Bài viết trình bày việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của những câu ca dao đã được sưu tầm cách đây 128 năm trong sưu tập Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của.
Trang 1TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN Số 17 (42) - Tháng 6/2016
Ancient Vietnamese and Southern dialects in Cau hat gop by Huynh Tinh Cua
TS La Mai Thi Gia
ại họ ọ ạ ọ .HCM
Ph.D La Mai Thi Gia University of Social Sciences and Humanities, National University Ho Chi Minh City
Tĩm tắt
Trong bài viết, chúng tơi tìm hiể đặ đ ểm ngơn ngữ của nhữ d đ đ ợ s tầm á đ y
128 m t s tập Câu hát gĩp của Huỳnh Tịnh Của Chúng tơi tìm và giải thích những từ Việt cổ,
từ đị p ơ m B xuất hiện nhiều trong các câu ca dao khác nhau bằng cách tra cứ ĩ ủa các
từ đĩ t Đại Nam quấc âm tự vị ũ ủa Huỳnh Tịnh Của biên soạn Chúng tơi tìm hiểu tính Nam
B trong ngơn ngữ ca dao dân ca Nam B đ ợ s tập ở cu i thế kỷ 19 thể hiệ t ế nào thơng qua
từ đị p ơ á x ơ đậm tính Nam B đồng th i giả ĩ ững câu ca dao dân ca chứa
nhiều từ Việt g c Hán trong Câu hát gĩp
Từ khĩa: Huỳnh Tịnh Của, “Câu hát gĩp”, “Đại Nam quấc âm tự vị”, tiếng Việt cổ, từ Nam Bộ…
Abstract
This article discusses linguistic characteristics of folk songs that were collected 128 years ago by Huynh
Tinh Cua and printed in his collection Cau hat gop With the help of Dainam National Language Dictionary compiled by Huynh Tinh Cua, we explain the meaning of Vietnamese ancient words and
Southern dialect words that frequently appear in various folk songs In this article, the regional characteristics of Southern folk songs collected in the late 19th century will be analyzed based on dialect words and forms of addressing in Southern Vietnam We also explain the meaning of folk songs that contain many Sino-Vietnamese words
Keywords: Huynh Tinh Cua, Cau hat gop, Dainam National Language Dictionary, ancient Vietnamese,
Southern dialects…
1 Mở đầu
R đ á đ y ơ m t thế kỷ, Câu
hát gĩp (xuất bả m 1897) Tục ngữ,
cổ ngữ, gia ngơn (xuất bả m 1896) ủa
Huỳnh Tịnh Của cĩ thể đ ợ xem l
s tập ọc dân gian (cụ thể là ca
dao và l t ếng nĩi dân gian) gầ
đầu tiên về ù đất Nam B ớ 2 s
tập này của Huỳnh Tịnh Củ đ ĩ sá
“ át” đ ợ ơ Vĩ ý ơ b ngay trong s đầu tiên của b Miscellanée (Imprimeric Commerciale Rey Curiol, 1988), nhữ “tụ d ê ” dù l m dẫn
chứng trong b Đại Nam quấc âm tự vị (1895) và cu n Câu hát An Nam của
ơ M ( ý?) (1886) [10; t 5](1)
Hai
Trang 2b s tập trên của Huỳnh Tịnh Của là
những b s tập có tính chất mở đầu cho
công việ s tầm ọc dân gian ở vùng
đất Nam B đ từ y đ ợc chú ý khi
nó mớ đ ợc xuất bản Tục ngữ, cổ ngữ,
gia ngôn bao gồm 95 trang với 1226 câu
gồm những câu thành ngữ tục ngữ, l i hay
ý đẹp đ l t yề t d đ ợc
s tầm ghi chép và biên soạn lại,
t đó ó k á ều câu chứa chữ Hán
g c Hán hay chữ Hán g c Việt “ ục ngữ
hay ngạn ngữ ũ l m t Cổ ngữ là l i
nói thuở x G ô l l k ô ”
[11; tr.7] Còn Câu hát góp là b s tập ca
dao gồm 32 trang với 1011 câu lục bát
“C át óp l óp ặt, thu thập các câu
d p ụ đề tiếng Pháp là Recueil de
Chansons populaires – Thu thập các bài ca
dân gian” [11; t 6]
Dù là những tác phẩm đá dấu m c
khở đầu cho công việ s tầm ca dao dân
ca Nam B t m t th i gian dài,
hai tác phẩm này của Huỳnh Tịnh Của
d bị bỏ ơ k ô đ ợc nhắ đến
trong các công trình nghiên cứu về tục ngữ
ca dao dân ca hay trong l ó đầu của các
