Dưới góc nhìn của khoa học pháp lý, Tác giả phân tích những luận cứ của sự bất cập về quy trình xử lý các hành vi Cạnh tranh không lành mạnh của pháp luật cạnh tranh năm 2004, đồng thời đề xuất những kiến nghị để tiếp tục hoàn thiện pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, phục vụ đắc lực cho việc hội nhập kinh tế thế giới mà nước ta là thành viên.
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 10 (35) - Tháng 12/2015
Một số bất cập cần sửa đổi trong quy trình xử lý các
vụ việc cạnh tranh khơng lành mạnh theo quy định pháp luật cạnh tranh hiện hành của Việt Nam
Proposals for improvement of the law against unfaircompetition in Viet Nam
TS Hồ Xuân Thắng Trường Đại học Sài Gịn Ph.D Ho Xuan Thang Sai Gon University
Tĩm tắt
Dưới gĩc nhìn của khoa học pháp lý, Tác giả phân tích những luận cứ của sự bất cập về quy trình xử lý các hành vi Cạnh tranh khơng lành mạnh của pháp luật cạnh tranh năm 2004, đồng thời đề xuất những kiến nghị để tiếp tục hồn thiện pháp luật chống cạnh tranh khơng lành mạnh ở Việt Nam, phục vụ đắc lực cho việc hội nhập kinh tế thế giới mà nước ta là thành viên
Từ khĩa: sửa đổi, bổ sung quy trình xử lý hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh của nước ta, những bất cập
của pháp luật cạnh tranh hiện hành về quy trình xử lý hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh của Việt Nam…
Abstract
In the perspective of jurisprudence, the author analyzes the arguments over the inadequacies of the process of acts of unfaircompetition law in 2004 and proposes recommendations to improve the law against unfaircompetition in Viet Nam, serving effectively the process of global economic integration
Keywords: perspective of jurisprudence, unfaircompetition law…
Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội
thơng qua ngày 3-12-2004, cĩ hiệu lực vào
ngày 01-7-2005, đĩng gĩp rất quan trọng
đối với việc điều chỉnh hầu hết các quan hệ
kinh tế trên thương trường, bảo đảm cho sự
lành mạnh của các quan hệ cạnh tranh vốn
đang diễn biến phức tạp với sự biểu hiện
của rất nhiều hành vi cạnh tranh khơng
lành mạnh trong một nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam Tuy nhiên, nhiều nội dung
quy định trong luật và văn bản hướng dẫn
thi hành luật này đã được ban hành, chủ
yếu tập trung làm rõ, giải thích các quy
định điều chỉnh đối với các hành vi hạn chế
cạnh tranh, mà ít chú ý đến các quy định điều chỉnh hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh nĩi chung và quy trình xử lý các hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh nĩi
riêng Chính vì thế mà việc điều chỉnh loại
hành vi này đã gặp rất nhiều khĩ khăn trong việc triển khai áp dụng vào thực tiễn suốt 10 năm qua
Do vậy, việc nghiên cứu những quy định về quy trình xử lý các hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh của pháp luật cạnh tranh năm 2004 để sửa đổi bổ sung nhằm hồn thiện pháp luật chống cạnh tranh khơng lành mạnh ở Việt Nam là rất cần
Trang 2thiết Dưới góc nhìn của khoa học pháp lý,
chúng tôi mạnh dạn đưa ra những luận cứ
liên quan đến quy trình xử lý các vụ việc
cạnh tranh không lành mạnh trong pháp
luật cạnh tranh hiện hành và một số kiến
nghị hoàn thiện các quy định đó trên
phương diện cùng nhau trao đổi
Thứ nhất: Căn cứ điều tra vụ việc
cạnh tranh khiếu nại vụ việc cạnh tranh
Theo quy định tại Điều 86 của luật
cạnh tranh hiện hành, có hai căn cứ để tiến
hành điều tra một vụ việc cạnh tranh nói
chung và cạnh tranh không lành mạnh nói
riêng, cụ thể được quy định như sau: “Việc
điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh được tiến
hành theo quyết định của Thủ trưởng cơ
quan quản lý cạnh tranh trong những
trường hợp sau đây: 1 Hồ sơ khiếu nại vụ
việc cạnh tranh đã được cơ quan quản lý
cạnh tranh thụ lý; 2 Cơ quan quản lý cạnh
tranh phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy
định của Luật này.”
