Việt Nam đang trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong thời đại công nghệ 4.0. Đây là điều kiện, là cơ hội thuận lợi để chúng ta có thể đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước theo con đường rút ngắn và đón đầu. Để tận dụng được cơ hội này thì chúng ta phải có nguồn nội lực mạnh, và trước hết là những con người có bản lĩnh, trí tuệ để nắm bắt thật chặt, hiệu quả những thành tựu khoa học và công nghệ của nhân loại vào điều kiện cụ thể của nước ta. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải làm thế nào để phù hợp và phát huy tối đa khả năng của họ. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung với khu kinh tế Dung Quất mà hạt nhân của nó là nhà máy lọc dầu Dung Quất, Quảng Ngãi đang từng ngày phát triển Hiện nay kinh tế Dung Quất cùng với các cụm công nghiệp của tỉnh đã và đang tạo ra giá trị sản lượng công nghiệp rất lớn, nhất là công nghiệp nặng – một ngành mũi nhọn quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo sức bật thúc đẩy ngành công nghiệp – dịch vụ cả khu vực cùng phát triển và có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực phát triển của khu vực miền trung. Do yêu cầu đặc thù của các ngành công nghiệp với công nghệ hiện đại, đòi hỏi Quảng Ngãi phải có nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao.
Trang 11 Đặt vấn đề _ 2
2 Thực trạng về nguồn nhân lực trình độ chuyên môn kỹ thuật tại Quảng Ngãi 3 2.1 Nguồn nhân lực trình độ cao có sự gia tăng về dân số và chất lượng 3 2.2 Giáo dục và đào tạo đã tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao bước đầu đáp ứng
được sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 7
2.3 Chính sách kinh tế - xã hội từng bước đổi mới, đặc biệt là chính sách thu hút, đãi
ngộ và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao có nhiều chuyển biến _ 9
2.4 Một số nguyên nhân về vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại
Quảng Ngãi hiện nay 10
3 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay 11 3.1 Đẩy mạnh đổi mới giáo dục – đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao 11
3.2 Phân bố hợp lý và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
theo quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế 12
3.3 Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ngoài tỉnh Quảng Ngãi _ 12 3.4 Giữ gìn và phát triển giá trị văn hóa truyền thống nhằm phát triển toàn diện
nguồn nhân lực chất lượng cao _ 13
3.5 Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở khu kinh tế Dung Quất, từ
đó tạo đòn bẩy cho sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi 14
3.6 Giải quyết mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với yêu
cầu phát triển kinh tế biển ở Quảng Ngãi hiện nay _ 15
Trang 21 Đặt vấn đề
Để sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm thoát khỏi các nước đang phát triển, sánh vai với các cường quốc năm châu, chúng ta còn nhiều việc phải làm, một trong những việc quan trọng, cấp thiết nhất hiện nay là phải có hệ thống chính sách pháp lý trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao bởi vì đây là nhân tố quan trọng cho sự thịnh vượng của đất nước, quyết định cho sự thành công Và, thực tiễn lịch sử cũng đã chứng minh, một quốc gia dân tộc muốn phát triển nhanh và bền vững, cần phải dựa vào ba yếu tố cơ bản là áp dụng công nghệ mới, phát triển cơ sở hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ông cha ta từng nói: “đào tạo và sử dụng con người như thế nào thì sẽ có một đất nước, xã tắc như vậy”
Việt Nam đang trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong thời đại công nghệ 4.0 Đây là điều kiện, là cơ hội thuận lợi để chúng ta
có thể đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước theo con đường rút ngắn và đón đầu Để tận dụng được cơ hội này thì chúng ta phải có nguồn nội lực mạnh, và trước hết là những con người có bản lĩnh, trí tuệ để nắm bắt thật chặt, hiệu quả những thành tựu khoa học và công nghệ của nhân loại vào điều kiện cụ thể của nước ta Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải làm thế nào để phù hợp và phát huy tối đa khả năng của họ