tuyển tập s tầm tục ngữ ca dao dân ca về
sau này Nhận thấy thiế sót đó ê
nghiên cứu Nguyễn Khắ yê đ tí
cực tìm kiếm hai cu n sách này ở ện
qu áp s s đó đ s lục, biên
soạn và giới thiệu lại n i dung củ s
tập này trong cu n Những tác phẩm ca dao
tục ngữ được xuất bản cách đây một thế kỷ
(Câu hát góp và Tục ngữ cổ ngữ, gia
ngôn), xuất bả m 1997 n
sách của mình, Nguyễn Khắ yê đ sắp
xếp lại thứ tự của các câu ca dao và tục ngữ
theo mẫu tự ABC đá lại s thứ tự của
từng câu cho dễ tra cứu Trong l ó đầu,
ô ũ ằ “Vì yê bản là m t
sách thu c loại cổ đ l t êm đó
bản chúng tôi sử dụng lại là bản chụp, có nhiều câu chữ Há ê k ó t á đ ợc cái nạn tam sao thất bản, chúng tôi thành thật nhận các l i chỉ á ” [11; t 7] y l
m t nỗ lực rất đá t t ọng của nhà nghiên cứu, nhằm giữ gìn và giới thiệu lại
s tập ọc dân gian Nam B đầu tiên rất đá á ủa Huỳnh Tịnh Của Sau Nguyễn Khắc Xuyên m t m nhà Nam B học Huỳnh Ngọc Trảng cho
xuất bản cu n Ca dao - dân ca Nam Kỳ
Lục tỉnh ( B ồng Nai, 1998), ông làm
việc này vì nhận thấy rằ s “sá
hát” ô b trong Miscellanées của
ơ Vĩ ý t ì ô ệ s tầm ca
d d đ ợ k ô ít i kế tục vào càng lúc càng có quy mô lớ ơ ũ chất l ợ ơ y ê t e q sát của mình từ các b s tập đó H ỳnh Ngọc Trảng cho rằng ca dao dân ca Nam
B trong những thập kỷ gầ đ y “t ng ớng vào nỗ lực tìm kiếm từ bên trong thực tế bằ p ơ p áp s tầm đ ề đ
và rất ít ú t m đến các tài liệ s tập ca dao - d đ ợc công b từ nhữ m
cu i thế kỷ I đến nhữ m 50 ủa thế
kỷ y” [10; t 5] (tức thế kỷ XX) Mà theo nhà nghiên cứu những nỗ lự s tập của
x t đ ều kiệ ò k ó k thiếu th n, dù còn ít ỏ đó í l
“ ững ca từ củ á đ ệu hát câu hò dân
đ m t th i vang vọng khắp trên những á đồng, sông rạch, trong các sinh hoạt l đ ng, xay lúa, giã gạ ” [10; t 7] Huỳnh Ngọc Trả đ l ệt kê đ ợc
17 b s tập ca dao dân ca xuất bản từ
1886 đế 1957 d á y
á Sơ H ỳ m D ức
L ơ ạm V ơ , B n
ơ x ất bản Ông cho rằ đ y l những b s tập hết sức có giá trị vì
ú đ l t l ệu tham khảo cho các
Trang 3nghệ nhân hò hát ngày ấy đ y l ững
tài liệu có tính xác thực lịch sử rất hữu ích
cho các nhà nghiên cứu về sau này mu n
tìm hiểu về đặ đ ểm của ca dao dân ca
Nam B vào buổ đầu khai hoang mở cõi
Ông tập hợp lại và cho xuất bản cu n Ca
dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh m
1998, trong cu n này là tập hợp của 6 cu n
sá s tầm ca dao dân ca củ đ
t ớ t đó Câu hát góp của Huỳnh
Tịnh Củ đ ợc xếp ở vị t í đầ t ê ì đ y
là b s tập đ ợc xuất bản vào loại sớm
nhất trong 6 cu n sách kể trên (Bản Câu
hát góp đầ t ê m 1987 B
Ménard, Sài Gòn) Cu n sách mà Huỳnh
Ngọc Trả dù để sao chép và in lại
trong Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh là
cu n Câu hát góp đ ợc tái bản lần thứ 4
m 1901) q yết định tập hợp và cho
tái bản lạ á s tập ca dao dân ca miền
Nam củ đ t ớc, Huỳnh Ngọc
Trảng mong rằng chính những câu hát câu
hò này củ x đ từng hát, từng hát
l t yề d x s tầm sẽ
cung cấp ú t “ ều dữ liệ
học nghệ thuật ũ á dữ liệu về
kinh tế - xã h i và nhất là những nét riêng
chung về cu c s ng tình cảm, những quan
niệm về thẩm mỹ đạ lý… ủa các thế hệ
t ớ ”[10; t 8]
ế m 2001 t ô t ì s
tập Kho tàng ca dao người Việt d yễ
í ật đồ ủ
b ê đ ó sử dụ lạ bả Câu hát góp in
m 1897 l m t l ệ b ê s ạ e
ô y ọ đ sử dụ bả m 1897
d ê ứ yễ ắ yê
đọ ụp đ ợ tạ ệ
Pháp [5; tr.22]
Trong bài viết của mình, chúng tôi tìm
hiể đặ đ ểm ngôn ngữ của những câu ca
d đ s tập á đ y 128 m t
Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của, từ
những bả đ đ ợc sao chép và biên soạn
lại trong hai cu n sách Những tác phẩm ca
dao tục ngữ được xuất bản cách đây một thế kỷ (Câu hát góp và Tục ngữ cổ ngữ, gia ngôn) của Nguyễn Khắc Xuyên và Ca dao dân ca Nam Kỳ Lục tỉnh của Huỳnh Ngọc
Trảng Bản Câu hát góp đ ợc in lầ đầu
bao gồm 32 trang và 1021 câu ca dao (“ ục diêu mớ óp m t m ” – Huỳnh Tịnh Của) Tuy nhiên trong bản sao lục lại của mình, Nguyễn Khắc Xuyên
cho rằng toàn b cu n Câu hát góp chỉ bao
gồm 1011 câu vì Huỳnh Tịnh Củ đá nhầm s Còn trong b s tập của Huỳnh
Ngọc Trảng thì phần n i dung Câu hát góp
chỉ còn có 952 câu, nhà nghiên cứu biên
soạn lại từ bản Câu hát góp in ở nhà in
Mé d S Gò m 1901 k ô ú thích vì sao s l ợng câu lại giảm đế ơ
50 ậy Chúng tôi đ i chiếu hai bản sao lục lại của Nguyễn Khắc Xuyên và Huỳnh Ngọc Trả ũ p át ện ra nhiều
từ k ô đồng nhất trong m t s câu ca dao, do vậy có thể thấy việc sao lục qua
nhiều lần b s tập Câu hát góp của
Huỳnh Tịnh Của không tránh khỏ t ng hợp tam sao thất bản
ọc Câu hát góp, chúng tôi tìm và giải
thích những từ Việt cổ, từ đị p ơ m
B xuất hiện nhiều trong các câu ca dao khác nhau bằng cách tra cứ ĩ ủa các
từ đó t e á ải thích trong Đại Nam
quấc âm tự vị ũ ủa Huỳnh Tịnh Của
biên soạn Chúng tôi tìm hiểu tính Nam B trong ngôn ngữ ca dao dân ca Nam B đ ợc
s tập ở cu i thế kỷ 19 thể hiệ t ế nào thông qua các từ đị p ơ á
x ô đậm tính Nam B trong Câu hát
góp ồng th ũ tìm ểu và thử giải
ĩ hững câu ca dao dân ca chứa nhiều
từ Việt g c Hán và nguồn g c của những
Trang 4đ ể tí đ ển c chứ đự t đó
2 Cắt nghĩa tiếng Việt cổ và từ địa
phương Nam Bộ
ể xá đị đ l từ đị p ơ m
B và tiếng Việt cổ đ ợc nhắ đến trong
Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của, chúng
tôi dựa vào phầ “L i giả t í ” t
Những tác phẩm ca dao tục ngữ được xuất
bản trước đây một thế kỷ của Nguyễn Khắc
Xuyên Ở phần này, ông nêu ra những từ
đị p ơ ững từ cổ có thể tìm ĩ
trong Đại Nam quấc âm tự vị ( A V)
và chỉ vị trí câu ca dao mà từ đó x ất hiện
C ú tô ứ đó tìm đến những câu
d y t ĩ ủa từ t e A V
và giả ĩ d đó
C kể vào n d ơ 1000
dao của b s tập thì trong l i tựa cho tác
phẩm Câu hát góp của Huỳnh Tịnh Của
ũ đ ó m t s từ cần giả ĩ ô
viết l i tựa là 12 câu lụ bát t đó ó
“ ấ p x ó m l m ục
diêu mớ óp m t m ” e
A V t ì quấc ũ l quốc, quấc
phong ĩ l quốc phong (T2; tr.217)(2),
diêu ũ l d tục diêu là tục dao, tục
dao ũ l d nối diêu ũ l i
dao (T1, 235)
2.1 Thinh thinh, linh đinh, đặng,
hài, chiếc bá
- Thinh thinh đất rộng trời dài/ Biết
sao cho đặng duyên hài trăm năm (422)(3)
e A V thinh thinh n ĩ l
r ng minh mông, rộng thinh ĩ l ng
lớ t k ô l k k ô k ô
tình c [T1; tr.398] Đặng l “tê ọ đ ợc,
có thể, làm nên, gặp rồi, có rồ ” cho đặng
là hầu cho, ngõ cho (tiế ớc, tiếng
khiến), chẳng đặng l k ô đ ợ ũ là
tiếng cấm C tục ngữ Ăn no lo đặng
ĩ l ó ơm sẵ m ê mới
l m đ ợc chuyện nó chuyện kia [T1;
tr.269] Vậy ĩ ủa từ đặng trong câu ca
d y l đ ợc, có thể Hài ở đ y l “ ò
hiệp, rập ràng, xong xuôi, sự bất hài là việc không x ô ” ( 1; t 398) ĩ ủa câu ca dao trên có thể diễn xuôi là: tr đất r ng
mê mô ậy, biết làm sao có thể có
đ ợc m i duyên hòa hợp t m m
- Linh đinh chiếc bá giữa dòng/ Sóng
xao gió tạt biết từng về đâu (183)
- Linh đinh một chiếc thuyền tình/
Mười hai bến nước gởi mình vào đâu (465)
- Phận bèo bao quản nước sa, linh
đinh đâu nữa cũng là linh đinh (45)