Như vậy theo nội dung quy định tại
Khoản 1, Điều 86, chúng ta có thể thấy
trình tự, thủ tục áp dụng đối với các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh được bắt
đầu từ khi cơ quan quản lý cạnh tranh thụ
lý hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh Tại
Điều 58 Luật Cạnh tranh 2004 chỉ rõ, khi
tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích
hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi
vi phạm quy định của Luật có quyền khiếu
nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh Tổ
chức, cá nhân có quyền khiếu nại về những
hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đồng
thời cũng có quyền khiếu nại cả những việc
làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng
cạnh tranh của các cơ quan và người có
thẩm quyền hoặc bất cứ cá nhân nào thuộc
các cơ quan đó, nếu như tổ chức, cá nhân
cho rằng việc vi phạm đó xâm phạm đến
quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trường hợp các vi phạm này không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của họ thì cũng có quyền làm đơn tố cáo về hành
vi vi phạm theo quy định của pháp luật khiếu nại, tố cáo Thời hiệu khiếu nại theo
quy định của Luật Cạnh tranh là 2 năm kể
từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 74 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh ngày 15/9/2005, có hiệu lực ngày 30/9/2005 thì: Để được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý vụ việc, người khiếu nại phải làm đơn và nộp tiền tạm ứng chi phí cho việc giải quyết vụ việc cạnh tranh Đơn khiếu nại có nội dung theo mẫu của cơ quan quản lý cạnh tranh, theo đó phải có: ngày tháng năm làm đơn; tên cơ quan quản lý cạnh tranh; họ tên địa chỉ của bên làm đơn khiếu nại, bên bị khiếu nại và của người có quyền, nghĩa vụ liên quan, những vấn đề cụ thể yêu cầu cơ quan quản lý cạnh tranh giải quyết; họ tên địa chỉ của người làm chứng (nếu có), các thông tin liên quan mà bên khiếu nại xét thấy cần thiết cho việc giải quyết vụ việc cạnh tranh Bên khiếu nại là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; nếu là tổ chức nộp đơn khiếu nại thì đại diện hợp pháp của tổ chức đó phải
ký tên và đóng dấu
Mức tạm ứng chi phí, Điều 53 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Cạnh tranh
ngày 15/9/2005, có hiệu lực ngày 30/9/2005, đã quy định mức tạm ứng chi phí giải quyết vụ việc cạnh tranh không lành mạnh mà người khiếu nại phải nộp bằng 30% mức phí giải quyết vụ việc cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tức là bằng 30% của 10.000.000 đồng Chứng cứ phải đảm bảo
Trang 3tính trung thực, Điều 76 Nghị định
116/2005/NĐ-CP Quy định chi tiết một số
điều của Luật cạnh tranh, có nêu rõ: Bên
khiếu nại có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
để chứng minh hành vi bị khiếu nại đã xâm
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của
mình Chứng cứ có thể là vật chứng, nhưng
phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc
hoặc là lời khai của người làm chứng, giải
trình của tổ chức cá nhân liên quan hay tài
liệu gốc, bản sao tài liệu gốc, bản dịch tài
liệu gốc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
cung cấp, xác nhận; kết quả giám định hợp
pháp Bên khiếu nại phải đưa ra chứng cứ
để chứng minh cho khiếu nại, yêu cầu đó
của mình là có căn cứ và hợp pháp Sau khi
nhận được đơn của bên khiếu nại và nộp
tạm ứng chi phí cho việc giải quyết vụ việc
hợp lệ, trong thời hạn 7 ngày làm việc kể
từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý
cạnh tranh có trách nhiệm xem xét và
