1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Con người trung tâm và chủ thể: Quan niệm nghệ thuật trong Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh

12 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 400,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh là tập thơ chữ Hán cuối cùng của nền văn học Việt Nam. Tuy nhiên, tập thơ thể hiện một sự khác biệt cơ bản với thơ chữ Hán cổ điển của Việt Nam và Trung Quốc ở nhiều phương diện. Trong đó, quan niệm mới về vai trò, vị thế, ý nghĩa và giá trị của con người là vấn đề nổi bật nhất, với nội dung cơ bản là: Con người là trung tâm và con người là chủ thể trong mọi mối quan hệ với vũ trụ, tự nhiên và xã hội.

Trang 1

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 2 (27) - Tháng 3/2015

CON NGƯỜI TRUNG TÂM VÀ CHỦ THỂ - QUAN NIỆM

NGHỆ THUẬT MỚI TRONG NHẬT KÝ TRONG TÙ CỦA HỒ CHÍ MINH

HỒNG TRỌNG QUYỀN (*)

TĨM TẮT

Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh là tập thơ chữ Hán cuối cùng của nền văn học Việt Nam Tuy nhiên, tập thơ thể hiện một sự khác biệt cơ bản với thơ chữ Hán cổ điển của Việt Nam và Trung Quốc ở nhiều phương diện Trong đĩ, quan niệm mới về vai trị, vị thế, ý nghĩa và giá trị của con người là vấn đề nổi bật nhất, với nội dung cơ bản là: con người là trung tâm và con người là chủ thể trong mọi mối quan hệ với vũ trụ, tự nhiên và xã hội Cái mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của Nhật kí trong tù cĩ nguồn cội từ những kết tinh triết học, mỹ học phương Đơng và Chủ nghĩa Mác - Lênin ở Hồ Chí Minh, đồng thời từ những phẩm chất siêu việt cả về tư tưởng và nghệ thuật của chính tác giả Nhật kí trong tù

Từ khĩa: Hồ Chí Minh, Nhật kí trong tù, thơ cổ điển, quan niệm nghệ thuật về con

người, trung tâm, chủ thể

ABSTRACT

Diary in prison written by Ho Chi Minh is the last poem collection of Vietnamese literature written in Chinese characters (Han) However, the poem collection displays an essential difference in many ways from poems written in the classic Han of Viet Nam and China In the poems, the new ideas about the role, the position, the significance and the value of human beings are prominent The key content of the poem collection is that human beings are the center and the subject in every relation to the universe, the nature and the society What is new in Ho Chi Minh's artistic conception of man emerges from his synthesis of oriental philosophy and aesthetics with Marxism & Leninism, as well as from

the subtleties of thought and aesthetics of the author

Keywords: Ho Chi Minh, Diary in prison, classical poetry, artistic conception of

human, center, subject

* Nhật kí trong tù là tác phẩm nhật kí

bằng thơ của Hồ Chí Minh được viết trong

thời gian Người bị giam cầm trong nhà lao

của chế độ Tưởng Giới Thạch, Trung

Quốc, từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9

năm 1943 Nếu nhìn quãng thời gian này

như một chặng trong chuỗi hành trình hoạt

(*) TS, Trường Đại học Thủ Dầu Một

động cách mạng của Hồ Chí Minh thì đĩ chính là lúc tư tưởng yêu nước và tư tưởng cộng sản đã cĩ sự hài kết nhuần nhị trong

tư tưởng của tác giả Nhật ký trong tù Đĩ

cũng là chặng đời mà trong con người Hồ Chí Minh đã cĩ sự kết tinh nhiều giá trị văn hĩa Cổ - Kim - Đơng - Tây sau một thời gian dài Người bơn ba, trải nghiệm cuộc sống, văn hĩa và đấu tranh của nhân

Trang 2

loại tiến bộ khắp năm châu bốn biển Do

vậy, Nhật kí trong tù - đứa con tinh thần

vừa là tư tưởng và cảm xúc, vừa là tư duy

nghệ thuật của Hồ Chí Minh - đã thể hiện

một quan niệm nghệ thuật mới về con

người rất đa dạng, phong phú nhưng cũng

rất thống nhất; thấm đẫm chất triết học,

nghệ thuật và nhân văn

1 CON NGƯỜI TRUNG TÂM

Nhật kí trong tù là tập thơ chữ Hán

cuối cùng của nền văn học Việt Nam Do

vậy, tập thơ có những nét tương đồng với

thơ chữ Hán cổ điển Việt Nam và Trung

Quốc Bên cạnh đó, tập thơ cũng cho thấy

một sự khác biệt cơ bản ở nhiều phương

diện Trong đó, quan niệm nghệ thuật và

cái nhìn nghệ thuật luôn thể hiện con người

là trung tâm về vai trò, vị thế, ý nghĩa và

giá trị trong mọi hình tượng nghệ thuật là

vấn đề nổi bật nhất Cái mới trong quan

niệm nghệ thuật về con người của Hồ Chí

Minh so với thơ cổ điển Việt Nam và

Trung Quốc bắt nguồn từ tầm tư tưởng triết

học và nhân sinh mới của chủ thể sáng tạo

tập thơ và từ sự mới mẻ trong tư duy nghệ

thuật về con người của Hồ Chí Minh

Trong thơ cổ điển Việt Nam và Trung

Quốc, nét nổi bật là cái nhìn “vũ trụ” đối

với con người và cuộc đời Do sáng tạo với

quan niệm nghệ thuật về con người trong

sự tham chiếu và chi phối của tư tưởng triết

học Tam tài Thiên - Địa - Nhân, các nhà

thơ luôn thể hiện cái nhìn nghệ thuật về

con người từ tiêu chí, đặc điểm của vũ trụ

và thiên nhiên Trong thực tế, con người

luôn sống trong các quan hệ nhân sinh và

xã hội rất cụ thể, nhưng trong quan niệm,

các nhà thơ thường nhìn họ sống giữa cỏ

cây, sông núi, đất trời Vì vậy, khi muốn

thể hiện chí khí thì con người đội trời đạp

đất, chọc trời khuấy nước; khi bất đắc chí

thì tìm về với thiên nhiên, với nhật nguyệt,

sơn hà, cỏ cây để di dưỡng tinh thần, lãng quên thế sự; khi uất hận thì hỏi trời xanh, tạo hóa hoặc gửi tâm sự vào kiếp sau Thơ