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung với khu kinh tế Dung Quất mà hạt nhân của nó là nhà máy lọc dầu Dung Quất, Quảng Ngãi đang từng ngày phát triển Hiện nay kinh tế Dung Quất cùng với các cụm công nghiệp của tỉnh đã và đang tạo ra giá trị sản lượng công nghiệp rất lớn, nhất là công nghiệp nặng – một ngành mũi nhọn quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo sức bật thúc đẩy ngành công nghiệp – dịch vụ cả khu vực cùng phát triển và có vai trò quan trọng trong việc tạo động lực phát triển của khu vực miền trung Do yêu cầu đặc thù của các ngành công nghiệp với công nghệ hiện đại, đòi hỏi Quảng Ngãi phải có nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao
Nhận thức được việc này, những năm gần đây, Quảng Ngãi là một trong những tỉnh ở miền trung tích cực đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực trình độ cao, bước đầu tạo ra được sự thống nhất cao về nhận thức cũng như hành động trong toàn Đảng bộ và sự
Trang 3đồng thuận trong xã hội về chủ trương phát triển nguồn nhân lực trình độ cao và đã có những thành tựu nhất định Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao được tăng lên hàng năm Việc xây dựng và áp dụng các cơ chế, chính sách đào tạo, thu hút,
sử dụng, đãi ngộ nhân lực chất lượng cao đã góp phần thu hút được một số cán bộ trình độ cao về làm việc tại tỉnh
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phát triển nguồn nhân lực trình độ cao thời gian qua vẫn còn nhiều mặt hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Số lượng nhân lực trình độ cao có tăng lên hàng năm nhưng tốc độ gia tăng còn chậm, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp đã gây nên tình trạng thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao, đặc biệt ở một số ngành được xem là thế mạnh của tỉnh như lọc hóa dầu, cơ khí, tự động hóa…Cùng với vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp
ủy đối với nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực trình độ cao chưa toàn diện, chủ yếu mới chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, chưa tập trung đúng mức cho phát triển đội ngũ nhân lực trên lĩnh vực công nghiệp; trình độ nhận thức và
tư duy lãnh đạo chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều bất cập; các chính sách về thu hút, đãi ngộ sử dụng đội ngũ nhân lực này chưa đạt được kết quả như mong muốn; tình trạng “chảy máu chất xám” sang các nước phát triển còn khá phổ biến…
Với sự phát triển mạnh mẽ của khu kinh tế Dung Quất và các cụm công nghiệp khác thì tiềm năng của Quảng Ngãi là rất lớn Vì vậy, việc phát triển nguồn nhân lực trình
độ cao lúc này là vấn đề vô cùng cấp thiết
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, là một công dân được sinh ra ở Quảng Ngãi, tôi lựa
chọn đề tài: Nguồn nhân lực trình độ chuyên môn kỹ thuật tại Quảng Ngãi làm đề
tài cho bài tiểu luận của mình
2 Thực trạng về nguồn nhân lực trình độ chuyên môn kỹ thuật tại Quảng Ngãi
2.1 Nguồn nhân lực trình độ cao có sự gia tăng về dân số và chất lượng
Từ năm 1999 đến nay, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh ta được nâng lên đáng kể Nếu như năm 2005, có trên 26% lao động trong các ngành kinh tế quốc dân qua đào tạo, thì đến năm 2009, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm trên 35% và đến nay, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chiếm 37%
Trang 4Chất lượng giáo dục từ bậc mầm non đến phổ thông trên địa bàn tỉnh trong những năm qua được nâng lên đáng kể Tổng số học sinh các bậc học đến trường bình quân đạt 98,4%, trong đó tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 97,3% Tỷ lệ học sinh trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng tương đối cao, đạt tỷ lệ bình quân khoảng 23%/năm
Trong năm 2013, cả tỉnh có 88.340 người, tương ứng với 12,1% đã được đào tạo đang tham gia làm việc trên tổng số 730.661 người đang làm việc Biểu 1 cho thấy có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo giữa nam và nữ mức chênh lệch 4,4% (nam là 14,5% và nữ là 10,1%) Tương tự vậy, cũng có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo giữa thành thị và nông thôn, mức chênh lệch này là 22,5% (thành thị là 25,9% và nông thôn là 10,1%) Trong dãy số liệu ta thấy rằng, xu hướng học cao đẳng và sử dụng trình độ cao đẳng trong nền kinh tế thấp, do đó tỉ lệ chênh lệch về lao động đang làm việc đã qua đào tạo cũng không đáng kể giữa nam và nữ cũng như thành thị và nông thôn ở nhóm trình độ này Chất lượng việc làm của tỉnh còn thấp và không đồng đều giữa các vùng Lao động có kỹ năng, đặc biệt là lao động sản xuất trực tiếp là tiền đề quan trọng cho