- Linh đinh vịt lội giang hà/ Nói cho
tốt lớp, bạc đà trong tay (915)
Từ linh đinh ít thấy trong các b s
tập ca dao dân ca mới xuất bản vài m ơ
m t ở lạ đ y đ x ất hiện lặp lại 4
lần trong Câu hát góp, chứng tỏ đ y ũ
là từ đ ợc dùng phổ biến trong dân gian
Nam B t ớ đ y Linh l á đọc theo
âm Nam B của lênh, linh đinh (lê đê )
là trôi nổi dật gi , không chắc về đ ở đ [T1; tr.558] Ba câu ca dao s 183, 465 và
45 đại ý nói về những thân phận trôi giạt khắp ơ á bè ếc bá hay chiếc thuyền tình trôi nổi trên mặt ớc, dù có ở bất kỳ đ t ì ũ l t ô ổi, không ổn
đị đầy phân vân Trong Truyện Kiều
của Nguyễ D ũ ó t ơ t ơ tự
d s 45 t y ữ
“l đ ” bằ “lê đê ” ằm chỉ s kiếp hồng nhan trôi nổi của nàng Kiều
Chiếc bá trong câu ca dao s 183 là chỉ
chiếc thuyền bá, thuyề đó bằng cây bá,
“l đ ếc bá giữ dò ” ó ý í với s phận củ ô á ồng hoặc mất chồng phải giữ tiết m t mình [T1; tr.18]
2.2 Minh mông, miêng bạch, khứ lại,
vô nghì, qua - bậu, xằng
- Ngó ra ngoài biển minh mông/ Thấy
Trang 5chiếc thuyền rồng cất mái chèo đua (129)
Minh là cách phát âm theo tiếng Nam
B của chữ mênh, minh ở đ y ó ĩ l
m , t i, minh mông là b r ng xa, không
biết đ l ù t t [T2; tr.36]
- Canh tư cất bút thề nguyền/ Khứ lai
miêng bạch cho tuyền thủy chung/ Canh
năm cờ phất trống rung/ Anh gá tiếng cùng
bậu chớ nghe ai (65, 66)
- Trách em một chữ vô nghì/ Chào anh
một tiếng mất đi đường nào/ Chào anh em
cũng muốn chào/ Sợ e chúng bạn nói điều
chẳng miêng (663, 664)
Chữ miêng trong hai câu ca dao trên có
ĩ l õ p m miêng bạch là
minh bạch (T2; tr.33) Nghì l á đọc
khác củ ĩ vô nghì ĩ l
chẳng có lễ phép gì [T2; tr.92] Vậy ĩ
của câu 663 và 664 là nhân vật chàng trai
ó ý t á i con gái không có lễ nghi,
thấy mình không biết chào hỏi (thực ra là
ngầm t á i ta lạnh nhạt với mình)
Tuy nhiên cô gái lại sợ “đ ều chẳng
m ê ” tức là sợ thiên hạ xì x đồn thổi
chuyện không minh bạch giữ i vì
thấy i trò chuyện hay chào hỏi
đ “ ứ lai miêng bạ ”
t 65 ĩ l đi lại, qua lại cho rõ
ràng minh bạch Cả câu ca dao là m t l i
thề ớc củ t d i
mình yêu và dặ dò yê k mì đ
xa nhớ giữ vững lòng chung thuỷ Chữ bậu
t y ó ĩ l em (em yê )
dù để chỉ i con gái, trong ca dao
Nam B ta hay bắt gặp các cặp x ô
qua - bậu t Bậu nói
với qua, bậu không lang chạ/ Bắt
đặng bậu rồi, đành dạ bậu chưa hay Đờn
cò lên trục kêu vang/ Qua còn thương bậu
bậu khoan lấy chồng hoặc Trăng lên khỏi
núi trăng quỳ/ Bậu lo thân bậu lo gì thân
qua (463), Trăng tròn rồi lại tròn trăng/
Bậu xinh mặc bậu, bậu xằng qua chê
(328) A V ả ĩ qua - bậu là
tao mày (tiếng nói thân thiết) lớn nói với nhỏ, chồng nói với vợ (T1; tr.43) Còn
chữ xằng t 328 ĩ l i rắm, mất nết, làm xằng là làm cho r i rắm việc, xằng xịu là không có nết hạnh, dâm
đ bả “ ấy xằ ” l ý ó ấy mất nết [T2; tr.574] Câu ca dao có ý nói
“ á ết đá ết á đẹp” dù ô á ó
x đẹp đế b ê đ ữ
k ô đẹp nết t ì ũ bị chê Chữ bậu xuất hiện 130 lần và chữ qua xuất hiện 49 lần trong toàn b Câu hát góp của Huỳnh
Tịnh Của, chứng tỏ đ y l á x ô hết sức phổ biến củ i Nam B th i
kỳ t ớc
2.3 Trước mai, sum hiệp, hiệp vầy
- Anh ở với em cho trước mai tàn/
Mai sau anh có thất vận lên ngàn cũng xinh (420)
- Tưởng là mai trước lại vầy/ Hay
đâu mai trước một ngày một xa (969)
- Kể từ bạn với trước mai/ Càng sâu
nghĩa bể càng dài tình sông (966)
- Kể từ bạn với trước mai/ Xuân qua
hè lại đã vài ba năm (102)
- Bao giờ sum hiệp trước mai Lòng
nguyền kết tóc lâu dài trăm năm (1012)