thông báo cho bên khiếu nại biết về việc có
thụ lý hay trả lại hồ sơ cho bên khiếu nại
nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền
điều tra, giải quyết của cơ quan quản lý
cạnh tranh Cơ quan cạnh tranh sẽ tiến
hành điều tra tiền tố tụng nhằm đánh giá lại
hành vi của doanh nghiệp trong trường hợp
thông qua rà soát thị trường, cơ quan điều
tra tự phát hiện hành vi vi phạm của doanh
nghiệp trên thị trường có dấu hiệu vi phạm
Luật Cạnh tranh Thủ trưởng cơ quan điều
tra sẽ quyết định tiến hành điều tra vụ việc
theo thủ tục tố tụng cạnh tranh, sau quá
trình điều tra tiền tố tụng, nếu xét thấy thực
sự có dấu hiệu vi phạm Luật cạnh tranh
Kiến nghị: - Sửa lại nội dung quy
định tại Điều 58 Luật cạnh tranh theo
hướng “Trường hợp các vi phạm này
không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và
lợi ích của họ thì cũng có quyền làm đơn
tố cáo về hành vi vi phạm theo quy định
của pháp luật tố cáo” Bởi vì cho đến thời
điểm này, luật khiếu nại, luật tố cáo năm
2004 đã hết hiệu lực thi hành và thay vào
đó là việc Quốc hội khóa XIII thông qua hai luật khiếu nại và tố cáo riêng biệt làm
cơ sở để các cá nhân, cơ quan, tổ chức thể hiện quyền cao nhất của mình, nhất là trong việc giải quyết các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh Nếu không sửa đổi bổ sung cụ thể việc áp dụng luật tố cáo năm 2011 trong quy định tại Điều 58 của
Luật cạnh tranh hiện hành thì việc khiếu
nại, tố cáo trong việc xử lý cạnh tranh nói chung và cạnh tranh không lành mạnh nói riêng sẽ là những văn bản lỗi thời, không khoa học
- Về Thời hiệu khiếu nại theo quy định
của Luật Cạnh tranh là 2 năm kể từ ngày
hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện, quy định tại Luật cạnh tranh là chưa phù hợp Đối với lĩnh vực cạnh tranh không lành mạnh, theo
ý kiến chúng tôi cần thiết phải nâng thời hiệu khiếu nại từ 24 tháng lên thành 36 tháng là hợp lí Bởi vì, hậu quả từ các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể tham gia kinh doanh, hoạt động thương mại gây ra cho nhà nước, các doanh nghiệp
và người tiêu dùng là rất lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nếu để thời hiệu khiếu nại 2 năm như hiện nay thì rất ngắn không kịp phát hiện và xử lý các vụ việc vi phạm có
sự rủi ro lớn, tiêu cực mạnh từ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thực tiễn Kinh nghiệm của Liên bang Nga cho thấy: “Đưa ra các thông tin không chính xác về hàng hóa hoặc nhà sản xuất cũng là hành vi vi phạm quy định pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh” và
“thời hiệu xử lý từ 3 năm đếm 5 năm kể từ ngày hành vi đó bị phát hiện”(3)
Trang 4Thứ hai: Xử lý đối với các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh
Theo quy định của pháp luật cạnh
tranh hiện hành, các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh được xử lý theo những
trình tự sau đây: Sau khi kết thúc điều tra,
xác định là có hành vi cạnh tranh không
lành mạnh vi phạm quy định của Luật
Cạnh tranh, điều tra viên sẽ đề nghị Thủ
trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh ra quyết
định xử lý
Theo hướng dẫn tại quy định của Nghị
định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của
Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực cạnh tranh thì: Hình
thức xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh
gồm các hình thức xử phạt và các biện
pháp khắc phục hậu quả Đối với mỗi hành
vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, tổ chức,
cá nhân kinh doanh vi phạm phải chịu một
trong các hình thức xử phạt chính là phạt
cảnh cáo hoặc phạt tiền Ngoài ra, tuỳ theo
tính chất và mức độ vi phạm còn có thể bị
áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt
bổ sung như: tịch thu tang vật, phương tiện
được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật về cạnh tranh
Tại Điều 4 Nghị định
120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy
định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực cạnh tranh thì, ngoài các hình thức xử
phạt chính và bổ sung nêu trên, tổ chức, cá
nhân kinh doanh vi phạm pháp luật về cạnh
tranh không lành mạnh còn có thể bị áp
dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục
hậu quả như: buộc cải chính công khai
Mức phạt tiền đối với các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh được quy định cụ
thể như sau: Mức phạt tiền thấp nhất là 5
triệu đồng và cao nhất là 20 triệu đồng, đối
với hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn, gièm
pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp khác
Ngoài việc bị phạt tiền, tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả như: tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng
để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm; buộc cải chính công khai Đối với hành vi xâm phạm
bí mật kinh doanh, hành vi ép buộc trong kinh doanh:mức phạt từ thấp nhất là 5 triệu đồng và cao nhất là 20 triệu đồng Ngoài ra còn có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm, bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm Đối với các hành vi quảng cáo, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh: mức phạt tiền đối với hành vi này cao hơn các hành vi Cạnh tranh không lành mạnh khác như đã nêu trên là 50 triệu đồng, thấp nhất là 15 triệu đồng
Ngoài ra, hành vi này còn có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm hoặc buộc cải chính công khai Đối với hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội thì mức phạt tiền thấp nhất là 15 triệu đồng và cao nhất cũng là 50 triệu đồng Tuy vậy chủ thể thực hiện hành vi này không bị áp dụng các biện pháp xử phạt bổ sung hoặc biện pháp khắc phục hậu quả
Xử phạt đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính: mức phạt tiền đối với hành
vi này là cao nhất so với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác khác, thấp nhất là 50 triệu đồng và cao nhất là 100 triệu đồng Bên cạnh đó, còn có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để
Trang 5thực hiện hành vi vi phạm bao gồm tịch thu
toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc
thực hiện hành vi vi phạm và hoặc buộc cải
chính công khai
Kiến nghị: Các hành vi vi phạm Luật
chống cạnh tranh không lành mạnh của Đài
Loan (4), có thể bị phạt án tù đến 10 năm
hoặc tiền phạt đến 10 triệu yên, hoặc án tù
đến 5 năm và phạt tiền đến 5 triệu Yên
Cần học tập kinh nghiệm để sửa đổi, bổ
sung mức xử phạt vi phạm bằng tiền đối
với các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong Nghị định 120/2005/NĐ-CP
ngày 30-9-2005 của Chính phủ quy định về
xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
cạnh tranh Tại vì các mức tiền phạt được
quy định trong nghị định này liên quan đến
hành vi cạnh tranh không lành mạnh chưa
tương xứng với mức độ hành vi vi phạm
của các chủ thể tham gia kinh doanh hoạt
động thương mại trong thị trường Đặc biệt
là hành vi bán hang đa cấp bất chính, Luật
Cạnh tranh quy định cấm doanh nghiệp yêu
cầu người muốn tham gia phải đặt cọc
hoặc phải trả một khoản tiền để được
quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa
cấp Lập luận mà các doanh nghiệp bán
hàng đa cấp đưa ra để bảo vệ cho những
