Bài viết khảo sát mối liên hệ giữa các hàm hữu ích, các hàm trọng sử dụng trong độ đo rủi ro phổ và các hàm distortion dùng trong rủi ro sử dụng tích phân Choquet.
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 8 (33) - Tháng 10/2015
Các lớp hàm Distortion tương ứng với các thái độ chấp nhận rủi ro của người ra quyết định
Classes of distortion functions corresponding attitudes toward risk
of decision – makers
1
TS Phạm Hồng Uyên, 2 ThS Lý Sel, 3 ThS Lê Thanh Hoa
1 Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM
2 Trường Đại học Tơn Đức Thắng
3 Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP.HCM
1
Ph.D Pham Hoang Uyen, 2 M.Sc Ly Sel, 3 M.Sc Le Thanh Hoa
1
University of Economics and Law, National University Ho Chi Minh City
2 Ton Duc Thang University
3
University of Economics and Law, National University Ho Chi Minh City
Tĩm tắt
Lý thuyết quyết định được tiếp cận dựa trên các hàm hữu ích hoặc sử dụng các độ đo rủi ro Trong bài báo này, chúng tơi khảo sát mối liên hệ giữa các hàm hữu ích, các hàm trọng sử dụng trong độ đo rủi ro phổ và các hàm distortion dùng trong rủi ro sử dụng tích phân Choquet Từ đĩ, nghiên cứu các thái độ của những người ra quyết định đối với rủi ro như trung tính với rủi ro, lo ngại rủi ro hay thích rủi ro khi
họ sử dụng tương ứng các lớp hàm distortion cụ thể
Từ khĩa: lý thuyết quyết định, hàm hữu ích, hàm trọng, hàm distortion, độ đo rủi ro phổ, độ đo rủi ro
distortion, thái độ chấp nhận rủi ro của người ra quyết định…
Abstract
Decision theory is mainly based on utility functions which could be seen via risk measures In this paper, we concern about relationship between utility functions and weighted functions of spectral risk measures as well as distortion functions in terms of Choquet integrals The paper proposes a theorem which can be used to determine a distortion function whether or not it characterizes attitudes toward risks of a decision-maker such as risk adverse, risk seeking and risk neutral In addition, a new class of distortion, named dual-gamma distortion is defined and some properties are examined
Keywords: decision theory, utility function, weighted function, distortion function, spectral risk
measure, distortion risk measure, risk aversion…
1 Giới thiệu
Giả sử trong một đầu tư, ta cĩ hai
phương án để lựa chọn Chẳng hạn, đối với
phương án thứ nhất thì số tiền lợi nhuận
(hay thua lỗ) là một biến ngẫu nhiên X1,
tương tự đối với phương án thứ hai là biến
ngẫu nhiên X 2 Vấn đề đặt ra, người ra
quyết định sẽ chọn phương án nào? Thực
tế, điều đĩ cịn phụ thuộc vào thái độ chấp nhận rủi ro của người ra quyết định, tức là người đĩ thích mạo hiểm, lo ngại hay là trung tính với các rủi ro của từng phương
án đang xét Do đĩ, người ta xây dựng lý thuyết hàm hữu ích cũng như lý thuyết các
Trang 2độ đo rủi ro và ứng dụng trong quyết định
các vấn đề kinh tế-xã hội
Năm 2006 trong [2], K Dowd, J Cotter,
G Sorwar đã nghiên cứu mối liên hệ giữa
thái độ chấp nhận rủi ro (thông qua hàm hữu
ích) và độ đo rủi ro phổ (thông qua hàm
trọng) Tuy nhiên, mối liên hệ chỉ là một phía
từ hàm hữu ích qua hàm trọng và chỉ dựa
trên hai lớp hàm mũ và hàm lũy thừa
Năm 2010 trong [5], S Sriboonchitata,
Hung T Nguyen và K Kreinovich đã đưa
ra mối liên hệ hai phía giữa hàm trọng và
hàm hữu ích một cách tổng quát hơn bằng
bài toán tương tự trong Thống kê robust về
sự tương ứng giữa ước lượng M và ước
lượng L Tuy nhiên, các kết quả vẫn còn
nhiều hạn chế và chưa khảo sát vấn đề thái
độ chấp nhận rủi ro
Như vậy, chúng ta có một số quan hệ sau:
i) Mối liên hệ giữa M-estimates và
L-estimates
ii) Mối liên hệ giữa M-estimates và
hàm hữu ích (utilities)
iii) Mối liên hệ giữa L-estimates và độ
đo rủi ro phổ (spectral risk measures)
iv) Mối liên hệ giữa hàm hữu ích và
hàm trọng (weighting functions) Từ đó, ta
có thể thiết lập mối liên hệ giữa hàm hữu
ích và độ đo rủi ro phổ
v) Mối liên hệ giữa hàm trọng và
hàm distortion
vi) Mối liên hệ giữa hữu ích và hàm
distortion
Tiếp nối các kết quả đã có, chúng tôi
tập trung tìm mối liên hệ giữa hàm hữu ích
và hàm distortion Từ đó, chúng tôi đi sâu
phân tích thái độ chấp nhận rủi ro ứng với
lớp các hàm distortion cụ thể
Về cấu trúc, nội dung bài báo gồm 6
phần Mục 1 giới thiệu về nguồn gốc bài
toán, các kết quả cũng như các vấn đề còn
hạn chế Mục 2 nhắc lại lý thuyết quyết
định truyền thống tiếp cận theo hàm hữu
ích và mục 3 là tiếp cận dựa trên các độ đo
rủi ro Về vấn đề xây dựng mối liên hệ giữa các hàm hữu ích và hàm trọng được trình bày trong mục 4 Đối với mục 5 là các kết quả chính của bài báo về thiết lập quan hệ và khảo sát các tính chất giữa hàm hữu ích và hàm distortion Cuối cùng trong mục 6, chúng tôi ứng dụng các kết quả ở mục 5 để phân tích thái độ chấp nhận rủi ro của người ra quyết định
2 Lý thuyết quyết định dựa trên
kỳ vọng hữu ích
Chúng ta hãy bắt đầu với câu hỏi "Tại
sao mỗi người ra quyết định hành động theo nhiều kiểu khác nhau khi đối mặt với cùng một tình huống rủi ro?" Rõ ràng, đây
là một câu hỏi quan trọng vì người ra quyết định thường có thái độ chấp nhận rủi ro riêng theo cá nhân của họ
Ở đây, mục tiêu là mô hình hóa và tiên đoán hành vi của người ra quyết định Hơn nữa, chúng ta cung cấp các công cụ để giúp
họ làm sao ra các quyết định hợp lý
Thông thường, hướng tiếp cận truyền thống là sử dụng hàm hữu ích Cụ thể hơn, quyết định dựa trên kỳ vọng hữu ích đạt được
Giả sử X và Y là số tiền lợi nhuận (hay
thua lỗ) trong một dự án đầu tư nào đó nhưng theo hai phương án khác nhau
Trong từng trường hợp, giả sử X có thể
nhận các giá trị x i i, 0,1, ,n với các xác suất tương ứng làp i i, 0,1, ,n Tương tự,
Y có thể nhận các giá trị y i i, 0,1, ,n với các xác suất tương ứng là q i i, 0,1, ,n
Với mỗi giá trị nhận được của X và Y,
người đầu tư có thể gán cho chúng một hữu ích bằng một hàm hữu ích chọn trước Chẳng hạn, ta gọi là hàm u x Khi đó,
nếu X nhận giá trị x i thì hữu ích đạt được là
i
u x (tương tự cho Y) và như thế kỳ vọng
hữu ích xác định theo lý thuyết xác suất và thống kê là
Trang 3
0
0
;
n
i n
i
Khi đó, người đầu tư sẽ chọn phương
án thứ nhất nếu E u X E u Y và ngược
lại Vấn đề ở đây có thể hỏi là tại sao người
đầu tư không sử dụng trực tiếp kỳ vọng của
X và Y rồi ra quyết định chọn lựa Câu trả
lời có thể có nhiều lý do sẽ đề cập sau và
một trong những lý do chính mà lý thuyết
hữu ích giải thích là người ra quyết định
phản ứng khác nhau khi đứng trước các
tình huống có rủi ro Do đó, hàm hữu ích là
một công cụ có thể mô hình hóa các thái độ
đó của họ
Nhắc lại, các thái độ chấp nhận rủi ro
của người ra quyết được phân loại theo
Pratt và các cộng sự (1964) và Arrow và
các cộng sự (1974) như sau:
(i) Trung tính với rủi ro (Risk neutral):
Tức là khi một người đứng trước hai tình
huống có rủi ro khác nhau và có cùng kỳ
vọngE X E Y , nhưng thái độ của họ
lại cảm thấy thờ ơ, không có gì khác nhau
(ii) Lo ngại rủi ro (Risk adverse): Nếu
một người đứng trước hai tình huống có rủi
ro khác nhau, có cùng kỳ vọng
E X E Y , thì họ sẽ lựa chọn phương
án có rủi ro thấp hơn
(ii) Thích rủi ro (Risk seeking): ngược
lại, nếu một người đối mặt với hai tình
huống có rủi ro khác nhau, có cùng kỳ
vọngE X E Y , thì họ sẽ ưu tiên lựa
chọn phương án có rủi ro cao hơn
Ví dụ: Nếu bạn được hỏi chọn lựa lấy
100 ngàn một cách chắc chắn hay chơi một
trò chơi: "Tung một đồng xu đồng chất, nếu
mặt ngửa xuất hiện bạn sẽ có 200 ngàn;
còn nếu mặt sấp xảy ra thì bạn không nhận được gì cả" Rõ ràng, kỳ vọng nhận được
tiền trong trò chơi cũng là 100 ngàn vì
200 0 100
2 2 Khi đó, nếu bạn trả lời
"Tôi không quan tâm, lựa chọn nào cũng
như nhau" thì bạn là người trung tính với
rủi ro; còn nếu bạn quyết định lấy 100 ngàn chochắc thì bạn thuộc nhóm người lo ngại rủi ro Nhưng nếu bạn quyết định chọn tham gia trò chơi để có cơ hội lấy được 200 ngàn thì bạn chính là người thích rủi ro
Mô hình hóa các thái độ chấp nhận rủi
ro trên có thể dựa trên các hàm hữu ích Trước hết, định nghĩa về chúng như sau:
Định nghĩa 2.1 (Hàm hữu ích) Một
hàm số 𝑢: 𝑅 → 𝑅 được gọi là một hàm hữu
ích nếu nó là một hàm không giảm
Tính chất không giảm của hàm hữu ích
là điều cần thiết vì nếu giả sử X chỉ nhận
hai giá trị x x với xác suất đều bằng 0.5 1, 2
và giả sử x1x2thì hiển nhiên các hữu ích cũng phải thỏa mãn u x 1 u x 2 Điều
đó có nghĩa là giá trị nào lớn hơn thì sẽ có hữu ích nhiều hơn và sẽ được thích hơn
1 2
1 2
max , 2
x x
x x
lựa chọn trung bình 1 2
2
x x
với khả năng
chắc chắn, thay vì chọn x hoặc 1 x với khả 2
năng 50% thì người đó là lo ngại rủi ro Nếu xét theo hữu ích thì họ cho rằng
Trang 4
nếu mô hình theo hàm hữu ích thì lo ngại
rủi ro được định nghĩa như sau:
Định nghĩa 2.2 (Lo ngại rủi ro)
Người ra quyết định được gọi là lo ngại rủi
ro nếu như hàm hữu ích (không giảm) u(x)
của họ thỏa mãn
, 2.1
u E X E u X
trong đó, X là một biến ngẫu nhiên không
suy biến, tức thỏa E X
Tương tự, chúng ta xét thái độ thích
rủi ro được mô tả theo hàm hữu ích như
sau:
Định nghĩa 2.3 (Thích rủi ro)
Người ra quyết định được gọi là thích rủi
ro nếu như hàm hữu ích (không giảm) u(x)
của họ thỏa mãn
, 2.2
u E X E u X
trong đó, X là một biến ngẫu nhiên không
suy biến, tức thỏa E X
Dễ thấy rằng, các bất đẳng thức (2.1)
và (2.2) có thể diễn đạt lại bằng tính chất
giải tích của hàm hữu ích như sau
Định lý 2.1 (Lo ngại rủi ro) Người ra
quyết định là người lo ngại rủi ro khi và
chỉ khi hàm hữu ích (không giảm) u(x) của
họ là một hàm lõm
Chứng minh định lý dựa vào bất đẳng
thức Jensen và độc giả có tham khảo thêm
trong [4] Hơn nữa, nếu giả sử các hàm hữu
ích u khả vi đến cấp hai thì tính lõm thể
hiện bằng đạo hàm cấp hai thỏa mãn
0,
u x x Chẳng hạn, xét u x ln x
Định lý 2.2 (Thích rủi ro) Người ra
quyết định là người thích rủi ro khi và chỉ
khi hàm hữu ích (không giảm) u(x) của họ
là một hàm lồi
Tương tự, nếu giả sử các hàm hữu ích
u khả vi đến cấp hai thì tính lồi thể hiện
bằng đạo hàm cấp hai thỏa mãn
0,
u x x Ví dụ xét 2
u x x
Ngược lại với lo ngại và thích rủi ro là thái độ trung tính với rủi ro Trường hợp này có thể đặc trưng bằng
u E X E u X
Chằng hạn, xét u x x (hàm tuyến tính)
Thêm nữa, để đặc trưng cho mức độ sự
lo ngại rủi ro, các tác giả Pratt (1964) và
Arrow (1974) cũng đã đưa ra hệ số lo ngại
rủi ro tuyệt đối (coefficients of absolute risk adversion) như sau
u x 2.3
r x
u x
Nếu r(x) > 0 thì u(x) đặc trưng cho lo
ngại rủi ro
Nếu r(x) < 0 thì u(x) đặc trưng cho
thích rủi ro
Nếu r(x) = 0 thì u(x) đặc trưng cho
trung tính rủi ro
3 Lý thuyết quyết định dựa trên các
độ đo rủi ro
Một cách khác để đưa ra quyết định là tiếp cận theo độ đo rủi ro Ở đây, chúng ta
xét X và Y là các biến ngẫu nhiên không
âm thể hiện số tiền tổn thất hay thua lỗ
(loss variable) tương ứng với hai phương
án đầu tư khác nhau Khi đó, nếu độ đo rủi
ro X Y , thì phương án đầu tư thứ nhất sẽ được thích hơn và được chọn Một trong những độ đo rủi ro thường dùng
là VaR (Value at Risk) và TVaR (Tail
Value at Risk) Chúng được nghĩa như sau
Định nghĩa 3.1 (VaR) VaR của một
danh mục đầu tư ở mức xác suất tại thời điểm t được định nghĩa là giá trị nhỏ nhất của x sao cho xác suất để tổn thất X t
Trang 5lớn hơn x , lớn nhất bằng Tức là”
𝑉𝑎𝑅𝛼(𝑋(𝑡)) = inf{𝑥 ∈ 𝑅: 𝑃(𝑋(𝑡) > 𝑥)
≤ 𝛼}
= inf{𝑥 ∈ 𝑅: 𝑃(𝑋(𝑡) ≤ 𝑥)
≥ 1 − 𝛼} (3.1)
Ví dụ 3.1: Xét một danh mục đầu
tư cổ phiếu có VaR 5% là 1 triệu đôla mỗi
tháng Điều đó có nghĩa là danh mục đầu
tư có khả năng bị tổn thất từ 1 triệu đôla trở
lên mỗi tháng với xác suất không quá 5%
Tuy VaR là chuẩn mực trong đo lường
và giám sát rủi ro thị trường nhưng nó vẫn
có những hạn chế nhất định Một trong
những khuyết điểm là độ đo rủi ro VaR
không có tính chất rất cần thiết trong khoa
học về đầu tư, đó là sự đa dạng trong đầu
tư, có nghĩa là người ta muốn đầu tư vào
nhiều danh mục nhưng rủi ro của tổng thể
các danh mục phải nhỏ hơn hoặc bằng tổng
các rủi ro thành phần Về mặt toán học, tính
chất này được gọi là bán cộng tính, tức là:
X Y X Y
Tiếp theo, độ đo rủi ro TVaR (Tail
Value at Risk) hay TCE (Tail Conditional
Expectation) cùng dạng với VaR nhưng
khắc phục được các hạn chế Nếu độ đo rủi
ro VaR được tính nhằm trả lời câu hỏi:
“Tổn thất nhỏ nhất phải chịu trong trường
hợp xấu nhất của đầu tư danh mục là bao
nhiêu?” thì độ đo rủi ro TVaR được tính
nhằm trả lời câu hỏi: “Tổn thất trung bình
phải chịu trong trường hợp xấu nhất của
đầu tư danh mục là bao nhiêu?”
Về mặt toán học tài chính, sau khi đã
tính VaR của danh mục, chúng ta quan tâm
tới những trường hợp tổn thất thực tế của
danh mục vượt ngưỡng VaR, kỳ vọng của
các tổn thất này gọi là TVaR
Định nghĩa 3.2 (TVaR)
Giả sử biến ngẫu nhiên X t là tổn
thất của các danh mục đầu tư và cho sẵn
mức xác suất 0;1 TVaR được định nghĩa như sau:
𝑇𝑉𝑎𝑅𝛼 (𝑋(𝑡)) = 𝐸(𝑋(𝑡)|𝑋(𝑡)
> 𝑉𝑎𝑅𝛼(𝑋(𝑡))) (3.2)
Một độ đo rủi ro thứ ba là độ đo rủi ro
phổ (spectral risk measure)
Định nghĩa 3.3 (Độ đo rủi ro phổ)
Giả sử X là một tổn thất không âm
và có hàm phân phối là F X Khi đó, độ đo rủi ro phổ của X được xác định như sau:
0
trong đó, 1
X
F là hàm phân vị
(quantile) của X và
p
là một hàm trọng (weighting
function) thỏa mãn ba tính chất sau:
i) Không âm: p 0
ii) Chuẩn hóa: 1
0
1.
p dp
ii) Không giảm: p 0
Chúng ta biết rằng, kỳ vọng của X có
thể tính bằng
0
Như vậy, độ đo rủi ro phổ thực chất là
kỳ vọng có trọng số của X Ở đây, hàm
trọng p là do người ra quyết định tự
chọn lựa khi họ cần định lượng tổn thất X
Do đó, hàm trọng cũng thể hiện thái độ chấp nhận rủi ro của người ra quyết định
Vì vậy, rõ ràng là hàm trọng có mối liên hệ với hàm hữu ích Ở mục 4, chúng ta sẽ nói
về quan hệ này
Ngoài ra, độ đo VaR hay TVaR đều
có thể biểu diễn qua độ đo rủi ro phổ Chính xác là:
Trang 6
1
1 1
; 1
1
X
X
Hiện nay, người ta xây dựng khá nhiều
độ đo rủi ro Tuy nhiên, để X nào đó
là một độ đo rủi ro thì chúng cần phải thỏa
mãn một số tính chất cần thiết sau đây và
khi đó X còn được gọi là độ đo rủi ro
coherent (coherent risk measure):
Định nghĩa 3.4 (Độ đo rủi ro
coherent)
Giả sử X và Y là các biến ngẫu nhiên
tổn thất Khi đó, được gọi là độ đo rủi
ro coherent nếu nó thỏa mãn các tiên đề
sau:
i) Tính đơn điệu: Nếu X Y thì
X Y
ii) Tính thuần nhất: Với a > 0 thì
aX a X
iii) Tính bất biến dịch chuyển: Với c
𝑅, thì Xc X c.
iv) Tính bán cộng tính:
X Y X Y
Các tính chất (i), (ii), (iii) và (iv) có ý
nghĩa như sau:
(i) Xét các biến ngẫu nhiên tổn thất,
biến nhỏ hơn sẽ có rủi ro nhỏ hơn
(ii) Rủi ro của tổn thất tài chính sẽ tỷ lệ
với kích cỡ của rủi ro Nghĩa là, danh mục có
quy mô càng lớn thì rủi ro càng cao
(iii) Nếu bổ sung thêm các tài sản phi
rủi ro giá trị c thì mức độ rủi ro giảm đi là
c, tức là X X c c
(iv) Khi kết hợp nhiều danh mục đầu
tư trong một phương án đầu tư thì rủi ro
phải nhỏ hơn so với việc đầu tư riêng lẻ
từng danh mục
Người ta đã kiểm tra được rằng TVaR
là coherent, còn VaR thì không coherent
Một đại lượng đặc trưng thống kê nữa cũng
thỏa mãn các tính chất coherent là kỳ vọng
E(X) Tuy nhiên, kỳ vọng không sử dụng
như là độ đo rủi ro vì kỳ vọng là "khách
quan", trong khi việc đưa ra quyết định phụ
thuộc vào chủ quan của người ra quyết định Do đó, thay vì đi tính kỳ vọng dưới
dạng, (chú ý X 0)
người ta sử dụng phép biến đổi g sau đây
để định lượng rủi ro X:
0
1 , 3.4
trong đó, g: 0;1 0;1 , là một hàm không giảm và thỏa mãn 𝑔(0) = 0,
𝑔(1) = 1 được gọi là một hàm biến dạng (distortion function) và M g (X) xác định một
độ đo rủi ro distortion Để M g thỏa mãn
tính chất coherent thì nó còn phụ thuộc vào
tính chất của hàm distortion g
Định lý 3.1 Độ đo rủi ro distortion
M g cho bởi (3.4) là coherent khi và chỉ khi
g là một hàm lõm
Ngoài ra, VaR và TVaR cũng có thể
được biểu diễn qua độ đo rủi ro distortion
Cụ thể,
0
với ;1
0, 0 1
1, 1
t
t
0
với g t min 1, t
Rõ ràng, hàm distortion có chứa đựng các thái độ chấp nhận rủi ro của người ra quyết định Đây là vấn đề chính của bài
Trang 7báo và sẽ được khảo sát ở mục 6
Một lớp độ đo rủi ro tổng quát đó là
tích phân Choquet được định nghĩa
trong đó, là hàm khả năng (capacity
function) xác định trên trường của các sự
kiện sơ cấp, tức là : 0;1 sao cho
0, 1,
và đơn điệu tăng:
nếu A B thì ta có A B
Dễ thấy rằng, nếu ta chọn g P
thì rõ ràng tích phân Choquet biểu diễn
cho độ đo rủi ro distortion Hơn nữa, nếu
hàm g trùng với hàm distortion của VaR và
TVaR thì VaR và TVaR cũng là một tích
phân Choquet Tổng quát, độ đo rủi ro phổ,
độ đo rủi ro distortion và tích phân
Choquet có mối liên hệ sau:
Định lý 3.2 Giả sử R X là một độ đo
rủi ro phổ được cho ở (3.3) Khi đó, ta có:
trong đó, hàm capacity g P ,với g là
hàm distortion có dạng
1
0
g p s ds
4 Mối liên hệ giữa hàm hữu ích và
hàm trọng
Qua các mục 2 và mục 3, chúng ta
thấy rằng các hàm hữu ích cũng như hàm
trọng sử dụng trong độ đo rủi ro phổ đều