- Ngó thấy em đành đà đành bụng/
Biết bao giờ hiệp phụng vầy loan (51)
- Bây giờ hiệp mặt đôi ta/ Biết đâu
rồi nữa chẳng là chiêm bao (924)
- Bao giờ loan phụng hiệp vầy/
Thì anh mới đặng giải khuây cơn sầu (947)
- Lỗi căn duyên như đờn lỗi nhịp/
Biết bao giờ cho hiệp phụng loan (85)
Từ trước là phát âm chệch của từ Hán Việt trúc dù để chỉ cây trúc (tre), chúng tôi tìm thấy đ ợc 5 câu ca dao trong Câu
hát góp có chứa từ y e A V trước l t ú t e ( 2; t 501) ậy
Trang 6trước mai ở đ y l t ú m y l ặp
biể t ợ kép t ng xuất hiện trong ca
d để chỉ cặp đô m ữ nhân vật đ ển
hình, trúc là hình ảnh chỉ i quân tử,
ò m đ ợ dù để chỉ i con gái
đẹp Biể t ợng trúc - m t đ
để chỉ cặp đô yê d
“Hôm y s m ệp t ớc mai, tình chung
m t khắ ĩ d t m m” ằm chỉ sự
gặp gỡ, gầ ũ ủ đô t á yê
Trong các câu ca dao s 1012, 51, 924, 947
và 85 còn có từ hiệp, t e A V hiệp
là họp hay hạp, sum hiệp là nhóm họp, sum
vầy, hiệp vầy hoặc vầy hiệp là nhóm họp,
chung cùng (T2; tr.420) Từ hiệp xuất hiện
9 lần trong Câu hát góp Trong hai câu ca
dao 947 và 85, ta thấy có xuất hiện cặp
biể t ợng phụng - l (đô m tr ng
má ) ũ ó ý ĩ t ợ t đô
nam nữ ặp biể t ợ t ớc - mai
ở trên
2.4 Dươn, quờn, dươn hài, lương dơn,
căn dươn, vầy dươn
- Chẳng qua là gió đưa dươn/ Nào ai
cướp lộc dành quờn chi ai (317)
- Nghinh hôn giá thú bất khả luận tài/
Trăm năm chẳng hiệp dươn hài/ Anh nằm
lăn xuống bệ, anh lạy dài ông Tơ (918)
- Lương dươn do túc đế/ Giai ngẫu tự
nhiên thành/ Vì con trăng kia chỉ rối tơ
mành/ chẳng nên chồng vợ cũng thành đệ
huynh (132)
- Lưu ly nửa nước nửa dầu/ Nửa lo
cha mẹ, nửa sầu căn dươn (17)
- Ngồi buồn giả chước đi câu/ Cá ăn
không giựt, mảng sầu căn dươn (159)
- Chiều nay anh thượng lộ hồi
hương/ Xin bậu ở lại, đừng vầy dươn nơi
nào (410)
Từ dươn đ ợc tìm thấy trong 6 câu ca
dao của b s tập, dươn là duyên, lương
dươn l l ơ d yê e A V t ì
dươn (doan, duyên) là s phận, cớ sự
(251), duyên do, phận mạng, sự may mắn,
ợp (T1; tr.238) Quờn là quyền, quờn
phép là quyền phép (T2; tr.234) Câu 317 ý
nói sự may mắn là do tr i cho chứ i gặp may không có tranh giành với ai Câu
918 ý nói chuyệ ới xin vợ chồng không
ê tí đến chuyện tiền bạ ì
“l ậ t ” ê d yê t m m k ô đ ợc hòa hiệp, ở đ y ật trữ tình có ý trách
ô ơ k ô k é xe d yê ê đô lứa
yê m k ô t (“ ẳng hiệp
d ơ ”) Chữ dươn hài ở đ y l d yê hài trong câu thành ngữ Duyên hài can lệ,
ĩ l ạp vợ chồng, phả đạo vợ chồng [T1; tr.100] Câu 132 ý nói chuyện duyên lành là do có c i g t ớc, chuyệ đô lứa
là do tr định nên, vì ông bà Nguyệt lão ( t k ) xe nhầm m i chỉ nên tình
vợ chồng chuyển thành tình anh em Chữ
vầy dươn ở 410 ĩ l ầy duyên, kết
duyên, l i chàng trai dặ dò i yêu
t ớ k lê đ x để về quê (“t ợng l hồ ơ ”) l em ở lại ch anh chứ đừng kết duyên với ai
2.5 Vong, sóng, gièm xiểm, đàng, vãng lai
- Anh ơi vợ cũ anh chớ vong/ Đàng
cũ anh chớ lấp để phòng vãng lai (622)
- Bao giờ anh chiếm đặng bảng vàng/
Ơn thầy ta trả, nghĩa nàng nào vong (392)
- Bát kia trong sóng rung rinh/ Mặc
ai gièm xiểm đôi mình đừng vong (669)
- Nơi thương cha mẹ biểu vong/ Nơi
chẳng đành lòng cha mẹ biểu ưng (976)
C ữ vong x ất ệ 11 lầ t Câu
hát góp, t e A V vong ó ĩ l
quên, không nhớ đế bội nghĩa vong
ân là b i bạc, chẳng biết ơ ĩa gì [T2;
tr.560] Chớ vong, đừng vong trong câu
622 và 669 ý nhắc nhở đừ q ê đừng
phụ bạc, vong trong câu 976 ý là thôi, là
Trang 7chấm dứt, là bỏ i tình (vong tình, phụ
tình) Ở câu 669 có từ sóng l dù để chỉ
sóng chén, sóng bát, tứ l đồ đựng bát
c é đ ơ bằ t e ũ ọi là rế bát
[T2; tr.307] Gièm, gièm xiểm, gièm siểm
( A V l siểm) l đặt chuyện nói
xấ l m i ta ghét nhau [T2;
t 375] ĩ ủa câu ca dao là cho dù bát
t só ó dù ó i
đặt đ ều dèm pha t ì đô t á ũ ớ
giữ vững lòng tin và tình yêu của nhau mà
đừng quên nhau, phụ tình nhau
- Cực lòng thiếp lắm chàng ơi/ Biết
rằng: lên ngược xuống xuôi đàng nào (825)
- Tưởng là đàng vắng hát chơi/ Hay
đâu đàng vắng có người vãng lai (335)
- Muốn vãng lai sợ nàng mang tiếng/
Giả khách qua đàng sớm viếng tối thăm
(545)
- Bạn cũ ta xưa nay đà biệt bộ/ Giả
khách qua đàng thượng lộ hỏi thăm (346)
- Ngọc còn ẩn bóng cây tùng/ Náu
nương chờ đợi anh hùng vãng lai (223)
Chữ đàng xuất hiệ đến 28 lần trong
Câu hát góp và cùng chỉ chung m t ĩ
đàng là cách phát âm kiểu Nam B của từ
đường t e A V đàng (đường) là
đ sá dấu rẽ hai hoặc nứt nẻ d đ
t đ sá đ đ đ á đ l ,
đ sứ đ q đ t ẳ đ tắt,
đ t … [ 1; t 266] Từ “q đ ”
trong câu 545 và 346 nhằm chỉ đ tá đ
ngang qua, không có ý ghé, không ở lâu
“ á q đ ” l i vô can, không
có quen biết [T1; tr.267] Còn vãng có
ĩ l q lai là lại, vãng lai là qua lại
[T2; tr.542, 528] Câu 545 có ý nói mu n
t m ỏ yê sợ i ta xì
xào bán tán khiến nàng mang tiếng nên anh
đ ả v l q đ ng không
quen biết é t m C 346 ũ ó ý
là nhân vật giả b l i không quen,
i tình c đ q é dò hỏi tin tức của bạ ũ C ữ “ l ”
t 223 ò ó ĩ l tới (lui tới),
y ó ĩ t ơ đ ơ ới câu
“C m q yê ẩn bóng cây tùng/ Thuyền quyên chỉ đợ ù m t ô ” ý ó đẹp còn giấ mì tí yện
ô để ch đợ i quân tử hợp ý hợp lòng, xứ đô ừa lứa với mình
2.6 Huê, hường, hiếm hiệm, hường nhan, hườn sanh, kiều khấu
- Muốn chơi chậu cúc tam hường/
Liễu huê hiếm hiệm dọc đường thiếu chi
(528)
- Huê sao thơm lạ thơm lùng/ Thơm
cây thơm rễ người trồng cũng thơm (774)
- Huê tàn nhụy rữa còn tươi/ Để
trong quả bắc chờ người phương xa (937)
- Tay cầm nhành bứa, lụy ứa hai
hàng/ Xuân xanh anh chẳng gặp, huê tàn gặp em (927)
Chữ huê xuất hiện 6 lần trong Câu hát
góp, huê là hoa (chữ huý) [T1; tr.451], là
cách nói của i Nam B để chỉ chữ hoa (bông hoa) mà ta ít gặp ở đ t á
vùng miền khác, chữ hiếm hiệm ũ l
m t p ơ ữ k á đặc biệt củ ù đất
p ơ m A V ả ĩ hiếm
hiệm là nhiều lắm d dật [T1; tr.418]
Theo Trầ M ơ t b iết
“Cá ó ủ i miền Tây Nam B
q d ” t ì “Dân gian nói hiếm hiệm,
ĩ ủ ó l đủ ồ l bộn bàng ồ y
ỉ sự d dả ủ m t t ứ đó”
câu cao dao Muốn chơi chậu cúc tam
hường/ Liễu huê hiếm hiệm dọc đường thiếu chi, dân gian “dù p ơ ữ để
ó ẩ ý ầm s sá ữ chậu cúc tam
hường và liễu hoa (huê) dọc đường
ừ hiếm hiệm đ l m t á t ị m t ủ
t ể ũ l m ảm đ á t ị m t ủ t ể
bở ề d d t ì k ó ọ … q ý ếm
Trang 8đ ợ ! ó hiếm hiệm tứ l … k ô ếm
ậy” [8]
- Phải chia cải tử hườn sanh/ Mổ gan
trao lại mới đành dạ qua (365)
- Trồng hường bẻ lá che hường/ nắng
mưa che đậy cho hường đơm bông (786)
- Tiếc thay cây sứ nở bầm/ tiếc
hường nhan bậu lấy nhầm đứa ngu (499)
- Dầu hèn cũng ngựa nhà quan/ Kiều
khấu rách nát hường nhan hãy còn (83)
- Vai mang kiều khấu/ Tay giấu sợi
dây cương dài/ Nặng nề anh không tiếc,
anh tiếc tài con ngựa hay (930)
Từ hườn t 365 l á đọc
khác của từ t e A V n là
ĩ l ề, trả lại, trở lại, hườn sanh
là hoàn sinh, là s ng lại [T1, tr.432, 456]
Hường ũ l m t cách nói theo âm Nam
B của từ hồng, A V ải thích
hường là hồng, hường nhan là hồng nhan,
chỉ vẻ lịch sự ơ mặt đẹp đẽ t ng