sự phát triển bền vững, thu nhập cao và đáp ứng được yêu cầu của các ngành trong việc sử dụng công nghệ hiện đại và hoạt động quản lý
Biểu 1: Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo, năm 2013 Đơn vị tính: Phần trăm
Giới tính/ khu vực Tổng số Dạy nghề Trung cấp Cao đẳng Đại học trở lên
Trong biểu 2, tỷ trọng lao động có việc làm chưa bao giờ đi học chiếm khá cao 9% trong tổng số lao động, trong đó nữ không đi học chiếm rất nhiều so với nam (74,2%), lực lượng này chủ yếu ở nông thôn đặc biệt là vùng sâu vùng xa Hơn một nửa số lao động trong nền kinh tế tốt nghiệp từ tiểu học (28,6%) đến trung học cơ sở (26,2%) Ở các trình độ học vấn thấp (từ chưa bao giờ đi học cho đến tốt nghiệp tiểu học) thì nữ
Trang 5chiếm số đông hơn nam, tuy nhiên càng ở các trình độ cao thì nam lại chiếm số đông hơn nữ Điều này cho thấy, vẫn còn sự bất bình đẳng về giới trong giáo dục phổ thông của lực lượng lao động
Biểu 2: Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn, năm 2013
Đơn vị tính: Phần trăm
Trong năm 2013 biểu 3 cho thấy, có 60,5% "Lao động giản đơn" (441.815người) Các nhóm nghề cơ bản khác bao gồm "Dịch vụ cá nhân, bảo vệ trật tự - an toàn xã hội và bán hàng" (82.285 người tương đương 11,2%); "Lao động có kỹ thuật trong nông, lâm, ngư nghiệp" (46.765 người tương đương 6,4%) và "Thợ thủ công và các thợ khác có liên quan" (73.535 người tương đương 10,1%) Ngược lại, lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc cao và lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bậc trung chiếm tỷ trọng khá khiêm tốn trong tổng số lao động đang làm việc (tỷ lệ tương ứng là 3,4% và 2,4%) Có tới 5 trong 10 nhóm nghề sử dụng ít lao động nữ hơn nam giới, đặc biệt chỉ
có 13,9% nữ giới là "Nhà lãnh đạo", tỉ lệ này cho thấy nữ giới tham gia điều hành các hoạt động kinh tế còn rất thấp Nhóm nghề sử dụng nhiều lao động nữ hơn nam giới nhất (70,9%) đó là dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng Các nhóm nghề khác sử dụng số lượng lao động nữ nhiều hơn nam nhưng không đáng kể là chuyên môn kỹ thuật bậc cao (56,8%), chuyên môn kỹ thuật bậc trung (53,7%) và lao động giản đơn (52,7%)
Biểu 3: Số lượng và cơ cấu nghề nghiệp của lực lượng lao động có việc làm, năm
2013
Đơn vị tính: Phần trăm
Trang 6
Nghề nghiệp
Số người có việc làm
(Người)
(%) Nữ Tổng số Nam Nữ
- Các nhà lãnh đạo trong các ngành, các cấp
- Chuyên môn kỹ thuật bậc cao trong các
- Chuyên môn kỹ thuật bậc trung trong các
- Nhân viên dịch vụ cá nhân, bảo vệ trật tự -
- Lao động có kỹ thuật trong nông nghiệp,
- Thợ thủ công có kỹ thuật và các thợ kỹ
- Thợ có kỹ thuật lắp ráp và vận hành máy
*: Nữ tham gia lực lượng quân đội: 0.01%
Qua 5 năm thực hiện Nghị Quyết số 22 về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020, nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương và cán bộ công chức về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực được nâng cao Các sở, ngành đã triển khai thực hiện Đề án nhằm đạt các chỉ tiêu đề ra trong Nghị quyết Việc thực hiện mục tiêu chung và các chỉ tiêu chủ yếu đã góp phần cơ bản phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ngãi nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng cả về số lượng và chất lượng Số nhân lực chất lượng cao tăng lên đáng kể trong tổng số nhân lực nói chung Cụ thể là, so với năm 2010, năm 2015, nhân lực có trình độ đại học chiếm 7% ( tăng 4%), cao đẳng là 2% (tăng 1%), trung cấp là 1,9% (tăng 0,5%); tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh năm 2015 đạt 55% tăng 17%
Nếu như năm 2010, số người có trình độ thạc sĩ là 355 người thì đến năm 2015, con số này là 824 người (tăng 469 người); số người có trình độ tiến sĩ năm 2010 là 10 người, năm 2015 là 37 người (tăng 27 người) Tuy nhiên, qua khảo sát, công tác quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh còn hạn chế, chất lượng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là cán bộ công chức ngành y tế, khoa học và công nghệ,…Theo dự báo trong thời gian tới, khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh cần hàng ngàn lao động có tay nghề và kỹ thuật cao,…
Trang 72.2 Giáo dục và đào tạo đã tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao bước đầu đáp ứng được sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Hệ thống các trường đào tạo (03 trường đại học, 02 trường cao đẳng chuyên nghiệp,