yêu cầu của mình là các nghĩa vụ đặt cọc
hay trả tiền của người tham gia được coi
như biện pháp bảo đảm an toàn, uy tín,
bình đẳng trong kinh doanh, là ràng buộc
vật chất để bảo đảm người tham gia phải
tôn trọng uy tín của doanh nghiệp và của
sản phẩm Tuy nhiên dưới góc độ lý thuyết,
sự chiếm dụng của hành vi được lý giải
thông qua các căn cứ sau: Thứ nhất: Người
tham gia mạng đa cấp chỉ là người tiếp thị
để bán lẻ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp
Với tư cách của mình, người tham gia tiến
hành tiếp thị sản phẩm đến với khách hàng
Doanh nghiệp không ký gửi hàng hóa cho
người tham gia để bán dùm Khi người tham gia trực tiếp bán lẻ hàng hóa cho khách hàng, họ phải thực hiện theo phương thức mua đi bán lại để hưởng phần chênh lệch Vì vậy, nghĩa vụ đặt cọc hay trả tiền cho việc tham gia là không có căn cứ Thứ hai: Thực chất của bán hàng đa cấp là người tham gia tiếp thị sản phẩm giúp doanh nghiệp và được hưởng lợi ích từ kết quả tiếp thị, bán hàng của mình và của mạng lưới do mình tổ chức ra Do đó, quan
hệ qua lại về lợi ích và nghĩa vụ giữa doanh nghiệp với người tham gia thực sự chỉ phát sinh khi người tham gia thực hiện việc tiếp thị sản phẩm Việc gia nhập mạng lưới chưa đem lại cho người tham gia bất
cứ lợi ích gì, nên chưa thể ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với họ; Thứ ba: Việc đặt cọc trong các giao dịch phát sinh trên thị trường là biện pháp bảo đảm vật chất mà các chủ thể phải thực hiện với nhau nhằm đảm bảo cho việc thực hiện một nghĩa vụ; việc trả tiền là nghĩa vụ thanh toán của một chủ thể cho việc được hưởng một lợi ích ngang giá Vì vậy, việc doanh nghiệp buộc người muốn tham gia phải thực hiện các nghĩa vụ nói trên như một điều kiện để xem xét việc có được tham gia mạng lưới hay không là trái với bản chất của việc đặt cọc hay của nghĩa vụ trả tiền trong các thương vụ Từ các lý lẽ trên, những khoản tiền mà doanh nghiệp có được từ nghĩa vụ
vô lý đã áp đặt cho người muốn tham gia là những khoản tài chính mà doanh nghiệp đã
chiếm dụng được.Bản chất của bán hang đa
cấp bất chính là chiếm dụng vốn, nếu chỉ quy định mức phạt từ thấp nhất là 50 triệu đồng đến 100 triệu cho việc bán hàng đa cấp bất chính là chưa hợp lý với những tác hại nêu trên Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần phải xây dựng lại mức xử phạt đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói
Trang 6chung và đặc biệt là hành vi bán hàng đa
cấp bất chính để nhằm đủ sức răn đe,chấm
dứt hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong quá trình đầu tư kinh doanh hoạt
động thương mại của các chủ thể tham gia
vào nền kinh tế thị trường của nước ta
Thứ ba: Thẩm quyền của cơ quan
xử lý cạnh tranh không lành mạnh
Bước vào những năm đầu thế kỷ 21 và
cũng là giữa thập niên thứ hai của quá trình
đổi mới (kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ 6 năm 1986), các nhà làm luật nước ta
đã đặt ra nhiệm vụ trọng yếu là phải xây
dựng một đạo luật cạnh tranh mang tầm
vóc của một đạo luật căn bản trong cấu trúc
của pháp luật thương mại Do đó, trên cơ
sở tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng
luật cạnh tranh ở các nước tiêu biểu trên
thế giới, Luật Cạnh tranh đầu tiên của Việt
Nam đã được ban hành năm 2004 Gắn liền
với quá trình hình thành pháp luật cạnh
tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh của nước
ta cũng được ra đời trên tinh thần xây dựng
và bảo vệ các thiết chế kinh tế, thúc đẩy,
giám sát các hoạt động kinh tế để tạo môi
trường kinh doanh cạnh tranh lành mạnh,
bình đẳng