dùng nói về đ b ó “ ó t y ng
” l ý ó đó ó ẻ lịch sự, hay
l m đ n bà phả lò đắc vợ [T1,
tr.446, 458] Ngày nay ta quen dùng chữ
hồ để nói về nhan sắc, chỉ i
á đẹp Trong câu 83 và 930 còn có từ
kiều khấu, kiều là cái yên ngựa, kiều khấu
l đồ trang sức cho ngựa, yên là mặt khấu
[T1, tr.518]
2.7 Xa xuôi, ngãi, ngỡi, nhơn ngãi,
kết ngỡi
- Nhớ lời nguyền ước ba sinh/ Xa
xuôi ai có thấu tình chăng ai (46)
- Xa xuôi chẳng đặng cần quờn/ Dễ
đây với đó giận hờn chi nhau (434)
- Xa xuôi chẳng đặng cần quyền/ Biết
là nhơn ngãi có thiêng cùng chàng (148)
- Bấy lâu bậu cần mẫn cái vườn đào/
Tình xưa ngỡi cựu, bậu có nhớ chút nào
hay không (922)
- Bậu với qua tình mặn ngỡi nồng/
Siêu nước sôi chớ quạt, làn gió lộng anh phải che (923)
- Tới đây cụm liễu giao nhành/ Hỏi
em kết ngỡi có thành hay không (910)
Xa xuôi l á đọ t e m m B
ủ xa xôi, t e A V xa xuôi (xa xôi)
l á bứ p ẽ k ô p ả m t ỗ
[T2; tr.568], Cần quờn, cần quyền là siêng
ý í [ 2; t 237] Nhơn l lò t t
y t ơ xót l m ơ nhơn ngãi là lòng
t ậ sự ở p ả ơ p ả ĩ
[T2; tr.137] Ngãi hay ngỡi ũ l á
ọ ủ ĩ Tình xưa ngỡi cựu là tình
x ĩ ũ tình mặn ngỡi nồng ý nói
ĩ tì mặ ồ s ặ Vậy ơ
ơ ĩ ở đ y l á dù m g
tí đị p ơ m B ủ từ
ĩ Câu hát góp từ ngãi x ất
ệ đế 43 lầ từ ngỡi x ất ệ 5 lầ
H từ ơ ĩ t ò bắt ặp t ất
ề d t Câu hát góp ủ
H ỳ ị Củ :
- Cỏ rơm tạm đỡ buông mền/ Biết là
nhơn ngãi có bền cùng chăng (103)
- Đàng xa nhơn ngãi nào xa/ Đi đâu
anh cũng ghé nhà/ Trước thăm phụ mẫu sau là viếng em (195)
- Phụ mẫu tình thâm/ Phu thê nhơn
ngãi trọng/ Một mai anh có xa em rồi, thờ vọng mẹ cha (315)
2.8 Chực tiết, thỉ chung
- Cách mấy thu tưởng đà ly biệt/ Ai
hay em còn chực tiết với anh (265)
- Tại mẹ cha dứt tình tơ nguyệt/
Khuyên em đừng chực tiết uổng công (976) Chực chực chờ, t e A V
thì chực l đứ m đợ l tớ ó mặt
chực tiết l ữ t ết ữ ết k ô ị
ớ ợ lấy ồ [ 1; t 162] C d
265 976 ó ý ó đế sự đợ ợp
ô từ m t á ớ m t
t C 976 l k yê ủ ủ
Trang 9t k yê yê đ lấy ồ
ứ đừ đợ mì ì mẹ đ ó ý
ẽ tì ảm ủ
- Bấy lâu chịu tiết loan phòng/ Để
cho bạn ngọc thỉ chung cạn lời (575)
- Tỏ trăng chi bấy hỡi trời/ Để cho
bạn ngọc phân lời thỉ chung (576)
- Tay bưng đĩa muối tay bợ tràng
rau/ Thỉ chung như nhứt sang giầu mặc ai
(941)
Thỉ l đầ đầ ết t ớ ết mớ [ 2;
tr.391], chung l s t ết t ọ ẹ , thỉ
chung l t ớ s ó t ớ ó s
cùng, thỉ chung như nhứt ý ó t ớ s
m t k ô ề s ậy (t ó ề
ệ ơ ĩ ) [ 1; t 165] ậy ữ
thỉ ở đ y l á ết ất ổ ủ ữ thuỷ
s y t ỉ l t ỷ C 575
576 ý ó lắ e l s t ớ lắ
e t ọ l t ò yệ lò
ủ t ơ C 941 ó đế lò
t ỷ dù ặp ả ơ è è
p ả ơm m d (“dĩ m t
”) t ì ẫ m t lò t ớ s m t
k ô ì ả s ủ m t y
lò đổ dạ
2.9 Âm can, thoàn, troàn
- Gió hiu hiu dây chìu đứt đoạn/ Âm
can trời nhớ bạn ta xưa, (345)
- Trời ôi ai đánh trời gầm/ Mây mưa
dứt đoạn tư bề âm can/ Cơ trời dâu bể đa
đoan, tơ duyên vắn vỏi thiếp chàng xa
nhau (838)
- Sóng xao mặc sóng dưới thoàn/ Một
ngày vắng bạn ăn vàng không ngon (842)
- Nhìn nhau lụy ứa hai hàng/ Cựu
bang em ở lại, dòng thoàn anh lui (307)
e A V âm can l ắ ;
t m l t k ô ắ ; p ơ m
l dự bó mát [ 1; t 96] ừ
âm can t 345 838 ó t ể
ể l t k ô ắ t m t t ết
k ô t t Dây chìu trong câu 345, theo
A V l tê m t l ạ y ỏ lá ó
ám t y dù m t ỗ [T1; tr.145] Tuy nhiên chúng tôi không
xá đị đ ợ ữ “d y ì ” t
d y ó p ả ĩ t tự
ị y k ô Vắn l ụt ắ k ô ó
bề d [ 2; t 539] từ vắn vỏi ở d
s 838 ó t ể ể l ắ ủ đứt đ ạ
Ý ó ơ t d bể s p ậ đ đ
d yê ợ ủ ắ ủ ê kết
q ả l p ả x C ữ thoàn trong hai