cổ điển Việt Nam và Trung Quốc cơ bản thuộc về kiểu tư duy và thẩm mỹ trong cái

mô hình ấy nên vẫn nằm trong sự thể hiện của thi pháp trung đại

Chẳng hạn, Đỗ Phủ mượn hình ảnh

chim phượng hoàng để nói chí mình: Bao giờ đánh lũ chim hèn,/ Máu lông sẽ tưới khắp miền đồng hoang (Vịnh phượng

hoàng); mượn hình ảnh núi Đông Nhạc để

nói tầm vóc của mình: Lên đỉnh chóp mà trông,/ Lè tè muôn núi dưới (Trông núi

Đông Nhạc) Lý Bạch nói về lòng thương nhớ bạn khôn cùng khi tiễn bạn đi xa trong

tuyệt bút bất tử Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng Thế

nhưng, ngay cả ở một bài thơ nói về chuyện của con người thì thiên nhiên vẫn choán chỗ, và dường như con người trở nên nhỏ nhoi, mong manh và mất hút giữa

bao la và rợn ngợp của thiên nhiên: Bạn từ lầu Hạc lên đường,/ Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng./ Bóng buồm đã khuất bầu không,/ Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời Trong thi phẩm này, hệ

thống ngôn từ được xây dựng và triển khai diễn tiến theo lộ trình của người đi xa, và cũng là chuỗi nhìn theo bạn của người đưa tiễn Cái độc đáo và thi vị của hệ thống ngôn từ đó là các đơn vị từ ngữ xuất hiện trong một hệ thống mà bắt đầu là yếu tố ngôn từ chỉ một địa danh nổi tiếng, có ý

nghĩa cụ thể, xác thực là lầu Hoàng Hạc

Tiếp theo lộ trình và chuỗi nhìn là địa danh

Dương Châu, thời gian giữa tháng ba Như

vậy là đến đây, lộ trình của người đi xa vẫn xác định được, nhưng ở ngay trong câu thơ thứ hai, cái rõ ràng, xác thực bắt đầu mờ

nhòe dần bởi hình ảnh mùa hoa khói, nghĩa

là thiên nhiên choán chỗ của con người Từ

Trang 3

đây, hình ảnh người đi xa dần và mất hút

vào khoảng không xanh biếc vô tận, vào

cõi mênh mông của sông Trường Giang

chảy vào cõi trời Như vậy, ngôn từ xác

thực, cụ thể thông qua địa danh, thời gian,

phương hướng đã chuyển một cách tự

nhiên sang địa hạt ngôn từ chỉ cái mơ hồ,

mông lung, không xác định Trong sự bài

trí và hài phối ngôn từ, người nghệ sĩ tạo

nên một không gian khoáng đạt, diệu vợi,

vô tận: bích không tận (không gian xanh

không có giới hạn cuối cùng), Trường

Giang thiên tế lưu (sông Trường Giang

chảy vào cõi trời); không gian đó có thêm

tính mờ ảo của yên hoa (hoa khói) Trên

cái nền không gian đó có hai điểm, rất nhỏ,

cô đơn, mà khoảng cách dần xa nhau Một

là, điểm đứng của nhà thơ tại lầu Hoàng

Hạc khi ông tiễn người bạn cũ Mạnh Hạo

Nhiên đi Quảng Lăng Hai là, cánh buồm

lẻ loi mà trên con thuyền đó là người bạn

cũ thân thương của nhà thơ, xa dần, mất

hút vào khoảng không xanh biếc Sự kết

cấu, tương tác của hai đặc điểm đó của

ngôn từ gợi lên nhiều vấn đề về triết lý

nhân sinh: con người bé nhỏ, cô đơn trước

vũ trụ và thiên nhiên mênh mông, bất tận,

diệu vợi và rợn ngợp

Nguyễn Trãi từng ví người quân tử

trượng phu - trong đó có bản thân ông - với

cây tùng: Thu đến cây nào chẳng lạ lùng,/

Một mình lạt thuở ba đông (…) Nhà cả đòi

phen chống khỏe thay,/ Cội rễ bền dời

chẳng động (Tùng) Nguyễn Du miêu tả

con người trong mối quan hệ đồng hóa con

người - thiên nhiên Chẳng hạn như trong

Truyện Kiều, khi miêu tả Thúy Kiều thì:

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh;

chân dung của Từ Hải là Râu hùm hàm én

mày ngài Nói về sự bình phục của Thúy

Kiều, Nguyễn Du viết: Vừa tuần nguyệt

sáng, gương trong; về tình yêu của Từ Hải

và Thúy Kiều, thì: Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng; nói về chí khí của Từ Hải thì: Chọc trời khuấy nước mặc dầu Và nhìn chung, con người trong

thơ Nguyễn Du thường nhỏ nhoi, bé bỏng,

cô đơn giữa thiên nhiên mênh mông và hãi

hùng, như Hoa trôi man mác biết là về đâu (Truyện Kiều) của kiếp người Canh khuya thân gái dặm trường (Truyện Kiều)

