề gì, nhà khoa học phải xuất phát từ

sự phát hiện ra khiếm khuyết của kiến thức

đương thời về vấn đề mà mình quan tâm

Nếu không phát hiện ra khiếm khuyết nào

cả thì nhà khoa học cũng không có lý do gì

để tiến hành nghiên cứu

- Đề tài phải hướng đến một giả

thuyết khoa học: giả thuyết khoa học như

cái phôi mang mầm sự sống Đề tài chưa

hình dung ra được giả thuyết thì chưa thể

phát triển được Trong những đề tài mô tả,

giả thuyết có thể được thay bằng những

mục tiêu nghiên cứu cụ thể, làm cọc tiêu

định vị cho nghiên cứu

- Người nghiên cứu phải có nhiều kiến

thức về vấn đề nghiên cứu : Trước khi bắt

tay vào nghiên cứu, cần phải có kiến thức

tối thiểu về đề tài của mình, để việc xác

định vấn đề nghiên cứu được thuận lợi Dĩ

nhiên là trong quá trình nghiên cứu, bạn sẽ

còn phải bổ sung thêm nhiều kiến thức

chuyên sâu hơn nữa thì nghiên cứu mới có

thể thành công, nhưng kiến thức ban đầu

giúp ta có nhiều thuận lợi trong việc nhận

thức vấn đề và tiếp nhận thông tin khoa học

- Phải có hứng thú với vấn đề nghiên

cứu : Sở thích đóng vai trò quan trọng

trong việc nghiên cứu Chính vì thế, ngày

nay, các giáo sư hướng dẫn thường để cho

sinh viên tự quyết định đề tài nghiên cứu;

họ chỉ hướng dẫn cách phát hiện vấn đề mà

thôi Hơn nữa, khi ta tự quyết định đề tài

nghiên cứu, ta cũng có thuận lợi là tận

dụng được những kiến thức đã tích lũy

được về vấn đề nói trên, và đương nhiên là cũng sẽ có nhiều hứng thú và động cơ làm việc hơn Cách “phân phối đề tài” mà người hướng dẫn khoa học Việt Nam thường làm có nhược điểm lớn là người học thường không cảm nhận được lát cắt

mà người hướng dẫn đã thực hiện, dẫn đến không hiểu được vấn đề và không có hứng thú với đề tài được phân phối

- Phải có đủ nguồn tư liệu tham khảo:

Nguồn tư liệu cũng là một yếu tố quan trọng góp phần làm nên thành công của nghiên cứu Thật vậy, nghiên cứu luôn luôn phải kế thừa kiến thức của các nhà khoa học thế hệ trước, nên tư liệu tham khảo là không thể thiếu được Đối với các ngành xã hội nhân văn và giáo dục, tư liệu phong phú và tương thích với đề tài nghiên cứu bảo đảm cơ bản cho việc xác định vấn

đề nghiên cứu và cả phần lý thuyết của đề tài, là một chương vô cùng quan trọng trong nghiên cứu của các ngành này

4 KẾT LUẬN Nghiên cứu khoa học là một hoạt động trí tuệ nhằm sản sinh ra kiến thức mới theo các quy chuẩn đã được cộng đồng khoa học đúc kết và bổ sung thường xuyên Vì thế, muốn công trình khoa học được thế giới công nhận thì cần phải theo các quy chuẩn

đó, mà trước tiên là trong công đoạn xác định vấn đề nghiên cứu cho công trình Để xác định vấn đề cho nghiên cứu, cần phải phân biệt vấn đề thường ngày trong cuộc sống và công tác, với vấn đề khoa học Vấn

đề khoa học là một lát cắt thực tế mà người nghiên cứu thực hiện bằng cách quan sát thực tế rồi phân tích, đối chiếu với kho tàng tri thức của nhân loại, đề phát hiện ra khoảng trống tri thức Làm được như thế, khoa học Việt Nam mới có hy vọng hội nhập được với cộng đồng khoa học thế giới

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hải Châu (2006), “Trang sức” bằng luận án tiến sĩ Báo Vietnamnet,

http://vnn.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/08/606389/ truy cập ngày 8/7/2014

2 Hoàng Tụy (2003), 1/3 giáo sư, phó giáo sư “xứng đáng” bị miễn nhiệm chức danh Trả lời phỏng vấn Báo Vietnamnet

http://vnn.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2003/5/12255/, truy cập ngày 11/7/2014

3 Hoàng Tụy (2013), Phải quyết liệt Trả lời phỏng vấn của Hồng Thanh Quang, Báo

An ninh Thế giới cuối tuần,

http://antgct.cand.com.vn/vivn/nhandam/2013/11/57072.cand truy cập ngày 8/7/2014

4 Ngô Bảo Châu (2013a), GS Ngô Bảo Châu chia sẻ nhiều bí quyết trở thành nhà khoa học Giao lưu lần thứ năm của Câu Lạc bộ “Café số 5”với chủ đề Nâng cao tính chuyên nghiệp trong nghiên cứu khoa học ngày 17/12/2013 tại Đại học Quốc gia Hà

Nội (Xuân Trung ghi), http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/GS-Ngo-Bao-Chau-chia-se-nhieu-bi-quyet-de-tro-thanh-nha-khoa-hoc-post135782.gd 1/1/2014

5 Ngô Bảo Châu (2013b), Tôn trọng quy trình, nghiêm khắc, mới làm nên nhà khoa học Trả lời phòng vấn của báo Giáo dục Việt Nam,

http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Ton-trong-quy-trinh-nghiem-khac-moi-lam-nen-nha-khoa-hoc-post135834.gd truy cập ngày 1/1/2014

6 Trần Văn Thọ (2003), Đặt lại vấn đề học vị Tiến sĩ, bài đăng trên báo Tia Sáng số

tháng 9 năm 2003, tại

http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/tranvantho/vandehocvitiensi.htm truy cập ngày 14/12/2011

7 Uyên Na (2012), Luận án tiến sỹ về… tắm giặt và nghịch lý của tri thức, Báo Pháp

luật online,

http://baophapluat.vn/thoi-su/luan-an-tien-sy-ve-tam-giat-va-nghich-ly-cua-tri-thuc-159136.html truy cập ngày 14/12/2013

8 Vietnamnet (2006), Đào tạo tiến sĩ trong nước: Chất lượng thấp, Báo Vietnamnet,

http://vnn.vietnamnet.vn/tinvan/2006/01/530841/, truy cập ngày 7/7/2014

9 Vũ Thơ (2006), Ôi, luận án tiến sĩ, Báo Vietnamnet,

http://vnn.vietnamnet.vn/giaoduc/2006/01/531362/ truy cập ngày 8/7/2014

10 Vũ Thơ (2012), Vật vờ nghiên cứu khoa học - Kỳ 2: Nhiều tiến sĩ, ít phát minh, báo Thanh Niên, ngày 05/12/2012, tại

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121205/vat-vo-nghien-cuu-khoa-hoc-ky-2-nhieu-tien-si-it-phat-minh.aspx truy cập ngày 5/12/2012

* Nhận bài ngày: 13/5/2014 Biên tập xong: 5/6/2014 Duyệt bài: 12/6/2014

Ngày đăng: 25/10/2020, 19:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm