Lịch sử nước Đức thế kỷ XIX thực chất là lịch sử của các nỗ lực tìm kiếm một phương thức tổ chức cộng đồng phù hợp cho các bên liên quan trên con đường tiến lên thống nhất của các nhóm cư dân nói tiếng Đức ở Trung Âu. Trong tiến trình đó, nước Đức đã trải qua 4 hình thức thể chế liên bang khác nhau trước khi thống nhất hoàn toàn vào năm 1871, gồm: Đế quốc Thần thánh La Mã (962-1806), Liên bang sông Rhine (1806-1813), Liên bang Đức (1815-1866), và Liên bang Bắc Đức (1866-1871).
Trang 1ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY
Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn
CÁC MÔ HÌNH NHÀ NƯỚC LIÊN BANG TRONG LỊCH SỬ NƯỚC ĐỨC TRƯỚC THỐNG NHẤT QUỐC GIA NĂM 1871
The federal state models in German history prior to national unification of 1871
ThS.NCS Nguyễn Mậu Hùng(1), TS Phạm Xuân Vũ(2)
(1) Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
(2) Trường Đại học Sài Gòn
Tóm tắt
Lịch sử nước Đức thế kỷ XIX thực chất là lịch sử của các nỗ lực tìm kiếm một phương thức tổ chức cộng đồng phù hợp cho các bên liên quan trên con đường tiến lên thống nhất của các nhóm cư dân nói tiếng Đức ở Trung Âu Trong tiến trình đó, nước Đức đã trải qua 4 hình thức thể chế liên bang khác nhau trước khi thống nhất hoàn toàn vào năm 1871, gồm: Đế quốc Thần thánh La Mã (962-1806), Liên bang sông Rhine (1806-1813), Liên bang Đức (1815-1866), và Liên bang Bắc Đức (1866-1871) Cả 4 hình thức tổ chức nhà nước liên bang này đều có những đóng góp nhất định cho tiến trình thống nhất nước Đức (1848 – 1871) nói riêng và việc giải quyết các vấn đề nước Đức thế kỷ XIX nói chung Tuy nhiên, chỉ có Đế quốc Thần thánh La Mã và Liên bang Đức mang tính quốc gia dân tộc cho toàn thể các
cư dân nói tiếng Đức, trong khi hai thể chế còn lại chỉ có tính khu vực
Từ khoá: Đế quốc Thần thánh La Mã, Liên bang sông Rhine, Liên bang Đức, Liên bang Bắc Đức, quá
trình thống nhất nước Đức
Abstract
The nineteenth-century German history is actually the history of efforts in search for a suitable form of community organization for related parties on the road to unification of the German-speaking communities in Central Europe In that process, the Germans underwent four different forms of federal constitution before being fully unified in 1871, including the Holy Roman Empire (962-1806), the Confederation of the Rhine (1806-1813), the German Confederation (1815-1866), and the Nothern German Confederation (1866-1871) All four forms of federal state organization mentioned above have certainly contributed to the unification of Germany (1848-1849) in particular and the process of resolving the problems of the nineteenth-century German in general However, only the Holy Roman Empire and the German Confederation were nationalized for all German-speaking residents, while the two remaining institutions were only characterized by regional nature
Keywords: Holy Roman Empire, The Confederation of the Rhine, The German Confederation, The
Northern German Confederation, the unificaiton of Germany
Trang 21 Đặt vấn đề
Quá trình thống nhất nước Đức giữa
thế kỷ XIX là sản phẩm của một loạt các
nhân tố chủ quan và khách quan khác
nhau Quá trình này diễn ra từ các nhóm
cư dân nói tiếng Đức riêng rẽ thành một tổ
chức liên bang của các nhà nước tiểu bang
(Staatenbund) đã phát triển trong một thời
gian dài thông qua các liên minh cả chính
thức lẫn không chính thức giữa các nhà cai
trị hoàng tộc của các vương triều phong
kiến Tuy nhiên, lợi ích cục khác nhau của
các bên tham gia đã cản trở quá trình