Thu điếu của Nguyễn Khuyến là nói về

chuyện con người đi câu cá Không gian nghệ thuật của bài thơ là sự phối kết của ba mảng chính: vũ trụ, thiên nhiên và con người Thế nhưng cái hoạt động của con người và chính chân dung của con người cũng chìm khuất giữa thiên nhiên và vũ trụ Con người thực sự vô ngôn, vô vi, và mượn thiên nhiên vũ trụ để trữ tình gián tiếp Theo đó, tâm trạng và mĩ cảm được thể hiện qua các tình tiết, vũ trụ và thiên nhiên Từ đó, cấu trúc thẩm mỹ của không gian được kiến tạo bởi các mảng đối lập và

tương phản Mảng lớn là Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt, và mảng bé là Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Cái lớn được đẩy tới

vô cùng bằng không gian trời xanh ngắt

không giới hạn Đó là màu xanh vị liễu (xanh không rồi), với mục tiêu không phải

ca ngợi bầu trời đẹp mà là nhắm vào tính

vô cùng vô tận của nó, cùng với mỹ cảm là tạo ra sự rợn ngợp Không gian còn là sự

tương phản giữa tĩnh và động: Ngõ trúc quanh co khách vắng teo,/ Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,/ Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo…, Cá đâu đớp động dưới chân bèo; và

thậm chí là bất động giữa một trời tĩnh lặng

đến rợn ngợp vô cùng: Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,/ Cá đâu đớp động dưới chân bèo Không gian nghệ thuật của bài thơ

được xây dựng như thế tạo nên đặc tính vừa là hiện thực, vừa là gợi mở bức tranh tâm trạng của chủ thể trữ tình Chính cái

Trang 4

không gian thẩm mỹ này hé lộ tâm trạng

buồn, cô độc, u tĩnh của bậc chính nho,

một thi nhân tài hoa và thiên lương Con

người ông quan Nguyễn Khuyến tài hoa,

nhân cách cao đẹp nhưng lại lạc điệu giữa

thế cuộc đảo điên, xã hội hỗn loạn, nhố

nhăng Ông cáo quan về ở ẩn và giấu mình

giữa thiên nhiên

Qua một vài dẫn chứng tiêu biểu như

vậy cho thấy cách tư duy và quan niệm gắn

con người với tiêu chí vũ trụ, thiên nhiên

làm cho hiện thực xã hội lịch sử cụ thể bị

mờ nhạt, còn các hình ảnh thiên nhiên

mang ý nghĩa tượng trưng cho đặc điểm,

dáng nét và tính cách con người lại nổi bật

Con người được nhìn qua lăng kính thiên

nhiên Đó là quan niệm và cái nhìn con

người chưa phải là trung tâm, con người

hòa tan trong vũ trụ và thiên nhiên, nhiều

khi khuất lấp bởi cái vô cùng vô tận của vũ

trụ và thiên nhiên

Ở Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh,

hình tượng con người trong quan niệm của

tác giả tập thơ không phải đối lập với quan

niệm con người vũ trụ trong thơ cổ điển

của Việt Nam và Trung Quốc, nhưng đã có

sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật và

phương thức thể hiện Một mặt, con người

trong cảm quan và phản ánh của tác giả

Nhật kí trong tù vẫn có sự tiếp nối, gắn kết

với những nét văn hóa truyền thống trong

quan hệ với thơ cổ điển; mặt khác nó mang

những quan niệm mới mẻ, hiện đại và nhân

văn của chủ nghĩa Mác - Lênin Chất hiền

triết phương Đông vẫn thấp thoáng trong

quan niệm nghệ thuật về con người ở Nhật

kí trong tù bởi vì tác giả của tập thơ vốn

sinh trưởng trong một gia đình nhà nho,

mặt khác, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận, hấp

thụ những giá trị tinh hoa và tiến bộ của

văn hóa, văn học phương Đông Trong

thực tế, người rất yêu trẻ nhỏ, hoa, chim,

trăng, suối, vườn rau…, con người Đó cũng là những nét đẹp trong truyền thống văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay

Dù vậy, ở Nhật kí trong tù, trong mối

quan hệ với vũ trụ và thiên nhiên, con người vẫn xuất hiện ở vị trí trung tâm: trung tâm trong vị thế, ý nghĩa và quan niệm của tác giả; trung tâm trong từng bức tranh thơ ở mỗi thi phẩm và của cả tập thơ

Ngay ở trang bìa của cuốn Nhật kí trong tù,

hình ảnh con người tù đày với hai cánh tay

bị xiềng xích giơ lên là một bức họa đầy ý nghĩa trong tư tưởng và quan niệm của Hồ Chí Minh Đó vừa là hình ảnh thực của chính tác giả tập thơ trong thời gian bị tù đày, vừa là hình ảnh tượng trưng cho nỗi bất bình về sự mất tự do, bất công của con người nhân loại

Với quan niệm như vậy, trong bài Cảm tưởng đọc Thiên gia thi, Hồ Chí Minh nhận

xét về thơ xưa và nói rõ yêu cầu đối với

thơ hiện đại: Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp,/ Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông;/ Nay ở trong thơ nên có thép,/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong

Cái nhìn và quan niệm đối sánh thơ xưa và thơ hiện đại của tác giả bài thơ chủ yếu nhấn mạnh những nét khác biệt: thơ xưa thiên về yêu cảnh thiên nhiên đẹp, và

do vậy, các hình tượng nổi bật lên trong

thơ là núi, nước, khói, hoa, tuyết, trăng, gió

chứ không phải là con người Còn trong thơ hiện đại thì phải là con người mà chất

thép - tư tưởng chiến đấu, lý tưởng sống

cao đẹp và mạnh mẽ cải tạo cuộc sống - là dấu hiệu cần có, phải có Đặc biệt, chủ thể

thi gia cũng phải biết xung phong như là

chiến sĩ Như vậy, trong thơ hiện đại, không chỉ nội dung tư tưởng thơ là thuộc

về con người mà chủ thể thơ cũng phải là con người ở vị thế mới: con người chiến sĩ