842 307 l á p át m t e k ể
m B ủ từ thuyền G p át m
ữ troàn (tứ l truyền) trong câu ca dao
s 728 Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng/
Ông tổ nào troàn mới trọng, cũ vong
2.10 Đương, can, can thường, cang thường
- Chẻ tre lựa lóng đương sàng/ Chờ
ba năm nữa cho nàng lớn khôn (270)
- Bến đò xưa con bóng đương trưa/
Buông lời hỏi bạn kén lừa nữa thôi (854)
- Em đương vút nếp xôi xôi/ Nghe
anh có vợ bồi hồi ruột gan [753]
- Canh ba đương nói đương cười/
Còn hai canh nữa mỗi người một phương
[64]
- Nàng như chim nọ đương bay/ Anh
như con cá mắc rày lưới giăng [543]
5 d t ê ó ứ 5 từ
đương đ ợ dù t e ĩ k á
ừ đương t 270 l á đọ
k á ủ từ đan, t e A V đương có
ĩ l kết đ ơ đát ơ t ú
đ ơ ổ l d t e ặ m y ĩ l
l m á t ú á ổ [ 1; t 335]
ậy từ “đ ơ s ” ở t d
270 l t e ĩ đ lát đ s
ừ đương t á d ò lạ
l á đọ t e m m B ủ từ đang,
l t ế ỉ sự ệ tạ b y ằm ừ
Trang 10đ ớ ị lấy xứ [ 1; t 265]
đương trưa l ê tạ đ lú b t
con bóng đương trưa l đ đứ
bó đứ ọ bó đứ y Cụm
từ y ò ặp t d Gặp mặt
anh đây con bóng đương trưa/ Trách ông
trời sao vội tối mà phân chưa hết lời
- Cửa quyền con bướm lượn lăng
xăng/ Muốn chơi tứ hữu lỗi ngàn tam cang
[570]
- Đàng đi biết mấy dặm trường/ Hỏi
em đã kết cang thường đâu chưa [853]
- Giã ơn em, anh lui kịp nước/ Đạo
can thường chẳng trước thì sau [730]
- Đầu thì cõng chúa/ Vai mang cốt
mẹ/ Tay dắt cha già/ Gặp mặt em nước mắt
nhỏ sa/ Anh lấy vạt áo dà anh chặm/ Điệu
cang thường ngàn dặm chẳng quên [873]
e A V cang l ề tam
cang ở 570 l b ề b ồm q
t ầ p ụ tử p t ê
(tứ l b ề b tô
ồ ợ p ả ở ớ t ế V ữ
can thường hay cang thường l lẽ ằ
í p ép bắt b ở đ [ 1; t 100] C
853 “kết t ” ĩ l kết tì
ồ ợ ý ật t m ỏ
mì từ x xô đế đ y ê k ô b ết ô
á đ ó ơ ô ớ y ?
Cò “đạ t ” “đ ệ
t ” t á 730 837 999 ý
ó ề á lẽ p ả lẽ ở tì ĩ ớ
dứt đạ t ũ dứt á
tì á ĩ ớ
2.11 Tằng văng, nằng nằng, khắn khắn,
tri tri, hân hân, san san
- Mục bất kiến nhĩ cũng tằng văn/
Thấy em có nghĩa mấy trăng anh cũng chờ
(348)
Tằng (tầng) ĩ l đ q e đ t ả
q đ b ết ồ [ 2; t 343] văn là nghe,
văn danh l e t ế quảng kiến văn là
l m đ ể b ết t ữ
mục đồ nhĩ văn ĩ l t e mắt t ấy
[ 2; t 539] C d y ý ó dù
đ ợ tậ mắt ì t ấy ũ đ
đ ợ e ó ề ề l ở t ọ tì
ĩ ủ em ồ ậy ê sẽ để
đ ợ kết ĩ kết tì ớ em dù b l
đ ữ (trăng tứ t t ò t g dùng
để ỉ t á m t lầ t t ò y m t
t ĩ l m t t á ở đ y
ỉ t ó mấy t ó ĩ
l b l ũ đ ợ )
- Tiếc thay con thỏ nằng nằng/ Núp
lùm chờ đợi bóng trăng bấy chầy (542)
- Thuyền dời, bến cũ không dời/ Khắm
khắm một lời quân tử nhứt ngôn (272)
e A V nằng nằng (q yết
m t) l só sả ứ m t bề m t lẽ í
q yết k ô đổ d [ 2; t 70) Khắm khắm m t l i (khắn khắn m t lòng), theo
A V khắn là dính cứ đó ặt,
nhớ khắn khắn là nhớ hoài không thể quên, khắn khắn một lòng là d c m t lòng, quyết
m t lòng [T1; tr.480] Hai chữ khắm khắm
và nằng nằng trong hai câu ca dao trên có
ĩ t ơ đ ơ ỉ sự chắc chắn,
ổ định, quyết liệt k ô t y đổi (trong trạng thái tinh thần hay trạng thái tình cảm)
- Mấy lời năn nỉ tri tri/ Dẫu rằng
sống chết cũng ghi vào lòng (503)
- Rèn lòng vàng đá tri tri/ Dầu ai
thay bạc đổi chì mặc ai (106)
- Rèn lòng vàng đá tri tri/ Một ngày
cũng gọi tương tri với chàng (762)
e A V tri là hay, biết, làm
chủ tri thứ t ơ t tri, tri kỷ,
tiên tri hay chữ tri trong câu tục ngữ Họa
hổ họa bì nan họa cốt/ Tri nhân tri diện bất tri tâm [T2; tr.480], theo chúng tôi chữ tri
t 3 d t ê ó ĩ l đ y
đ b ết đ t ng tận