Năm 2003, Bộ trưởng Bộ Thương mại
đã thành lập Ban Quản lý cạnh tranh Ngày
26-02-2004, để triển khai Nghị định số
29/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định
chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Bộ Thương mại, Bộ trưởng Bộ
Thương mại đã ban hành Quyết định số
0235/2004/QĐ-BTM thành lập Cục Quản
lý cạnh tranh trên cơ sở Ban Quản lý cạnh
tranh Theo Quyết định số
1808/2004/QĐ-BTM ngày 06-12-2004 của Bộ trưởng Bộ
Thương mại thì Cục Quản lý cạnh tranh là
cơ quan thuộc Bộ Thương mại (nay là Bộ
Công thương) có chức năng giúp Bộ
trưởng thực hiện quản lý nhà nước về cạnh
tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự
vệ và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Vào thời điểm, Luật Cạnh tranh đã được
Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực vào ngày 01-07-2005 Ngày 09-01-2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2006/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh Bên cạnh đó, theo quy định của Luật này, đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, Cục Quản lý cạnh tranh chỉ đảm nhận vai trò điều tra, thu thập, tìm kiếm các chứng cứ có liên quan đến vụ việc, còn việc xét xử, xử lý, đưa ra các quyết định, giải quyết khiếu nại có liên quan đến vụ việc cạnh tranh thì do Hội đồng cạnh tranh (Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh) đảm nhận Hội đồng cạnh tranh
là cơ quan do Chính phủ thành lập gồm từ
11 đến 15 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh cũng được Thủ tướng bổ nhiệm, miễn nhiệm trong số thành viên của Hội đồng cạnh tranh theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại Ngày 09-01-2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2006/NĐ-CP về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh Ngày 12-06-2006, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 843/QĐ-TTg bổ nhiệm 11 thành viên Hội đồng cạnh tranh Thành viên Hội đồng cạnh tranh là đại diện của các bộ: Bộ Thương mại, Bộ Tư Pháp, Bộ Tài chính,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư,… Hội đồng cạnh tranh gồm 01 Chủ tịch, giúp việc cho Chủ tịch có 02 Phó Chủ tịch Để giúp việc cho Hội đồng, ngày 28-08-2006, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã có Quyết định số
Trang 71378/QĐ-BTM thành lập Ban Thư ký Hội
đồng cạnh tranh Ban Thư ký gồm 8 người
làm việc chuyên trách Tháng 01/2009,
Thủ tướng Chính phủ đã bổ nhiệm thêm 5
thành viên nâng tổng số thành viên Hội
đồng cạnh tranh lên 16 người
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 49
Luật cạnh tranh hiện hành thì Cơ quan
quản lý cạnh tranh có nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây: a) Kiểm soát quá trình tập trung
kinh tế theo quy định của Luật này; b) Thụ
lý hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ; đề xuất ý
kiến để Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết
định hoặc trình Thủ tướng Chính phủ quyết
định; c) Điều tra các vụ việc cạnh tranh
liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh
và hành vi cạnh tranh không lành mạnh; d)
Xử lý, xử phạt hành vi cạnh tranh không
lành mạnh; đ) Các nhiệm vụ khác theo quy
định của pháp luật
Như vậy, cơ quan này có các nhiệm vụ
chính đó là kiểm soát các hành vi tập trung
kinh tế, điều tra các hành vi hạn chế cạnh
tranh và điều tra, xử lý xử phạt hành vi
cạnh tranh không lành mạnh của các chủ
thể tham gia hoạt động kinh doanh và
thương mại
Nhìn nhận dưới góc độ khoa học pháp
lý, mô hình Cục quản lý cạnh tranh mà quy
định trong pháp luật cạnh tranh hiện hành
có những bất cập và hạn chế như sau:
Một là, trong điều kiện mới được
thành lập chưa lâu, số lượng chuyên gia
cạnh tranh còn ít thì việc đào tạo, bồi
dưỡng điều tra viên, chuyên gia,… chỉ mới
đáp ứng được nhu cầu trước mắt và chất
lượng vẫn còn hạn chế Số lượng các điều
tra viên của Cục chưa đủ để đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng của cộng đồng doanh
nghiệp, hiệp hội và người tiêu dùng
Hai là, suốt thời gian hoạt động, Cục
quản lý cạnh tranh vẫn chưa có nhiều động
thái nhằm thể hiện vai trò của mình trong đời sống xã hội và chức năng chuyên biệt của nó trong hệ thống cơ quan nhà nước Theo một khảo sát của Cục Quản lý cạnh tranh được thực hiện từ 01-11-2008 đến 31-12-2008 mà luận án tiến sỹ của NCS Lê Tuấn Anh năm 2008 đã đề cập, cho thấy
hiểu biết của cộng đồng đối với Luật Cạnh tranh dừng lại ở mức “biết Luật Cạnh tranh mới ra đời và nhận thức về cơ quan
quản lý cạnh tranh cũng không khả quan hơn” Điều này xuất phát từ nguyên do kết quả hoạt động của Cục Quản lý cạnh tranh chưa tạo được con số ấn tượng, đáng chú ý của các giai tầng trong xã hội
Ba là, Cục Quản lý cạnh tranh được quy định quá nhiều chức năng, từ điều tra
xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, điều tra các hành vi hạn chế cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng đến quản lý nhà nước về chống bán phá giá, chống trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế Có một thực tế là không một cơ quan quản lý cạnh tranh nào trên thế giới được quy định nhiều chức năng, đặc biệt là bao gồm cả các chức năng thực thi pháp luật về các biện pháp đảm bảo công bằng trong thương mại quốc tế như Việt Nam Điều này đã dẫn đến tình trạng quá tải cho hoạt động của Cục quản
lý cạnh tranh trong thời gian qua, bị nhiều chi phối, chức năng quản lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn khá mờ nhạt, do đó việc góp phần minh bạch thị trường hàng hóa, bảo vệ nhà nước, các doanh nghiệp và người tiêu dùng hiệu quả chưa cao
Chúng tôi kến nghị: - Cần sửa đổi bổ sung một số quy định về cơ quan quản lý cạnh tranh trong Nghị định số 06/2006/NĐ-CP Ngày 09-01-2006, của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ
Trang 8quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản
lý cạnh tranh Trong đó, chú ý nhiều hơn
đến số lượng cán bộ, điều tra viên chuyên
trách có đủ trình độ, bản lĩnh nghề nghiệp
để thực hiện các cuộc điều tra xử lý
nghiêm minh các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh của các chủ thể tham gia hoạt
động kinh doanh, thương mại So với hiện
nay, số lượng thành viên Hội đồng cạnh
tranh bao quát chung về các hành vi cạnh
tranh trong cả nước chỉ có 16 là quá ít,
chưa thực sự thúc đẩy việc kiểm soát các
hành vi cạnh tranh trái quy định của các
chủ thể trong nền kinh tế thị trường Kinh
nghiệm của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cho
thấy: Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC)
là một cơ quan độc lập được thành lập bởi
Quốc hội vào năm 1938 để thực thi Đạo
luật thương mại liên bang Tại mục 5 của
Đạo luật FTC cấm các phương pháp không
lành mạnh và nó đã được sửa đổi vào năm
1941, cấm hành vi thương mại lừa đảo và
không lành mạnh, nếu các chủ thể tham gia
vi phạm hành vi này thì Ủy ban Thương
mại, cơ quan cao nhất sẽ có thẩm quyền xử
lý (5)
Bên cạnh đó, cần xây dựng luật điều
chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh
riêng biệt với hành vi hạn chế cạnh tranh, để
chức năng nhiệm vụ của cơ quan quản lí
cạnh tranh đối với hành vi cạnh tranh không
lành mạnh thật sự mạnh mẽ theo yêu cầu