Do tính chất là một tập thơ chữ Hán

Trang 5

nên ở Nhật kí trong tù, con người vẫn còn

gắn với một số hình ảnh vũ trụ, thiên nhiên

mang chất truyền thống như chinh nhân,

thu nguyệt, thu phong, phù vân, cô vân,…

nhưng đã mang một quan niệm mới; thể

hiện rõ nội dung xã hội, thời đại cụ thể

trong nhiểu bài của tập thơ Tiêu biểu như

các bài Buổi sáng, Nắng sớm, Giải đi sớm

Trong thơ xưa, cũng có ánh nắng mặt

trời, nhưng thường là tịch dương, tà huy,

lạc nhật, nhật mộ… Còn trong Nhật ký

trong tù, hình ảnh nắng sớm là một tín hiệu

nghệ thuật mới mẻ, sinh động và hấp dẫn;

hàm chứa những thông điệp tư tưởng và

thẩm mĩ của Hồ Chí Minh Trước đó, trong

truyện ngắn Lời than vãn của Bà Trưng

Trắc, Nguyễn Ái Quốc cũng đã một lần

dùng hình ảnh mặt trời buổi sáng tượng

trưng cho thời đại mới, chứng tỏ sự nhất

quán trong cảm quan của Người

Trong bài Buổi sáng, bằng thủ pháp

đối lập, tác giả thể hiện một cái nhìn mới

và một tư tưởng mới khác hẳn thơ cổ điển:

cái nhìn mang tính quyết định của chủ thể,

của con người đối với ngoại cảnh Do vậy,

mặc dù trong bức tranh đối lập sáng - tối,

bây giờ - ngày mai không có con người

xuất hiện như là đối tượng được miêu tả,

nhưng chủ thể của bức tranh là con người,

tư tưởng con người thể hiện chủ động trong

chiều hướng vận hành của vũ trụ, thiên

nhiên Con người là trung tâm trong cái

nhìn vũ trụ, trong triết lí và niềm tin Dù

rằng ở tầng hình ảnh trực tiếp, ta chỉ thấy

ngục tối mịt, ánh hồng bừng soi, nhưng ở

tầng gián tiếp và triết luận là hình tượng

con người ở tầng bậc thứ hai qua cái nhìn

và phản ánh đầy niềm tin trong hai câu thơ:

Trong ngục giờ đây còn tối mịt,/ Ánh hồng

trước mặt đã bừng soi Như vậy, ngay

trong những bài thơ mà hình ảnh thiên

nhiên và vũ trụ xuất hiện trực tiếp chiếm

ưu thế về mặt dung lượng thì ý nghĩa, giá trị tư tưởng tình và cảm con người vẫn là trung tâm, là hình ảnh đọng lại sâu nhất

trong cảm nghĩ của người đọc

Con người là trung tâm thể hiện rõ nhất ở chỗ hình ảnh con người chiếm phần lớn dung lượng hình ảnh trong tập thơ

Điều đó trước hết là do nguyên nhân Nhật

ký trong tù thiên về thể tài thơ ký sự, thơ

sinh hoạt hàng ngày Quá nửa tập thơ viết

về con người trong mọi dạng thái tồn tại rất

vật chất của người tù: đói, lạnh, bắt rận, ghẻ lở, bị cùm chân, ngủ cạnh hố xí, chia nước, rụng răng, mất gậy, đêm lạnh, giải

đi đường, trượt ngã, ngồi xe than, nộp tiền đèn… Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là

do tác giả của tập thơ luôn hướng đến con người trong tư tưởng, cảm nghĩ nên trong

tư duy nghệ thuật của Hồ Chí Minh, hình ảnh con người luôn có mặt và xuất hiện

trên trang thơ Nhật kí trong tù như một lẽ

hiển nhiên

Trong thơ cổ, con người thường xuất hiện với một giá trị tượng trưng nào đấy như quân tử, liệt nữ, anh hùng, giai nhân

nhưng ở Nhật kí trong tù, con người xuất

hiện một cách cụ thể, xác thực Nếu chất tượng trưng là một trong những phẩm chất hàng đầu của thơ cổ điển thì ở nhiều bài

thơ của Nhật kí trong tù vẫn có phẩm chất

ấy, nhưng lại có nhiều bài dường như chỉ cốt miêu tả bản chất thực và qua đó làm bật lên sự quan tâm của tác giả về con người ở nhiều phương diện, trong có có phương diện đời thường Dường như tác giả muốn hướng đến sự thực trần trụi của nó để nói

rõ hơn về con người từ các góc tiếp cận và phản ánh Cũng có lẽ đó chính là lý do tác

giả viết Nhật kí trong tù với kiểu loại kí

bằng thơ, nhằm để phát huy thế mạnh của ghi chép, mà là ghi chép sự thực bằng hình ảnh của thơ, chứ không đơn thuần chỉ là

Trang 6

thơ trữ tình nói chí Mục đích của nhà thơ

là nói được nhiều sự thực đa dạng vốn là

chứng nhân cho sự tồn tại và các quan hệ

xã hội của con người Chẳng hạn bảy lần

nói cái đói trong nhà tù với các biểu hiện

khác nhau: đói vì muộn giờ cơm, đói run

bần bật dưới ánh điện, đói chết, người này

người khác đói cồn cào, đói bụng réo gào,

đói xót lòng, đói vì cơm không no Bốn lần

nói bị trói giải đi đường với các biểu hiện

xác thực: người bị trói giật cánh khuỷu, trói

bằng sợi thừng gai, trói bằng xích sắt, trói

treo ngược đôi chân Phương pháp của tác

giả là để cho sự vật tự nói lên bản chất của

chúng Hoặc có khi, hình ảnh con người

hiện lên trong cuộc sống thanh bạch, cụ thể

dường như nhuốm màu Thiền mà không có

bất kì một lời bình nào của tác giả: Bên

đường nấp dưới bóng lùm cây,/ Một túp lều

tranh: “tiệm rượu” đây;/ Nào món cháo

hoa và muối trắng,/ Đường xa khách tạm

nghỉ nơi này (Hàng cháo) Ở đây, tác giả

không bình luận mà dường như chỉ kí họa

một kiểu dạng chân dung cuộc sống của

con người mà thôi

Con người trung tâm luôn được thể

hiện xuyên suốt trong tập thơ Vị thế trung

tâm của con người còn được tác giả đặt vào

vị trí trung tâm trong cấu trúc bài thơ một

cách đầy dụng ý nghệ thuật Điều đó được

thể hiện ở nhiều bài thơ mà Mộ (Chiều tối)

