1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Ẩn dụ tri nhận trong một số bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường

7 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 274,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết khảo sát một số bút ký của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường trên phương diện ngôn ngữ học tri nhận. Thông qua những ẩn dụ tri nhận, người viết đề cập đến hai nội dung cơ bản: Các cách ý niệm về thiên nhiên trong bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường, các cách ý niệm về nghiệm thân trong bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Trang 1

Ẩn dụ tri nhận trong một số bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Cognitive metaphors in Hoang Phu Ngoc Tuong’s literary memoirs

ThS Đậu Thành Vinh Trường THPT Dầu Giây – Đồng Nai

M.A Dau Thanh Vinh Dau Giay High School – Dong Nai

Tóm tắt

Bài viết khảo sát một số bút ký của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường trên phương diện ngôn ngữ học tri nhận Thông qua những ẩn dụ tri nhận, người viết đề cập đến hai nội dung cơ bản:

- Các cách ý niệm về thiên nhiên trong bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

- Các cách ý niệm về nghiệm thân trong bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trên cơ sở đó, bước đầu tìm hiểu những đặc điểm về phong cách ngôn ngữ của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường ở góc độ ẩn dụ tri nhận

Từ khóa: ẩn dụ tri nhận, Hoàng Phủ Ngọc Tường, ý niệm thiên nhiên, ý niệm nghiệm thân

Abstract

The artical surveys some signing of the author Hoang Phu Ngoc Tuong based on the aspect of Cognitive linguistics Through Cognitive Metaphors, the writer mentions two basic contents:

- The concept of nature in the signing of Hoang Phu Ngoc Tuong

- The concept of humans in the pen signing of Hoang Phu Ngoc Tuong

On the ground, the first step is carried out to find out the characteristics of individual style of the author from the Cognitive angle

Keywords: cognitive metaphors, Hoang Phu Ngoc Tuong, the concept of nature, the concept of humans

1 Ngôn ngữ học tri nhận ra đời với

những cách nhìn, cách đánh giá hoàn toàn

khác với ngôn ngữ học truyền thống, đã

đưa bộ máy khái niệm ẩn dụ và các thao

tác nghiên cứu hữu quan lên một tầm nhận

thức mới Ẩn dụ là hiện tượng không thể

thiếu của con người, nếu con người còn

muốn sử dụng ngôn ngữ như một phương

tiện giao tiếp quan trọng nhất Nó giúp con

người suy nghĩ với tất cả các vấn đề trong cuộc sống từ đơn giản đến phức tạp Ẩn dụ không còn chỉ bó hẹp trong địa hạt văn chương mà là thuộc tính của tư duy Xây dựng thuyết ẩn dụ, ngôn ngữ học tri nhận

đã mang đến cho ngôn ngữ học một cách tiếp cận rất có triển vọng

Thành tựu của ngôn ngữ học tri nhận của thế giới đã được vận dụng để miêu tả

Trang 2

một số trường ý niệm trong tiếng Việt như:

định vị không gian; vai trò của sông nước,

cỏ cây, thực phẩm trong việc ý niệm hóa,

phạm trù hóa của người Việt Thế nhưng

cho đến nay chưa có công trình nào vận

dụng lý thuyết ẩn dụ tri nhận của châu Âu

để tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ như một

hình thái phong cách cá nhân của một nhà

văn cụ thể

Đã có những bài viết, những công

trình nghiên cứu về giá trị các tác phẩm

của Hoàng Phủ Ngọc Tường Tuy nhiên có

thể nói được rằng, các đúc kết ấy chỉ bó

hẹp trong lĩnh vực văn học Bài viết này

thông qua việc khảo sát một số truyện ký,

thử xác lập đặc điểm ngôn ngữ trong một

số mô hình tri nhận nổi trội của tác giả này

2 Mặc dù lý thuyết ngôn ngữ học nói

chung, lý thuyết ẩn dụ tri nhận nói riêng

chỉ mới ra đời cách nay gần nửa thế kỷ thế

nhưng các đường hướng tiếp cận rất phức

tạp Liên quan đến vấn đề đang bàn, người

ta hay đề cập đến bốn loại ẩn dụ sau: ẩn dụ

cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định vị và ẩn

dụ đường dẫn Hiển nhiên, cùng một ngữ

liệu dựa vào các tiêu chí khác nhau có thể

có những cách phân loại khác nhau Ngay

cả G Lakoff và M Jonhnson (1980),

những tác giả đã góp phần không nhỏ vào

bức tranh phân loại ẩn dụ giai đoạn đầu,

thế nhưng đến năm 2003 trong tác phẩm tái

bản vừa dẫn, các tác giả này cũng tự phủ

định mình và cho rằng: cách hình dung bên

trên là không hợp lý Do vậy, bài viết này

không đi sâu vào việc phân loại mà cố gắng

tập hợp miêu tả, phân tích một số ẩn dụ liên

quan đến một số miền ý niệm quen thuộc

trong bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường

3 Khảo sát bước đầu có thể ghi nhận

chủ đề trong bút ký ảnh hưởng rất nhiều

đến cơ chế tri nhận, cụ thể ảnh hưởng đến

sự lựa chọn các miền nguồn như những

nền tảng cơ sở để phóng chiếu lên miền

đích Chẳng hạn, tác phẩm “Như con sông

từ nguồn ra biển” miêu tả về quá trình mò mẫm đến với cách mạng của một tri thức miền Nam cho nên diễn ngôn xuất hiện nhiều ẩn dụ liên quan đến ý niệm ánh sáng (chân lý), đui mù, bóng tối (mê muội) và cả trở ngại trên hành trình (khó khăn) Thế nhưng “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, “Đời rừng”, “Hoa trái quanh tôi” lại thiên về chủ

đề thiên nhiên Huế, con người Huế Và dĩ nhiên như đã nói, chủ đề miêu tả không thể không ảnh hưởng đến sự lựa chọn ngôn từ của tác giả

3.1 Về phương diện lý thuyết, trong quá trình cọ xát với tự nhiên, con người cho rằng hoặc có thể chinh phục được nó hoặc có thể phụ thuộc vào nó Với chủ trương tri nhận là một quá trình tương tác, tri nhận luận thừa nhận, con người không thể không để lại dấu ấn lên hiện thực, đến lượt nó, hiện thực không thể không tác động lên con người Đây là những nguyên lý có tính chất phổ quát cho toàn thể nhân loại

Có thể nói, bên cạnh các ẩn dụ tri nhận phổ biến thuộc nhiều cấp độ khác nhau như: Thiên nhiên là con người, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã địa phương hoá thành các ẩn dụ bậc dưới Thiên nhiên Huế là con người Huế, Cây vườn Huế là con người Huế Ví dụ ẩn dụ khái quát: “Có

lẽ thiên nhiên Việt Nam cũng có sức sống dẻo dai giống con người Việt Nam [1, tr.364] Hãy quan sát hai ẩn dụ cụ thể sau:

- Ẩn dụ cụ thể 1: “Vườn Huế, dù giàu hay nghèo thường vẫn có cổng gạch, mái khá rộng, phía ngoài trồng vài cây có quả,

ấy là chỗ dừng chân qua cơn mưa, là chút bóng mát dành cho người đi đường, là chút lộc hoa dành cho trẻ con trong xóm, cổng nhìn ra nên luôn ngụ tấm lòng người thơm thảo” [1, tr.374]

- Ẩn dụ cụ thể 2: “Tôi bắt gặp cả những chiếc nón bài thơ mảnh khảnh bọc

ni lông giữ gìn cẩn thận từ năm này qua năm khác mà lâu lâu người chủ nó lại đem

Trang 3

ra soi bên bếp lửa đánh vần từng chữ

Đường về xứ Huế xinh xinh, sông Hương

núi ngự cảm tình xiết bao” [1, tr.22]

Dễ thấy, ẩn dụ tri nhận khái quát trừu

tượng có thể bắt gặp trong nhiều ngôn ngữ,

còn các ẩn dụ nguyên cấp dễ quan sát

thường xuất hiện trong những ngôn ngữ cụ

thể Dựa vào đặc điểm này, Hoàng Phủ

Ngọc Tường đã thổi vào trang viết của

mình cái chất Huế, cái hồn Huế một cách tự

nhiên mà người đọc không thấy gượng ép

3.2 Trong tâm thức của người Việt,

sông nước có một vai trò hết sức quan

trọng, sông nước được hình dung như một

con người, hành trình của dòng sông là

hành trình của đời người, thậm chí con

người sinh ra từ nước và khi chết cũng trở

về với nước Trên nền tảng ấy, Hoàng Phủ

Ngọc Tường một mặt, khai thác tối đa

không gian tinh thần đã trở thành máu thịt

của người Việt, mặt khác đã cố khắc họa cá

tính của dòng sông Hương theo các kiểu ẩn

dụ khác nhau Có thể kể đến các ẩn dụ cụ

thể như sau: Sông Hương là con người Huế

hay thậm chí là những tầng lớp cụ thể của

xã hội Huế như: người mẹ “cần cù, người

mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở”,

“người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa

cách đồng Châu Hóa”, “người tài nữ đánh

đàn lúc đêm khuya”, “cô gái thành tiên

trong truyện cổ tích thuỳ mị” Có lẽ ẩn dụ

sau đây đã tổng kết khá đầy đủ “tính tình”

của sông Hương và cũng là đặc điểm của

người Huế: “Trước khi về với vùng châu thổ êm đềm, nó (sông Hương) đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như những cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng

có những lúc nó trở nên dịu dàng say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng [1, tr.316]

3.3 Với cách hình dung như 3.1 và 3.2, trong giới hạn các tác phẩm đã khảo sát, chúng ta có thể tổng kết mối quan hệ giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích Cần lưu

ý, theo các nhà tri nhận luận, thường con người thông qua những sự vật, hiện tượng

cụ thể có tính vật chất, hữu hình dễ quan sát, để nhận thức sự vật hiện tượng trừu tượng phi vật chất ít được trải nghiệm Do vậy không có gì ngạc nhiên khi con người dùng ý niệm nguồn là thiên nhiên, là dòng sông để nhận thức về con người Cách chọn lựa ngôn từ của Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn nằm trong quỹ đạo này, bên cạch đó, tác giả còn khắc hoạ thêm cá tính, đặc trưng của Huế thông qua các ẩn dụ cụ thể Điều này một mặt làm cho những trang viết của ông dù là bút ký, một thể loại ghi

chép nhưng vẫn mang đậm tính chất học thuật, mặt khác những phân tích về Huế thông qua các ẩn dụ đã tạo nên một bút pháp khó lẫn lộn Có thể tóm tắt mối quan

hệ giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích trong bút ký của tác giả bằng bảng sau:

Trang 4

6 Rừng cây Người mẹ

Có thể thấy, trên nền tảng những đặc

điểm do tương tác mà có, nói khác, Hoàng

Phủ Ngọc Tường từ những trải nghiệm của

chính mình đã gán cho sự vật hiện tượng

trong một số trường hợp trên tất cả cho

thấy tình cảm gắn bó với quê hương sâu

đậm như thế nào của tác giả Công bằng

mà nói, thiên nhiên là con người, rừng cây

là con người; có thể thấy cách hình dung

này xuất hiện ở các tác giả khác nhưng để

có được những ẩn dụ bậc dưới về Huế, về

con người Huế thì sâu sắc nhất vẫn là ngòi

bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường

4 Một trong những vấn đề làm nên

hạt nhân của ngôn ngữ học tri nhận là lý

thuyết nghiệm thân Nói rõ hơn, thông qua

những kinh nghiệm với chính cơ thể mình,

con người dùng nó như trải nghiệm cơ bản

để nhận thức các sự vật hiện tượng khác

Chẳng hạn, tư thế thẳng đứng của con

người trong lúc di chuyển, tư thế ngang

trong lúc nằm, di chuyển một cách tách

biệt trên mặt phẳng Tất cả những trải

nghiệm này đều được dùng để phóng chiếu

lên hiện thực như: vui thì thường được

hình dung là lên, buồn thì được hình dung

là xuống, sống là lên, chết là xuống, tích

cực là rộng, là sáng, tiêu cực là hẹp, là tối Liên quan trực tiếp đến vấn đề đang bàn là giá trị biểu trưng của các bộ phận cơ thể con người Tuy chưa có điều kiện khảo sát

tất cả những tác phẩm của Hoàng Phủ

Ngọc Tường nhưng có thể ghi nhận bước đầu, bên cạnh việc dùng đầu biểu trưng cho

lý trí, trí tuệ, trái tim biểu trưng cho tình

cảm, cảm xúc, tùy theo ngữ cảnh ta thấy tác giả còn dùng các cơ quan nội tạng như:

bụng, dạ, lòng, ruột, gan với cùng chức năng như hai bộ phận trước Điều này, có

thể giải thích được, cách phân chia có tính

chất nhị nguyên: đầu/tim là ảnh hưởng của triết học phương Tây còn có cách lý giải

bụng/dạ ảnh hưởng của tri thức dân gian phương Đông (11) Riêng về phương diện này phần nào cho thấy tính chất dung hợp như một quan điểm kế thừa trong bút pháp

của ông Theo quan sát của chúng tôi trong

100 ẩn dụ nghiệm thân, sự phân bố các bộ

phận cơ thể trong bút ký của Hoàng Phủ

Ngọc Tường có thể hình dung bằng bảng

tổng kết như sau:

Trang 5

STT BỘ PHẬN CƠ THỂ GIÁ TRỊ BIỂU TRƯNG

Có thể ghi nhận bao trùm lên tất cả là

ẩn dụ các bộ phận cơ thể con người là vật

chứa có thể được định vị bên trong hay bên

ngoài Hình như Hoàng Phủ Ngọc Tường

chưa có ý thức khai thác đặc trưng này, cho

nên những mô tả của ông không có khác

biệt gì nhiều so với không gian tinh thần

của người Việt

5 Ẩn dụ tri nhận là lĩnh vực khá mới

mẻ trong ngành ngôn ngữ Tuy vậy, đây là

lĩnh vực phát triển mạnh mẽ vượt ra ngoài

phạm trù văn chương Ẩn dụ tri nhận là sự

mở rộng tri thức, cung cấp sự hiểu biết về

một đối tượng này thông qua sự hiểu biết

về một đối tượng khác Bằng cách đó, con

người tạo ra cho mình sự hiểu biết về một

đối tượng khác đã biết Phạm vi hành chức

của ẩn dụ rất rộng: trong văn học, nghệ

thuật và hầu hết các lĩnh vực đời sống

thường nhật Ẩn dụ không chỉ là phương

tiện và cách thức biểu hiện của ngôn ngữ

mà nó còn là phương thức tư duy Nó là

một quá trình thao tác của tư duy dẫn đến

tri nhận thế giới, tạo ra nền tảng tri thức

mới dựa trên nền tảng những cái đã biết

Xuất phát từ phương thức ẩn dụ mà

con người có thể nhận biết thế giới, gồm

thế giới vật chất, thế giới tinh thần, thế giới

cảm xúc Ẩn dụ gắn liền với đặc trưng văn

hóa của người bản ngữ

Chúng ta không thể có được sự đánh giá cao về chức năng của tư duy ẩn dụ trong văn học hay trong đời sống con người, nếu không có kiến thức sơ bộ về ẩn

dụ là gì và nó hình thành như thế nào

Những khám phá gần đây về mặt bản thể

của nó đã cho thấy ẩn dụ sẽ không là gì cả

nếu như nó ở ngoại vi đời sống tinh thần Trái lại, ẩn dụ tri nhận là trung tâm đối với

sự hiểu biết của chúng ta với chính bản thân mình và xã hội Văn chương thông qua ẩn dụ, phát triển năng lực tinh thần, thể

hiện cá tính sáng tạo dựa vào các lược đồ thường qui

Ẩn dụ tri nhận là một bộ phận hợp thành của sự sáng tạo ngôn ngữ và khả năng nhận thức của con người về thế giới khách quan Ngôn ngữ học tri nhận với hệ

lí thuyết ẩn dụ ý niệm, hiện nay được nhiều nhà nghiên cứu chú ý và được vận dụng

nối kết hai miền ý niệm xảy ra trong quá trình tư duy của con người Các nhà ngôn

ngữ học tri nhận hi vọng tìm ra những điểm mới về bản chất của ẩn dụ mà những quan niệm truyền thống dường như chưa bao quát đầy đủ Đó là chuyển tâm điểm

của sự chú ý từ ẩn dụ trong ngôn ngữ sang

ẩn dụ trong trí não, xem đó là chìa khóa

mở ra sự hiểu biết những cơ sở của tư duy,

là hoạt động của quá trình nhận thức Bài

Trang 6

viết ngắn này, chúng tôi khảo sát các ẩn dụ

tri nhận về con người và thiên nhiên trong

các truyện ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường

theo quan niệm ẩn dụ tri nhận của Lakoff

và Johnson Bên cạnh đó, những khám phá

mới về những đặc điểm của các yếu tố

ngôn ngữ trên bình diện ẩn dụ trong ký của

ông cũng được nhìn nhận và đánh giá lại

Có thể thấy, bản chất thiên nhiên và

con người Huế đã được Hoàng Phủ Ngọc

Tường mô tả một cách tài hoa Nói khái

quát, từ ẩn dụ thiên nhiên và con người,

thậm chí là sông Hương và nói rộng ra là

bối cảnh Huế, là con người Huế Phải gắn

bó máu thịt với Huế như thế nào mới có

được những trang viết sâu nặng, mới có thể

miêu tả, khắc họa sinh động được như thế

Zotan Kovecses có lý khi cho rằng,

mọi sáng tạo có tính cá nhân của nhà văn

đều dựa vào không gian tinh thần bản ngữ

Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng không phải

là ngoại lệ, ông thường xây dựng ẩn dụ

thông qua các phương thức khai thác sau:

- Chi tiết hóa, tức thông qua một số ẩn

dụ tri nhận có tính khái quát, nhà văn đã cụ

thể hóa các ẩn dụ ấy bằng những cảm nhận

riêng của mình, ví dụ: xuất phát từ ẩn dụ:

đời người là cỏ cây, đời người là một năm,

nói rõ hơn, các mùa xuân, hạ, thu, đông

được ánh xạ như cuộc đời của một con

người, mùa xuân là tuổi trẻ, mùa đông là

tuổi già xế bóng, ánh sáng là sự sống, bóng

tối là cái chết Hoàng Phủ Ngọc Tường đã

mô tả một cách chi tiết con người Huế

thông qua cây cỏ như thế nào Các mùa

Xuân, Hạ, Thu, Đông và những biểu hiện

của con người Huế như thế nào và cuối

cùng thời gian là quy luật của tạo hóa với

những dấu ấn và đặc điểm được miêu tả

qua không gian, thời gian Huế như thế nào

- Mở rộng nghĩa, phương thức này cho

thấy sự chuyển nghĩa không những dựa

vào ẩn dụ tri nhận mà còn dựa vào cả hoán

dụ tri nhận Ví dụ: Xuất phát từ cách tri

nhận mặt thay thế cho con người, rừng cây

là con người, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã

rất nhiều lần đề cập đến bộ mặt của rừng cây Hay như đã nói, từ ẩn dụ gần gũi vật

chất là gần gũi con người, Hoàng phủ

Ngọc Tường đã đề cập đến giá trị truyền

thống của chiếc nón bài thơ Huế; nón bài thơ Huế chính là con người Huế

- Tổng hợp, đây là phương thức thông qua các ẩn dụ thường qui, cùng một lúc khai thác nhiều loại ẩn dụ như: ẩn dụ chi

tiết hóa, ẩn dụ mở rộng nghĩa, ẩn dụ tra

vấn, thậm chí kết hợp với các hoán dụ, nhân hoá, so sánh Hoàng Phủ Ngọc Tường

đã sử dụng một cách uyển chuyển tất cả các phương thức trên, chính điều này đã làm nên tính chất trí tuệ trong bút ký của ông và cũng chính điều này, từ phía người đọc, việc nhận hiểu và lý giải tác phẩm của ông một cách thấu đáo quả là điều không

dễ dàng

Như vậy, xét cả trên bình diện các ẩn

dụ thường quy khái quát và cả những ẩn dụ mang tính sáng tạo cá nhân, Hoàng Phủ

Ngọc Tường đều sử dụng một cách đa

dạng phong phú, bằng cách kết hợp nhiều

loại ẩn dụ khác nhau Rất tiếc, do điều kiện

hạn chế của một bài báo ngắn, chúng tôi chưa có dịp khảo sát kỹ, chưa phân loại

một cách chi tiết, mà ở đây chỉ có tính chất đặt vấn đề cho những nghiên cứu tiếp theo

1 Hoàng Phủ Ngọc Tường (2002), Tuyển tập,

t ập 2 – Bút ký, Nxb Trẻ

2 Kövecses Z (2005), Metaphor in Culture Universality and Variation, Cambridge

University Press, Cambrige

3 Lakoff G and Johnson M (1980, 2003),

Metaphors we live by, The university of

Chicago, The United States of American

4 Lakoff G and Johnson M (1989), More than cool reason: A field guide to poetic metaphor,

The university of Chicago, Chicago

Trang 7

5 Nguyễn Đức Tồn (2010), Đặc trưng Văn hoá

– Dân t ộc của ngôn ngữ và tư duy, Nxb

T ừ điển Bách khoa

6 Sharifian F (2011), Cultural conceptualization,

John Benjamins publishing company,

Amsterdam/Philadelphia

7 Tr ịnh Sâm (2011), “Miền ý niệm sông nước

trong tri nhận của người Việt”, Tạp chí

Ngôn ng ữ, (12), tr.1-15

8 Tr ịnh Sâm (2011), “Dòng sông và cuộc đời”,

T ạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, (10), tr.31-34

9 Tr ịnh Sâm (2013), “Phong cách ngôn ngữ Hồ

Chí Minh, nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri

nhận”, Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, (1, 2),

tr.2-15

10 Trịnh Sâm (2014), “Miền ý niệm sông nước trong tri nh ận của người Nam Bộ” trong

“Ngôn ng ữ học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập”, kỷ yếu Hội thảo quốc tế,

Nxb Khoa h ọc xã hội, Hà Nội

11 Trịnh Sâm (2014), “Một vài nhận xét về ý

niệm “Tim””, Tạp chí Từ điển học và bách khoa thư số 4

12 Trịnh Sâm, (2015), “Hình thức và nội dung trong tri nhận luận” (một vài ghi nhận), Tạp

chí ngôn ngữ số 7

Ngày nhận bài: 28/6/2015 Biên tập xong: 15/9/2015 Duyệt đăng: 20/9/2015

Ngày đăng: 25/10/2020, 09:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.3. Với cách hình dung như 3.1 và 3.2,  trong  giới  hạn  các  tác  phẩm  đã  khảo  sát, chúng ta cĩ thể tổng kết mối quan hệ  giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích - Ẩn dụ tri nhận trong một số bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường
3.3. Với cách hình dung như 3.1 và 3.2, trong giới hạn các tác phẩm đã khảo sát, chúng ta cĩ thể tổng kết mối quan hệ giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w