02 trường cao đẳng nghề và các trung tâm, cơ sở dạy nghề ở các huyện, thành phố) trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh
Nhân dân Quảng Ngãi có truyền thống cần cù, hiếu học; sáng tạo trong lao động sản xuất và có tình tương thân, tương ái, giúp nhau trong đời sống, nhất là khi thiên tai, dịch bệnh, trong xóa đói giảm nghèo Trải qua những giai đoạn khốc liệt của các cuộc chiến tranh, người dân Quảng Ngãi vẫn bất khuất, kiên trung vượt qua gian khó vươn lên Quảng Ngãi còn là vùng đất lịch sử nổi tiếng, có truyền thống yêu nước, cách mạng, sản sinh những người con kiệt xuất cho đất nước Qua các thời kỳ phát triển, Quảng Ngãi đã có nhiều danh nhân đạt những danh hiệu cao quý
Đối với Quảng Ngãi, với xuất phát điểm là một tỉnh thuần nông, kinh tế nghèo nàn, khoa học - công nghệ lạc hậu, trình độ dân trí thấp, để có thể tận dụng được những thành quả của khoa học - công nghệ của các nước trên thế giới và tiếp cận nền kinh tế tri thức, đặc biệt là để hoàn thành mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp thì Quảng Ngãi cần phải có đội ngũ nhân lực chất lượng cao có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật cao, nhất là lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tin học, tự động hóa và công nghệ sinh học hiện đại; có sức khỏe và thể lực cường tráng động trên các khía cạnh: Sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng quá trình sản xuất liên tục, kéo dài; có tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ ), có ý thức kỷ luật tự giác cao, sáng tạo, năng động trong công việc, có khả năng chuyển đổi công việc cao, thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của khoa học và công nghệ
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần được xây dựng thiết thực, phù hợp với từng loại cán
bộ nhằm nâng cao kiến thức tổng hợp và năng lực tư duy gắn liền với giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ Lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng
Hình thức đào tạo, bồi dưỡng được triển khai đồng bộ và linh hoạt tùy thuộc vào yêu cầu nhiệm vụ và điều kiện của từng cán bộ Chọn cử cán bộ để dự thi đào tạo sau đại
Trang 8học tại các trường trong và ngoài nước, đồng thời hướng các đối tượng là học sinh phổ thông học giỏi dự thi vào các trường đại học trong nước và cử đi đào tạo tại nước ngoài theo các chuyên ngành mà tỉnh đang cần để sau này trở thành những cán bộ giỏi làm việc trong các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Kết hợp giữa sử dụng cán bộ với đào tạo, bồi dưỡng và huấn luyện luân phiên cho đội ngũ cán bộ nhằm nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hoạt động thực tiễn Ngoài việc cử đi đào tạo tập trung, chính quy cần kết hợp nhiều loại hình đào tạo khác nhằm chuẩn hóa chức danh cán bộ theo quy định Quan tâm cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, học tập, tham quan ở nước ngoài; đồng thời có kế hoạch mời chuyên gia về giảng dạy cho cán
bộ tại tỉnh Tổ chức các lớp chuyên đề, các hoạt động tham quan, khảo sát, trao đổi kinh nghiệm tạo điều kiện cho cán bộ nắm bắt kịp thời những nhiệm vụ trọng tâm của từng thời kỳ và tăng cường năng lực thực tiễn cho đội ngũ cán bộ Song song với việc
mở rộng các hình thức đào tạo đại trà, cần tập trung đầu tư mở một số lớp đặc biệt, chất lượng cao, nhằm đào tạo nhân tài cho tỉnh Số lớp này không nhiều nhưng phải thực sự có chất lượng Người học phải được lựa chọn kỹ, học cơ bản, hệ thống; đào tạo
có mục tiêu, địa chỉ rõ ràng Công tác bồi dưỡng tập trung vào việc bổ trợ các kiến thức về ngoại ngữ, tin học, quản lý nhà nước, bồi dưỡng chuyên đề, nghị quyết, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
Bên cạnh đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo trong trường và đào tạo rèn luyện trong thực tế Điều động bố trí, luân chuyển cán bộ là một hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ nhằm tạo điều kiện cho cán bộ trẻ có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện trong thực tiễn, nâng cao trình độ, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu quy hoạch cán bộ