là một trong những thi phẩm thể hiện điều

đó tiêu biểu nhất.: Quyện điểu quy lâm tầm

túc thụ,/ Cô vân mạn mạn độ thiên không;/

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,/ Bao túc ma

hoàn lô dĩ hồng (Chim mỏi về rừng tìm cây

ngủ,/ Chòm mây lẻ trôi lững lờ trên tầng

không;/ Thiếu nữ xóm núi xay ngô,/ Ngô

xay vừa xong, lò than đã đỏ) Ở bình diện

không gian nghệ thuật của bài thơ, Hồ Chí

Minh thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật về

con người hết sức mới mẻ, tiến bộ và nhân

văn Xét về mặt địa lý thì không gian trong

Chiều tối là không gian một vùng rừng núi

tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc trên con đường người tù bị chuyển ngục; xét trong

bối cảnh không gian chung của Nhật ký trong tù thì Chiều tối là không gian ngoài

khu vực ngục tù Với người tù Hồ Chí Minh lúc bấy giờ thì đó là một không gian

xa lạ trong cảnh ngộ buồn Tuy nhiên, phối

cảnh của không gian Chiều tối - một bức

tranh với nhiều mảng màu sáng - tối, nóng

- lạnh, của nó làm bật lên nhiều giá trị tư tưởng và thẩm mỹ đẹp đẽ, bất ngờ và thú

vị Xét ở bình diện kết cấu thì hai câu thơ đầu là một mảng không gian mang tính

thực: Chim mỏi về rừng tìm cây ngủ,/ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không Tình

tiết nổi bật về cảnh vật trên nền không gian

chiều tối, u tịch là chim, nhưng là chim mỏi; và mây nhưng là chòm mây Nghĩa là

tác giả nhấn mạnh vào tính chất của sự vật chứ không phải tính vật thể của sự vật Do

vậy, trong nguyên bản là quyện điểu và cô vân, mà từ quyện (mệt mỏi) và từ cô (cô lẻ,

cô độc) lại được đặt ở đầu câu thơ như những điểm nhấn tạo ấn tượng thẩm mỹ của cái buồn trong không gian Trong sự liên hệ với người tù thì cảnh ngộ của người

tù còn đáng thương hơn, vì cũng mỏi mệt,

cô đơn trên con đường chuyển lao, nhưng người tù còn không có được cả tự do thân thể như chim và mây kia Thế nhưng, với phép chuyển đột giáng, mảng thứ hai của không gian làm bật lên những ý nghĩa mới

mẻ Trong hai câu thơ cuối Cô em xóm núi xay ngô tối,/ Xay hết lò than đã rực hồng,

không gian tương phản với mảng thứ nhất

ở hai câu thơ đầu Thứ nhất, nói về đối tượng thì đã có bước chuyển từ cảnh vật, con vật, hiện tượng tự nhiên sang con người; thứ hai, con người được nhấn mạnh