thống nhất nước Đức trong gần một thế kỷ
thử nghiệm mang tính độc đoán, bắt đầu từ
thời kỳ của các cuộc chiến tranh chống
Napoléon và kết thúc sau cuộc Chiến tranh
Pháp-Phổ (1870-1871) Trong quá trình
lịch sử đó, cộng đồng các cư dân nói tiếng
Đức đã trải qua bốn hình thức nhà nước
liên bang với các quy mô và mức độ khác
nhau Cùng với sự tan rã của Đế quốc
Thần thánh La Mã (962-1806) là sự ra đời
của Liên bang sông Rhine (1806-1813)
Sau Hội nghị Viên năm 1815, Liên bang
Đức (1815-1866) do Áo đứng đầu được
thành lập đã cùng với các nước lớn đặt ra
mục tiêu duy trì hoà bình và ổn định ở
Trung Âu Tuy nhiên, qua cuộc Chiến
tranh Áo-Phổ năm 1866 nó đã sụp đổ và
mở đường cho sự ra đời của Liên bang
Bắc Đức (1866-1871)
Có thể nói Đế chế Đức năm 1871
chính là sự kế thừa của tất cả các hình thức
thể chế liên bang tiền thân nói trên ở
những mức độ khác nhau Tuy nhiên,
trong số bốn thể chế liên bang đó, Liên
bang sông Rhine (1806-1813) và Liên
bang Bắc Đức (1866-1971) là những giải
pháp mang tính tạm thời của một lực
lượng chính trị đơn phương, trong khi Đế
quốc Thần thánh Rome và Liên bang Đức (1815-1866) không chỉ mang tính quốc gia dân tộc mà còn là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của các bên liên quan Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu sứ mệnh lịch sử của hai thể chế liên bang mang tính quốc gia dân tộc trong quá trình giải quyết vấn
đề nước Đức thế kỷ XIX
2 Các hình thức nhà nước liên bang tiền thân của đế chế Đức năm 1871
2.1 Đế quốc Thần thánh La Mã
Lịch sử hiện đại của nước Đức bắt đầu gắn với sự lụi tàn của Đế quốc Thần thánh
La Mã của dân tộc Đức năm 1806, sự ra đời và phát triển của Liên bang Đức (1815-1866) và cùng với đó là sự phát triển liên tục của chủ nghĩa dân tộc Đức Mặc dù Đế quốc Thần thánh La Mã được xem là đế chế đầu tiên trong lịch sử lập quốc của người Đức, nhưng sự chia cắt của các khu vực vì các yếu tố địa lý đã dẫn đến một kết quả không thể khác được, chính là sự phát triển của những yếu tố có bản sắc khác biệt giữa các khu vực và cộng đồng về tôn giáo, ngôn ngữ, giáo dục, văn hoá trong một thời gian dài Trước năm 1806, các cộng đồng nói tiếng Đức ở Trung Âu bao gồm hơn 300 thực thể chính trị, hầu hết trong số họ đều là thành viên của Đế quốc Thần thánh La Mã hoặc ít nhất cũng là các vùng lãnh thổ rộng lớn thuộc quyền thừa kế của nhà Habsburg Các thực thể chính trị này có quy mô và tầm ảnh hưởng khác nhau từ nhóm dân cư thuộc những vùng đất nhỏ và phức tạp của các gia đình hoàng tộc thứ yếu như Hohenlohe đến các nhóm dân cư, vùng lãnh thổ được phân định rõ ràng, có quy mô lớn như các Vương quốc Bavaria, Vương quốc Phổ
Trang 3Quyền kiểm soát các thực thể chính trị
này cũng rất khác nhau; chúng bao gồm
các thành phố tự do trực thuộc đế chế có
tầm ảnh hưởng khác nhau như thành phố
Augsburg hùng mạnh một bên và bên kia
là một Weil der Stadt nhỏ bé Trong số các
thực thể chính trị nói tiếng Đức ở Trung
Âu đương thời còn có các lãnh thổ của
giáo hội như Tu viện giàu có của
Reichenau và Tổng giám mục quyền uy
của Cologne Ngoài ra, còn có thể chế
mang tính vương triều như Vương quốc
Württemberg Những vùng đất này hoặc
một phần của các vùng đất này1 đã tạo
thành lãnh thổ của Đế quốc Thần thánh La
Mã có những lúc bao gồm hơn 1.000 thực
thể khác nhau trong thực tế Từ thế kỷ XV
trở đi, trừ một vài trường hợp ngoại lệ, các
lãnh chúa có quyền bầu cử của Đế quốc
Thần thánh La Mã thường chọn những
người đứng đầu nhà Habsburg của Áo giữ
danh hiệu Hoàng đế của Đế quốc Thần
thánh La Mã [2, tr 221]
Trong các nhà nước nói tiếng Đức lúc
bấy giờ, cơ chế hành chính và luật pháp
của Đế quốc Thần thánh La Mã là một
công cụ hữu hiệu cho việc giải quyết các
tranh chấp giữa nông dân và chủ đất cũng
như giữa các cơ quan pháp lý Thông qua
việc tổ chức các nhóm quyền lực mang
tính hoàng tộc, các nhà nước có nhiều cơ
hội thống nhất nguồn lực vốn có của mình
thành liên minh để tăng cường xây dựng
những lợi ích mang tính khu vực và tổ
chức liên minh, bao gồm cả hợp tác về
kinh tế và bảo vệ quân sự [5]
Sau cuộc Chiến tranh Liên minh lần
thứ hai (1799-1802), các hiệp ước
Lunéville (1801), Amiens (1802) cùng với
các phương án năm 1803 đã chuyển phần
lớn lãnh thổ của Đế quốc Thần thánh La
Mã sang các nhà nước mang tính vương triều và các vùng lãnh thổ của giáo hội đã được thế tục hoá, nhiều thành phố trực thuộc Đế quốc bị biến mất khỏi sân khấu chính trị và pháp lý của châu Âu Cư dân sống trong các vùng lãnh thổ này buộc phải giành sự trung thành và sự phục tùng của họ cho các công tước và các vị vua thế quyền hơn là cho các thế lực thần quyền đơn thuần Quá trình chuyển đổi này làm cho lãnh thổ của các Vương quốc Württemberg và Baden được mở rộng thêm một cách đáng kể [8, tr 70]
Tuy có sự khác biệt về luật pháp, hành chính và chính trị giữa các nhà nước thành viên khi Đế quốc Thần thánh La Mã sụp
đỗ, nhưng người dân ở các khu vực nói tiếng Đức của Đế chế cũ có chung một truyền thống pháp lý, ngôn ngữ, văn hoá Mặt khác, Chủ nghĩa tự do châu Âu bấy giờ cũng đã tạo nên một nền tảng trí thức
cơ bản cho sự thống nhất của các tiểu bang bằng cách thách thức các mô hình quân chủ và chuyên chế tuyệt đối của các phương thức tổ chức xã hội và chính trị cổ đại [9, tr 49] Biểu hiện về phương diện này chính là việc người Đức thường nhấn mạnh tầm quan trọng của truyền thống, giáo dục, và sự thống nhất ngôn ngữ của các dân tộc trong một khu vực địa lý hơn
là quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế đơn thuần
Sau thất bại của liên quân phong kiến châu Âu chống Pháp lần thứ ba tại Jena và Auerstedt, Napoléon đã ký Hiệp ước Pressburg chính thức giải thể Đế quốc Thần thánh La Mã [2, tr 221; 8, tr 70] Ngày 6 tháng 8 năm 1806, Hoàng đế Francis II của Đế quốc Thần thánh La Mã chính thức tuyên bố thoái vị Nhà nước liên bang đầu tiên của cộng đồng các cư
Trang 4dân nói tiếng Đức ở Trung Âu chính thức
trở thành hiện thực và dư âm của nó vẫn
còn vọng lại trong các phương thức tổ
chức cộng đồng mang tính liên bang về
sau của người Đức
Tóm lại, trong những thập kỷ đầu của
thế kỷ XIX, về phương diện địa chính trị,
chưa có một nước Đức thống nhất mà chỉ
có các vương quốc, đại công quốc, công
quốc, và khu tự trị do các cư dân nói tiếng
Đức sinh sống Mỗi thực thể chính trị như
thế đều được cai trị bởi một nhà chức
trách độc lập với một bộ máy nhà nước
được tổ chức bằng những phương thức
khác nhau nhưng đều có thể gọi là nhà
nước với các trình độ phát triển rất khác
nhau Tuy nhiên, có một dòng chảy tự
nhiên âm thầm đang hướng đến cảm giác
quốc gia và hướng tới một sự liên minh
của những người Đức vào trong một quốc
gia vĩ đại, được cai trị bởi một người đứng
đầu chung như một thực thể quốc gia thực
tế [4]
2.2 Liên bang Đức (1815-1866)
Trong các năm từ 1806 đến 1813,
Napoléon đã tổ chức các nhà nước Đức ở
phía Tây Nam vào trong Liên bang sông
Rhine, nhưng liên bang này bị giải thể dần
dần trong các thất bại của ông từ năm
1812 đến 1815 Sau thất bại của Napoléon
tại Waterloo năm 1815, châu Âu trở lại với
trật tự cũ của các thể chế phong kiến của