có thể đặc trưng cho thái độ chấp nhận rủi
ro của người ra quyết định Vì vậy, chúng
có mối liên hệ với nhau và bài toán được
giải quyết thông qua thống kê robust Cụ
thể, để tìm hàm trọng từ hàm hữu ích hoặc
ngược lại, trong [5] các tác giả đã thực hiện
tính toán như sau
4.1 Từ hàm hữu ích tìm hàm trọng
Bước 1: Tìm một hàm bổ trợ f(x)
0
exp x , 4.1
c
với c0 là một hằng số được chọn thích hợp
Bước 2: Ta tìm hàm F(x) thỏa
x
Bước 3: Tìm một hàm M(p) theo
công thức
1
4.2
Bước 4: Chúng ta tính hằng số
chuẩn hóa I bằng tích phân
1
def
và ta được hàm trọng có dạng
p M p 4.4
I
Khi đó, độ đo rủi ro phổ được xác định theo sau
với F X (x) là hàm phân phối xác suất của X
4.2 Từ hàm trọng tìm hàm hữu ích
Nếu biết hàm trọng p , ta có thể
tìm hàm hữu ích u(x) bằng cách sử dụng
liên hệ
M F x u x và I. p M p
Bước 1: Tìm hàm F(x) và giá trị
chuẩn hóa I bằng cách giải phương trình sau:
(3.5)
(4.5)
Trang 8
4.6
F x
F x
Bước 2: Tìm hàm f(x) bằng đạo hàm
của F(x) f x F x
Bước 3: Cuối cùng ta được hàm hữu
ích u x f x 4.7
f x
5 Mối liên hệ giữa hàm hữu ích và
hàm distortion
5.1 Tìm hàm distortion thông qua
hàm hữu ích
Theo định lý 3.2 thì ta có mối quan hệ
giữa hàm trọng và hàm distortion như sau:
0
hay
p g 1 p 5.1
Do đó, chúng ta hoàn toàn có thể xác
định mối liên hệ giữa hàm hữu ích và các
hàm distortion Đầu tiên, ta có một mệnh
đề sau:
Mệnh đề 5.1 Giả sử u là một hàm hữu
ích không giảm Khi đó, u thỏa mãn đẳng
thức
2
với F'= f xác định bởi (4.1)
Chứng minh:
Vì u là hàm không giảm nên hàm u tồn
tại đạo hàm hầu khắp nơi Sử dụng (4.7) và
tích phân từng phần ta được
2
2
2 '
.
f x
f x
f x
f x
f x u x dF x
F x u x dF x
Tìm hàm distortion qua hàm hữu ích được thực hiện thông qua một số bước biến đổi và sử dụng mệnh đề trên Thật vậy,
1
1
0 1
1 0
1
1
1 1
1
p
p
g p s ds
u F s ds I
u x dF x I
trong đó,
x
t c
F x u s ds dt
Áp dụng (5.2) và đặt c = 1/I, ta có
thêm một biểu thức thứ hai xác định hàm distortion
Nhận xét:
i) Từ (5.3), ta có đẳng thức
1 1
= 1 5.5
F p
u x dF x I g p
ii) Nếu hàm hữu ích u có đạo hàm tới cấp
hai thì khi đó bằng cách sử dụng tích phân từng phần cho (5.3), ta được một công thức thứ ba để tìm hàm distortion
(5.4)
(5.6)
Trang 9Ta xét một số ví dụ
Ví dụ 5.1: Cho hàm hữu ích
u(x) = x Tìm hàm distortion tương ứng?
Ta có,
0
2 1
1
2
t c
2
c
thì F(x) là hàm phân phối
chuẩn tắc Do đó, ta tính được giá trị I = 1
Khi đó, sử dụng (5.3) và ta nhận được
hàm distortion tương ứng g(p) = p
Ví dụ 5.2: Cho hàm hữu ích
0, 2 0,
, 0,
khi x
u x x
khi x x
Tìm hàm distortion tương ứng?