ở tính chất: thiếu nữ (trẻ trung, sức khỏe,

Trang 7

vẻ đẹp…), mà là sơn thôn thiếu nữ lại càng

tôn thêm vẻ đẹp thuần phác, khỏe khoắn,

và đang xay ngô (hoạt động làm nên tính

ấm nóng cho không gian, tăng tính động

tích cực cho không gian) Đặc biệt hơn nữa

là trong cấu trúc câu thơ, con người (thiếu

nữ) được đặt ở vị trí trung tâm giữa câu thơ

và bài thơ, và đó cũng là trung tâm không

gian nghệ thuật của bài thơ Một tình tiết

khá nổi bật đi liền với hình ảnh thiếu nữ

xóm núi đang xay ngô là lò than đã đỏ

Màu đỏ - vốn là một sắc màu của gam

nóng trong hội họa, là một màu sắc mang

giá trị tượng trưng khá phổ biến trong

nhiều bài thơ của Nhật ký trong tù, ở bài

thơ này đã rọi lên tất cả, phổ lên tất cả ánh

sáng và sức ấm nóng của nó Theo đó, từ

tính thẩm mỹ của bức tranh, người đọc

phát hiện ra cả một bầu trời bát ngát tự do

về tư tưởng và mênh mông tình người

trong cách quan niệm và cái nhìn nghệ

thuật của người tù Đồng thời cũng từ đó,

hé lộ cả một tấm chân dung đầy nghị lực, ý

chí vượt lên cảnh ngộ buồn để hướng về tự

do, ánh sáng của Hồ Chí Minh Không gian

nghệ thuật đó cho người đọc thấy chất

nghệ sĩ, minh triết và chiến sĩ cách mạng

hài hòa một cách tự nhiên và thuyết phục

Cái nhìn nghệ thuật trong hai câu đầu được

đặt ở điểm nhìn thiên nhiên, đó là cảnh

thiên nhiên và vũ trụ thấm buồn trên con

đường chuyển lao của người tù Nhưng cái

nhìn di chuyển sang hai câu cuối thể hiện ở

điểm nhìn con người với ý nghĩa hoàn toàn

tương phản với hai câu đầu Quan trọng

hơn, đó là con người trẻ trung, khỏe khoắn,

lao động với nhiều giá trị hàm chứa về

niềm tin, hạnh phúc, tương lai Điều đó

mang lại sự ấm nóng, thay cho cái lạnh, tối,

xám ở hai câu thơ đầu, và tỏa rạng sự ấm

áp cùng vẻ đẹp con người khắp cả bài thơ

và tâm hồn người đọc

2 CON NGƯỜI CHỦ THỂ

Nhật kí trong tù thể hiện rõ quan niệm

con người là chủ thể Điều đó được bộc lộ

từ cách nhìn cho đến việc xây dựng và miêu tả hình tượng mới mẻ của tác giả tập thơ Nếu quan niệm con người là trung tâm thể hiện vị trí trung tâm, tâm thế trung tâm trong các bức tranh, từ bức tranh hoành tráng toàn bộ tập thơ cho đến các bức tranh

bộ phận ở từng bài thơ, thì con người chủ thể là quan niệm nghệ thuật thể hiện rõ sức mạnh của con người, sự tác động mang tính chủ động vào hoàn cảnh và chính bản thân mình để biến chuyển, thay đổi thực trạng theo chiều hướng tích cực và tiến bộ

Đó chính là những điểm mới trong quan

niệm nghệ thuật về con người của Nhật kí trong tù so với văn học cổ điển và văn học

dân gian

Nhìn chung, trong văn học cổ điển cũng như trong văn học dân gian, con

người thường được quan niệm là con người

nhất phiến, con người thuần toàn Ở đó,

con người thường là sản phẩm của hoàn cảnh, nghĩa là con người được xem xét và quan niệm như là một phân hệ của hoàn cảnh theo mối quan hệ nhân - quả Trong văn học dân gian thì con người chưa được

khai thác về mặt tâm lí, cái nhìn nghệ thuật

là bên ngoài chứ không phải cái nhìn bên trong, và cách kể là của người trần thuật chứ không phải của nhân vật; nhân vật được thể hiện chủ yếu ở hành động xảy ra

trong hoàn cảnh theo lôgic nhân - quả chứ

không phải tâm lý Chẳng hạn nhân vật Tấm bị dì ghẻ đối xử tệ bạc, độc ác thì khóc rồi đến lúc đấu tranh phản kháng lại; Thạch Sanh thì làm theo yêu cầu của Lý Thông Người đọc chưa thấy được diễn biến tâm lí bên trong của nhân vật

Trong văn học trung đại, con người trong thơ trữ tình thường buồn vui theo thế

Trang 8

thái nhân tình, và chủ yếu những người

sáng tác thơ là các nho sĩ, quan chức nên

sự buồn vui luôn gắn với thế sự, triều chính

và mệnh quan của mình Do vậy mà lúc

gặp vận tốt thì tiếng thơ vui, khi gặp vận

xấu thì giọng thơ buồn và nhà thơ tìm đến

thiên nhiên để giãi bày nỗi niềm cùng trăng

hoa cây cỏ Đỗ Phủ buồn thế cuộc và thân

phận thì Đăng cao, thả nỗi sầu vào vũ trụ

Bạch Cư Dị thất thế thì bộc lộ sầu đau

trong tiếng đàn tì bà âm vang trường hận

Lý Bạch chán cảnh tù túng và phàm tục nơi

cung điện thì giã biệt triều đình không chút

luyến tiếc để ra đi ngao du sơn thủy, luyện

đan múa kiếm và thả hồn vào thiên nhiên

vũ trụ trong tâm trạng của một vị “Trích

tiên” (vị tiên bị đày xuống trần gian)

Nguyễn Trãi bị bọn xấu gièm pha, mưu hại

thì Giũ bụi lầm để đến với tùng lâm

Nguyễn Bỉnh Khiêm sau khi dâng sớ chém

bọn lộng thần nhưng không được vua nhà

Mạc chuẩn tấu, đã lặng lẽ cáo quan về với

mai, cuốc, cần câu và vui trong cuộc sống

đạm bạc nơi vắng vẻ mà lánh xa chốn lao

xao: Một mai, một cuốc, một cần câu,/ Thơ

thẩn dầu ai vui thú nào;/Ta dại, ta tìm nơi

vắng vẻ,/ Người khôn, người đến chốn lao

xao (Nhàn) Nguyễn Khuyến trong giai

đoạn bất đắc chí, cáo quan về ở ẩn và tìm

đến với thiên nhiên để lặng lẽ chiêm

nghiệm, chìm đắm trong thiên nhiên với

những hoa năm ngoái, ngõ trúc quanh co,

ao thu lạnh lẽo, ngõ tối đêm sâu

Đến Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh đã

thể hiện một quan niệm nghệ thuật mới về

con người Ở đó, con người không còn

thuần toàn, nhất phiến và luôn là hệ quả,

kết quả của hoàn cảnh nữa, mà con người

đã có sự đan xen của các phần, các nét như

tinh thần và thể xác, cơ thể và tư tưởng,

tình cảm, hành động và tâm lý Đặc biệt,

quan niệm và cái nhìn nghệ thuật của tác

giả tập thơ được thể hiện không phải trong những triết luận khô khan hay thiên về lí thuyết mà là trong thực tiễn những cảnh ngộ xác thực Do vậy sức thuyết phục của từng bài thơ và cả tập thơ rất cao

Chẳng hạn, bài thơ đề từ là ví dụ tiêu biểu và có ý nghĩa chủ đạo cho cả tập thơ:

Thân thể tại ngục trung,/ Tinh thần tại ngục ngoại./ Dục thành đại sự nghiệp,/ Tinh thần cánh yếu đại (Thân thể ở trong lao,/ Tinh

thần ở ngoài lao./ Muốn nên sự nghiệp lớn,/ Tinh thần càng phải cao) Trong bài thơ này, con người chủ thể xuất hiện trước hết

từ một quan niệm mới về con người của tư duy nghệ thuật hiện đại: con người đã tự tách mình thành hai mình để triết luận Trong đó, tác giả - nhà tư tưởng cách mạng, nghệ sĩ cách mạng, nhà minh triết cách mạng Hồ Chí Minh - đã chủ động và bình tĩnh, ung dung và sáng suốt để quan sát, mổ

xẻ, đánh giá con người nhân vật – người tù

Hồ Chí Minh Nghĩa là, con người tinh thần, tư tưởng đã vượt thoát lên con người thân thể, bản thể để hoàn toàn chủ động và sáng suốt mổ xẻ, phân tích trạng huống của

chính mình trong cái nhìn đối lập thân thể - tinh thần, trong lao - ngoài lao và khẳng định Muốn nên sự nghiệp lớn thì Tinh thần càng phải cao Tâm thế sáng suốt và ý chí

nghị lực kiên cường của con người chủ thể

ở bài thơ còn được thể hiện rõ trong giọng điệu bài thơ rắn rỏi, khẳng khái, mạnh mẽ, khẳng định

Như vậy, con người là chủ thể khi

phần người vượt qua, vượt lên phần con

trong việc quên nỗi đau riêng mà hướng đến tha nhân để thương xót, cảm thông, sẻ

chia và an ủi Nghĩa là phần người trong con người làm chủ phần con trong con người Điều đó được thể hiện ở nhiều bài thơ, tiêu biểu như các bài Chiều tối, Ốm nặng, Bốn tháng rồi, Một người tù cờ bạc

Trang 9

vừa chết, Vợ người bạn tù đến thăm

chồng Trong Ốm nặng, con người được

đặt trong sự bủa vây tứ bề của những ngặt

nghèo, bệnh tật, gian nan, khó khăn và thử

thách: Ngoại cảm trời Hoa cơn nóng lạnh,/

Nội thương đất Việt cảnh lầm than./ Trong

tù mắc bệnh càng thêm khổ,/ Đáng khóc

mà ta cứ hát tràn Nhưng người tù đã vượt

qua, vượt lên tất cả, thay không gian của

nóng lạnh, lầm than, khổ bằng không gian

tiếng hát của người chiến thắng Điều đó

thật xúc động và cũng đáng tự hào, vì đó là

cuộc chiến khó khăn nhất nên chiến thắng

cũng vinh quang nhất của con người: chiến

thắng chính mình!

Con người là chủ thể không chỉ được

thể hiện trong mối quan hệ giữa con người

với thiên nhiên, vũ trụ, ngoại cảnh mà còn,

và quan trọng nhất là trong mối quan hệ với

chính mình Con người là chủ thể đã vượt

qua cảnh ngộ thực bi thảm của bản thân để

hướng đến vạn vật, tìm trong đó những ý

nghĩa triết học, nhân sinh mới mẻ và tích

cực Ngay trong cảnh ngộ bị trói treo ngược

và giải đi bằng thuyền, Hồ Chí Minh vẫn vẽ

nên bức tranh lãng mạn và trữ tình: Làng

xóm ven sông đông đúc thế,/ Thuyền câu rẽ

sóng nhẹ thênh thênh (Đáp thuyền đi huyện

Ung Ninh) Hoặc như, trong cảnh ngục tù

đầy rẫy những gian khổ, khắc nghiệt, khốn

khó như thế nhưng Người vẫn ung dung

thanh thản để khi âm vang tiếng giã gạo

vọng đến, không chỉ người lắng nghe được

mà còn diệu kì là ở chỗ Người triết luận về

giáo dục, về nhân sinh từ âm thanh của việc

giã gạo vốn quá đỗi thường tình đó: Gạo

đem vào giã bao đau đớn,/ Gạo giã xong rồi

trắng tựa bông./ Sống ở trên đời người cũng

vậy,/ Gian nan rèn luyện ắt thành công

Hoặc Người nhìn cột cây số, nghe tiếng gà

gáy, cảm nhận về cái răng rụng hay chiếc

gậy bị lính ngục lấy cắp với những chiêm

nghiệm và triết luận đầy tính nhân văn Tư tưởng và tâm thế đó thể hiện khá nổi bật trong quan niệm nghệ thuật, cái nhìn và

giọng điệu của thi phẩm Đêm ngủ ở Long Tuyền (Dạ túc Long Tuyền): “Đôi ngựa” ngày đi chẳng nghỉ chân,/ Món “gà năm vị”, tối thường ăn./ Thừa cơ rét, rệp xông vào đánh,/ Mừng sáng nghe oanh hót xóm gần Trong thi pháp kết cấu thẩm mỹ của bài

thơ, xét về số lượng thì các chi tiết thể hiện

sự vất vả, gian khó, khổ cực chiếm phần lớn:

“đôi ngựa” (đôi chân) phải đi bộ suốt ngày không được nghỉ, tối về thì thường ăn “gà năm vị” (chân bị xiềng chân tréo như chân gà) suốt đêm; rồi rét, rệp tha hồ chích, cắn Chỉ có một chi tiết thể hiện niềm vui, hạnh phúc là tiếng oanh hót sớm ở xóm gần Thế nhưng, chính tín hiệu âm thanh của tiếng oanh hót đó là điểm nhấn, lả nhãn cú của câu thơ khẳng định niềm tin, lòng lạc quan của con người chủ thể vượt thoát ngoại cảnh và chính mình của Hồ Chí Minh