Và như đã thấy thì quá trình giáo dục, đào tạo có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Xuất phát từ quan điểm của Đảng coi giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển Công tác giáo dục đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu sự phát triển kinh tế xã hội của Quảng Ngãi luôn được tỉnh đặc biệt quan tâm
Trang 9Trong những năm qua, tỉnh Quảng Ngãi đã triển khai nhiều đề án, kế hoạch về giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực chất lượng cao nói riêng Nhờ đó, công tác giáo dục - đào tạo của tỉnh đã có những bước tiến đáng kể, từ giáo dục phổ thông đến giáo dục đại học và giáo dục - đào tạo nghề
2.3 Chính sách kinh tế - xã hội từng bước đổi mới, đặc biệt là chính sách thu hút, đãi ngộ và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao có nhiều
chuyển biến
Theo nghị quyết số 22 thì nhiệm vụ chính là các cấp, các ngành và doanh nghiệp có kế hoạch khảo sát, đánh giá thực trạng, nhu cầu nhân lực và công tác xuất khẩu lao động ở các địa phương , đơn vị, nhất là ở khu kinh tế, khu công nghiệp để xây dựng quy hoạch,
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, sử dụng nhân lực sát đúng tình hình thực tiễn Hoàn thành “Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Quảng Ngãi thời kỳ 2011 – 2020“ để triển khai thực hiện
Xây dựng, triển khai thực hiện Đề án đào tạo và thu hút nhân lực có trình độ cao Có
kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ có trình độ chuyên môn trên đại học ở trong nước và nước ngoài để hình thành đội ngũ chuyên gia trên các lĩnh vực, nhất là đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ làm giảng viên, cán
bộ quản lý giáo dục trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ y khoa, bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa cho các bệnh viện tỉnh, huyện và bác sĩ cho các trạm y tế cấp xã Chọn số sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi, xuất sắc, số cán bộ dưới 40 tuổi tốt nghiệp đại học chính quy loại khá, có triển vọng phát triển cử đi đào tạo trên đại học trong và ngoài nước
Xây dựng trường Đại học Phạm Văn Đồng và một số cơ sở đào tạo đạt chuẩn quốc gia
và khu vực để cung cấp nhân lực có trình độ cao cho hệ thống giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, nhất là Khu
kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp của tỉnh Khai thác có hiệu quả đề án đào
tạo nhân lực trình độ cao của Trung ương Khuyến khích mời các chuyên gia nước ngoài và Việt kiều có trình độ cao hợp tác làm việc trong các lĩnh vực chuyên sâu
Trong những năm qua, công tác thu hút, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi đã có những bước phát triển đáng kể Số lượng nhân lực chất lượng cao
Trang 10được thu hút tăng lên hàng năm, việc bố trí, sử dụng lực lượng lao động này, đặc biệt
là đối với đội ngũ công nhân lành nghề và các bộ công chức ngày càng hợp lý đã phần nào đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay
2.4 Một số nguyên nhân về vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại Quảng Ngãi hiện nay
Sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Quảng Ngãi hiện nay đang đặt ra nhiều vấn
đề cần phải giải quyết và có thể khái quát thành một số mâu thuẫn sau:
Thứ nhất, mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với thực trạng yếu kém về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục làm cản trở sự phát triển đó
Thứ hai, mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với hiện trạng còn nhiều bất cập, hạn chế về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay
Thứ ba, mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao hiệu quả giáo dục - đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với những bất cập, hạn chế trong giáo dục - đào tạo và thu hút đội ngũ nhân lực này
Thứ tư, mâu thuẫn giữa yêu cầu về sắp xếp, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực chất lượng cao với những hạn chế, bất cập và nghịch lý trong việc sắp xếp, sử dụng dẫn đến cản trở sự phát triển của nguồn nhân lực này
Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua cũng đang còn nhiều hạn chế, yếu kém
Thứ nhất, việc tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được quan tâm đúng mức
Thứ hai, số lượng công nhân kỹ thuật lành nghề, lao động đã qua đào tạo ở Quảng Ngãi chiếm tỷ lệ còn thấp so với toàn bộ lực lượng lao động của tỉnh
Thứ ba, chất lượng giáo dục chưa cao, so với dân số của toàn tỉnh thì hàng năm số lượng nhân lực chất lượng cao được đào tạo còn ít