thời tiền cách mạng dưới những hình thức
và mức độ khác nhau Hội nghị Viên (1814-1815) của các cường quốc chính là
sự khởi đầu cho một trật tự mới của châu
Âu cho đến khi Thế chiến thứ nhất kết thúc Tiến trình lịch sử của nước Đức trong khoảng thời gian đó và quá trình thống nhất nước Đức (1848-1871) nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những quyết định cũng như cái trật tự mà Hội nghị này mang lại
Liên bang Đức (1815-1866) được thiết lập để đáp ứng an ninh chống lại các mối nguy hiểm từ sự tấn công của các lực lượng bên ngoài cũng như cách mạng từ bên trong Và như một công cụ để cân bằng quyền lực giữa các khu vực, Liên bang Đức (1815-1866) tỏ ra quá mạnh để thu hút tấn công và quá yếu để cảnh báo các nước châu Âu láng giềng Trên phương diện này, những người chiến thắng tại Hội nghị Viên đã hình thành một liên minh chính trị mang đến hoà bình và ổn định cho châu Âu trong hơn một thế hệ thời hậu kỳ kỷ nguyên Napoléon2
Liên bang Đức (1815-1866) được thành lập dựa trên cơ sở Đế quốc Thần thánh La Mã tan rã năm 1806 là một liên
minh thành lập theo điều 9 của Hiệp ước Viên ngày 8 tháng 6 năm 1815 và được củng cố thêm qua một Hiệp ước liên bang khác ngày 15 tháng 5 năm 1820 Các nhà nước tham gia Liên bang Đức (1815-1866) theo hiệp ước 1820 gồm có [1, tr 480]3:
Trang 51
Đế chế Áo (bao gồm cả ngôi vương của Bohemia, Bohemia, Moravia, và vùng Sê-lơ-din (Silesia) của Áo, các vùng đất của Áo như Áo, Carinthia, Carniola, Littoral, Salzburg, Styria, Tyrol, và Vorarlberg)
10 Holstein và Lauenburg (Đan Mạch) 30 Waldeck
15 Saxe-Weimar-Eisenach Hiệp ước năm 1820 cũng bao gồm các
thành viên sau trong Liên bang Đức
21 Holstein-Oldenburg
Ngoài các nhà nước Đức truyền thống,
còn có một số đại diện khác trong Liên
bang Đức (1815-1866) gồm: vua Hà Làn
đại diện cho Luxemburg và Limburg còn
vua Đan Mạch đại diện cho Holstein, vua
Anh đại diện cho Vương quốc Hanover [3]
Năm 1839, Luxemburg được giao lại cho
Bỉ, Công quốc Limburg được thành lập và
trở thành một thành viên của Liên bang
Đức (1815-1866) cho đến năm 1866 Cả
Áo và Phổ đều bao gồm các vùng lãnh thổ không nằm trong phạm vi Liên bang Đức (1815-1866) Bốn thành phố tự do - Hamburg, Lübeck, Bremen, và Frankfurt - được phục hồi trở thành các thành viên của Liên bang Đức do Áo làm chủ tịch [3] Với tư cách là các nhà nước độc lập và
có chủ quyền, mỗi thành viên của Liên bang Đức (1815-1866) đều có các chính sách ngoại giao riêng Quan hệ ngoại giao
Trang 6của các nước này bao gồm quan hệ với các
nhà nước nói tiếng Đức trong Liên bang
Đức (1815- 1866) và với các nước khác
ngoài liên bang Về cơ bản, các nhà nước
Đức thiết lập quan hệ ngoại giao với các
nước khác ngoài các lý do kinh tế và văn
hoá thông thường là vấn đề an ninh Chính
vì thế, mỗi nhà nước trong đó hoặc đứng
về phe Áo hoặc theo Phổ để tìm kiếm chiếc
ô bảo vệ an ninh cho mình Rất ít nước có
khả năng duy trì được nền độc lập của
mình một cách toàn vẹn mà không
cần có bất cứ mối liên kết nào với các
nước lớn
Bộ máy quyền lực có chức năng
pháp lý duy nhất của Liên bang Đức
(1815-1866) là Nghị viện liên bang
(Bundesversammlung hay Bundestag) bao
gồm đại biểu của các nhà nước thành viên
Không có đại biểu chủ toạ, đại biểu của Áo
thường được giao trọng trách điều khiển
nghị viện, nhưng không có các quyền hạn
vượt trội ở Frankfurt Liên bang có thể
chấp nhận đại sứ từ các nước khác, nhưng
hiếm khi có đại sứ của riêng mình đến đó
Trong cuộc cách mạng (1848-1849), Nghị
viện liên bang bị chính các đại biểu của