Đặc biệt là con người chủ thể luôn hướng đến tự do, ánh sáng và tương lai với nhiều hình thức và bút pháp nghệ thuật

khác nhau Một mặt, thể hiện qua các từ tự

do, ánh sáng, ngày mai, tương lai, màu hồng, ngày xuân, được nhắc đến trực tiếp;

mặt khác, thể hiện trong chiều hướng vận hành của cấu trúc thẩm mỹ các bài thơ từ buồn sang vui, từ tối sang sáng, từ lạnh

sang ấm nóng Bài Chiều tối là một minh

chứng Trong bài thơ này, con người làm chủ bản thân, con người tư tưởng “hội xung phong” không bị ngoại cảnh thực u tối, trầm buồn, thê lương nào đó kéo mình vào, chi phối và tác động theo chiều hướng yếm thế, hay bị thất thế bởi những xúc cảm của thân thể, mà vượt lên và chủ động chuyển cái nhìn từ ngoại cảnh tối sang

sáng, lạnh sang ấm nóng: chuyển từ quyện điểu (chim mỏi mệt), cô vân (đám mây cô

Trang 10

độc) sang sơn thôn thiếu nữ (thiếu nữ xóm

núi); chuyển từ tầm túc thụ (tìm cây ngủ)

chậm buồn sang ma bao túc (đang xay

ngô) năng động; chuyển mộ (chiều tối u

ám) sang lô dĩ hồng (lò than đã đỏ) ấm áp,

nồng đượm và rực sáng

Ở bình diện khác, tự do và niềm vui

tiềm ẩn trong những bài tả thực trạng buồn

nhưng chủ thể trữ tình đã chuyển hướng

góc tiếp cận, đổi giá trị cảnh ngộ trong

những hoàn cảnh tưởng chừng như không

thể Bài Ghẻ là một thí dụ trong nhiều thí

dụ tiêu biểu: Đầy mình ghẻ tím như hoa

gấm,/ Sột soạt luôn tay tựa gảy đàn;/ Mặc

gấm bạn tù đều khách quý, Gảy đàn trong

ngục thảy tri âm Xét về mặt cấu trúc thẩm

mỹ thì bài thơ chỉ có 1/4 là hiện thực bi

thảm, là khách thể, còn 3/4 là thuộc về ánh

sánh, sắc màu, âm thanh vui trong cái nhìn

đầy bản lĩnh và nhân văn của chủ thể Tức

là chủ thể đã chủ động chuyển đổi bản chất

của khách thể và chiếm lĩnh dung lượng

cũng như không gian nghệ thuật bài thơ

Chính vì quan niệm con người là chủ

thể nên hệ quả là Nhật kí trong tù của Hồ

Chí Minh đã thể hiện sức mạnh tinh thần

lớn lao của nhà thơ Sức mạnh đó gắn liền

với bản lĩnh nhận thức sự vật, mối quan hệ

giữa các sự vật mang tính biện chứng của

chủ nghĩa Mác - Lênin Nhật kí trong tù thể

hiện một tương quan cảnh - tình mới, trong

đó tình và ý xây dựng trên ý nghĩa khách

quan của cảnh vật, sự kiện, chứ không phải

theo kiểu “người buồn cảnh có vui đâu bao

giờ” như cách quan niệm một chiều khá

phổ biến của người xưa và trong thơ xưa

Trong thơ Hồ Chí Minh cũng có nhiều

trăng, chim muông cỏ cây: Trong thơ Bác,

trăng với hoa là bạn (Hoàng Trung

Thông), thế nhưng con người không chìm

khuất trong đó, vì dù thiên nhiên có là một

phần cuộc sống của người trong văn hóa

Hồ Chí Minh đi chăng nữa nhưng chủ thể vẫn là con người Do vậy, trong tất cả mọi

mối quan hệ với vũ trụ, thiên nhiên ở Nhật

kí trong tù, con người vẫn luôn không chỉ

là trung tâm mà còn là chủ thể của bức

tranh Chẳng hạn như bài thơ Giải đi sớm (Tảo giải), mối quan hệ giữa con người với

thiên nhiên và vũ trụ được thể hiện trong một cảm quan tinh tế, nhạy bén

Trong bài I, thiên nhiên và vũ trụ hiện lên với những vẻ khắc nghiệt cộng với hoàn cảnh người tù bị giải đi càng làm tăng tính chất gian nan của hoàn cảnh Người tù

bị giải đi vào lúc gà gáy lần đầu, tức vào khoảng nửa đêm, thời tiết giá lạnh, và con đường mà người tù phải trải qua dường

như diệu vợi, không xác định được đích đến Theo lôgic thông thường của tâm lí con người thì từ điều kiện đó, hệ quả của

nó là con người sẽ buồn nản, ngái ngủ, mệt mỏi, than vãn, bất bình Nhưng ở bài thơ thì chân dung con người hiện lên lại khác hẳn Người tù nhanh chóng chuyển từ thế

bị động thành chủ động; cảnh không những không thể làm nản lòng con người được mà con người còn chủ động tìm cái đẹp và thi

vị ngay trong hoàn cảnh tưởng chừng như không thể: ngắm trăng sao và hình tượng hóa các chi tiết vũ trụ và thiên nhiên là

trăng, chòm sao, dãy núi mùa thu, vốn

rời rạc và lạnh lẽo trong cảnh mùa đông thành một hệ thống gắn kết nhuần nhị và

đầy tính nhân sinh: Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san (Chòm sao nâng vầng trăng

vượt lên núi mùa thu) Con người ở đây

được nhìn và quan niệm không phải là phạm nhân mà là chinh nhân với tư thế chủ động cho sự lên đường: dĩ tại chinh đồ thượng (đã ở trên con đường xa) trong tư thế nghênh diện (ngẩng đầu) trước thu phong trận trận hàn (nhiều trận gió lạnh mùa thu) dồn dập và khắc nghiệt dồn về,

Ngày đăng: 25/10/2020, 09:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w