Khi x > 0, ta viết lại u(x) như là một
trường hợp riêng của hàm hữu ích lũy thừa
2
1,
u x
x
Nhắc lại, hàm hữu ích lũy thừa có
dạng
, 1 5.7 1
k x
U x
Ở đây, ta xét = 2, k = 2 để nhận
được hàm u(x) trong Ví dụ 5.2 này
Khi đó, ta có
0
2
x
c
f x dt c x e c x e
t
Chọn c1 = 1/(3) = 1/2 thì f(x) chính là
hàm mật độ xác suất Gamma với tham số
hình dạng (shape) bằng 3 và tham số tỷ lệ
(scale) bằng 1 Vì thế, ta có:
2 2
0
x
F x x t e dt x x e
trong đó, (s) và , x) lần lượt là hàm
Gamma và Gamma không đầy đủ dưới
(lower incomplete gamma)
1 0 1 0
, 5.8
, 5.9
s t
x t
s t e dt
x t e dt
Do đó, F-1
(p) là phân vị của hàm phân
phối Gamma Cụ thể,
F p p p
Tiếp theo, giá trị I = 1 Sử dụng công thức (5.3), ta nhận được hàm distortion
exp 3, 2 5.10
g p p
Đồ thị của g(p) được cho ở dưới và ta thấy rằng g(p) là một hàm lồi, g"(p) > 0
Hình 1 Đồ thị hàm distortion g(p) =
exp(- -1
(3, 2p))
Ví dụ 5.3: Cho hàm hữu ích u(x)
với các tham số k >1 và > 0,
0, 0,
khi x
u x k
khi x
x
Tìm lớp hàm distortion tương ứng?
Ta xét Ví dụ 5.3 là mở rộng của Ví dụ 5.2
Ta có
Trang 10
0
1 1 1
x
c
k
t
Chọn
1
1
k
c
k
thì f(x) chính là hàm mật độ xác suất
Gamma với tham số hình dạng (shape)
bằng k+1 và tham số tỷ lệ (scale) bằng 1/
(còn là tham số tốc độ (rate parameter))
Để thuận tiện, chúng ta ký hiệu hàm phân
phối xác suất Gamma với tham số hình
dạng và tham số tỷ lệ bằng (x; , )
0
1
; , 5.11
x t
Khi đó, ta có
; 1,
Do đó, F-1
(p) là phân vị của hàm phân phối Gamma với shape = k+1 và scale
= 1/
; 1,
F p p k
Chú ý rằng theo Ví dụ 5.2 thì F(x)
cũng có thể viết dưới dạng hàm Gamma
không đầy đủ dưới như sau:
1
1, 1
Tiếp theo, giá trị I được tính
2
1
I
k
Sử dụng công thức (5.3) và đặt = 1/,
ta nhận được lớp hàm distortion tương ứng
trong đó, x; , là phân phối đuôi (tail) Gamma, x; , 1 x; ,
Với trường hợp đặc biệt ở Ví dụ 5.2, k
= 2 và = 1 thì
g p p p
Hình 2 Đồ thị hàm distortion
Từ ví dụ 5.3 và biểu thức (5.12), chúng tôi đề nghị xây dựng thêm một lớp hàm distortion dạng Gamma Nhắc lại rằng trong [7], S.Wang cũng đã xây dựng một lớp hàm distortion dạng phân phối chuẩn như sau:
1
Định nghĩa 5.1 (Hàm dual-gamma
distortion) Hàm dual-gamma distortion là
một hàm phụ thuộc vào 4 tham số dương
1, ,1 2, 2
được định nghĩa như sau:
Hàm đối ngẫu của dual-gamma
distortion là một hàm phân phối gamma
Thật vậy,
1 1 2 2
1 1 ; , ; , , 0;1
G p G p p p
(5.12)
(5.13)