thực tiễn phát triển Hiện tại, chức năng
nhiệm vụ của cơ quan quản lí cạnh tranh
được quy định tại Khoản 2 Điều 49 Luật
cạnh tranh hiện hành theo hướng rất rộng
và ôm đồm về hai lĩnh vực hạn chế cạnh
tranh và cạnh tranh không lành mạnh Vì
thế cho nên, các quy định về chức năng
thiếu tính chuyên sâu về điều chỉnh hành vi
không lành mạnh, thực sự là một rào cản
đối với việc bảo vệ người tiêu dung, bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp và của nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta Kinh nghiệm của Nhật Bản về ván đề này chúng tôi muốn nêu để tham khảo, cụ thể là Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Nhật ra đời khá sớm, từ những năm 1934, gồm 22 điều
và một số điều khoản bổ sung qua các lần sửa đổi điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thương trường kinh doanh thương mại Luật này đã thực sự đóng góp phần quan trọng lớn lao đối với việc điều chỉnh độc lập các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế nước Nhật bản trong suốt nhiều thập kỉ qua Cuối cùng là việc Cơ quan quản lí cạnh tranh (Cục quản lí cạnh tranh) cần phải tập trung tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh sâu rộng đến tất cả hiệp hội cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân Đặc biệt phải đẩy mạnh công tác điều tra xử lí và thông tin kịp thời đến công chúng về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra trong thị trường để nhằm mục đích khuyến cáo ngăn chặn các hành
vi vi phạm pháp luật cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể trong tương lai Theo
số liệu thống kê của Cục quản lí cạnh tranh thuộc Bộ Công thương về việc xử lý các vụ việc liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra trong cả nước suốt 10 năm qua chỉ vẻn vẹn có 138 vụ việc được xử lí Đây là những con số rất khiêm tốn, đó cũng là một trong những nguyên nhân các quy định của pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh chưa
sự đi vào thực tiễn đời sống xã hội Nếu làm tốt công tác này, chắc chắn nửa triệu doanh nghiệp đang hoạt động hiện nay trên
cả nước sẽ thực sự đi đúng quỹ đạo của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường để
Trang 9chung tay xây dựng phát triển đất nước ta
thật sự công bằng, dân chủ, văn minh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Luận án Tiến sỹ, đề tài Pháp luật về chống
cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam của
NCS Lê Tuấn Anh, năm 2008
2 Luật cạnh tranh năm 2004
3 Luật Liên bang số 2300-1 ngày 7 tháng 02
năm 1992 về “Bảo vệ người tiêu dùng”
4 Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của
Đài Loan “Có thể là đối tượng của các vụ kiện
dân sự, tức là lệnh đình chỉ và lệnh bồi thường
thiệt hại hoặc đối tượng phạt hình sự sẽ phụ
thuộc vào độ nghiêm trọng của vi phạm”
5 Luật Thương mại Liên bang FTC (USA) năm
1938, sửa đổi năm 1951 và 1992
6 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định chi
tiết Một số điều của Luật cạnh tranh
7 Nghi định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005
của Chính phủ quy định về Xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
8 Quyết định số 0235/2004/QĐ-BTM của Bộ
trưởng Bộ Thương mại V/v Thành lập Cục
Quản lý cạnh tranh trên cơ sở Ban Quản lý cạnh tranh
9 Quyết định số 1808/2004/QĐ-BTM ngày 06/12/2004 của Bộ trưởng Bộ Thương mại
10 Quyết định số 1378/QĐ-BTM của Bộ
trưởng Bộ Thương mại V/v Thành lập Ban
Thư ký Hội đồng cạnh tranh
11 Lê Hoàng Oanh (2005), Bình luận khoa học
Luật cạnh tranh
Ngày nhận bài: 27/7/2015 Biên tập xong: 15/12/2015 Duyệt đăng: 20/12/2015