mình giải thể để nhường chỗ cho Quốc hội
Quốc gia Frankfurt được bầu từ toàn bộ cử
tri hợp lệ của các nhà nước nói tiếng Đức
Nghị viện liên bang được phục hồi năm
1850 theo yêu cầu của Áo và chỉ có thể trở
lại hoạt động bình thường từ năm 1851
Mặc dù về danh nghĩa, Liên bang Đức
(1815-1866) có một Nghị viện liên bang,
nhưng cơ quan này không phải là tập hợp
của các nhóm đại biểu mà là một hình thức
hội nghị của các đại biểu được cử hoặc chỉ
định của các lãnh chúa đang làm chủ các
nhà nước thành viên của Liên bang Đức
(1815-1866) Mặc dù vậy, các nỗ lực để tái
cấu trúc của Nghị viên liên bang cũng có thể xem là một nỗ lực pháp lý trong quá trình thống nhất nước Đức vì nó đại diện cho quyền lực của toàn thể dân tộc
Như đại biểu Georg Rau thừa nhận vào ngày 21 tháng 7 năm 1856 rằng nghị viện liên bang chẳng qua cũng chỉ là một hội nghị của các đại diện chính phủ các nước thành viên của Liên bang Đức (1815-1866) và chính vì thế quốc gia dân tộc không được đại diện trong quá trình hoạch định chính sách của nghị viện liên bang [11, tr 118-119] Sự phát triển của nền kinh tế của cả các tầng lớp giàu có lẫn các tầng lớp khủng hoảng đều cần một hình thức tổ chức cộng đồng mới, trong khi Liên bang Đức (1815-1866) không thể là một phương án thay thế cho cho một nhà nước dân tộc Đức [7, tr 41] Chính vì thế, vấn đề dân tộc Đức thế kỷ XIX của giới quý tộc phong kiến chính là việc bảo vệ Liên bang Đức (1815-1866) với sự tồn tại của các ngôi vương [6, tr 7-8] Theo quan điểm này, Nghị viện liên bang là đại diện cho vấn đề nước Đức thế kỷ XIX của các vương triều phong kiến, đặc biệt là Vương quốc Phổ và Đế chế Áo [6, tr 15]
Áo và Phổ là những thành viên lớn nhất của Liên bang Đức (1815-1866), nhưng cả hai đều có những phần lãnh thổ
và dân cư không thuộc Liên bang Đức (1815-1866), do chúng vốn không thuộc
Đế quốc Thần thánh La Mã trước đây Cả hai nước này đều có một phiếu trong nghị viện Liên bang Đức (1815-1866) Sáu nước khác cũng có một phiếu tương tự là Bavaria, Saxony, Württemberg, Hessen-Kassel, Baden, và Hessen-Darmstadt Ba nước thuộc sở hữu của nước ngoài gồm: Holstein thuộc Đan Mạch, Luxemburg thuộc Hà Lan và Hanover thuộc Limburg
Trang 7và Anh là chỉ có một phiếu trong nghị viện
của Liên bang Đức 1815- 1866 Bốn thành
phố tự do gồm: Bremen, Frankfurt,
Hamburg, và Lübeck, cũng chỉ có một
phiếu trong nghị viện Liên bang Đức
(1815-1866) 23 tiểu quốc khác với các
danh xưng và chức vụ khác nhau chia nhau
5 phiếu còn lại trong nghị viện Liên bang
Đức (1815-1866)
Liên bang Đức (1815-1866) ở Trung
Âu được thiết kế để trở thành một vùng
đệm giữa Pháp, Nga, và Áo-Hung Không
có một cường quốc nào có thể mở rộng
lãnh thổ của mình vào khu vực đó mà
không có sự phản đối của các cường quốc
khác Tuy nhiên, liên minh lỏng lẻo này
được xem là một trong những nguyên nhân
chính và nhân tố chủ đạo cản trở quá trình
thống nhất nước Đức giữa thế kỷ XIX Bản
Hiến chương của Liên bang Đức
(1815-1866) do các cường quốc châu Âu soạn
thảo tại Hội nghị Viên 1815 và thiết chế
cân bằng quyền lực của châu Âu được coi
là một trong số các yếu tố chống lại quá
trình thống nhất nước Đức giữa thế kỷ
XIX Các chi tiết trong bản Hiến chương
của Liên bang Đức (1815-1866) cho phép
quá nhiều yếu tố bất lợi cho quá trình
thống nhất Đức tồn tại Vì vậy, quá trình
thống nhất Đức giữa thế kỷ XIX vì thế gần
như không thể chừng nào Liên bang Đức
(1815-1866) và các lợi ích mà nó ủng hộ
vẫn còn tồn tại
Lãnh thổ của Liên bang lỏng lẻo này
không có sự thay đổi đáng kể nào cho đến
cuộc Chiến tranh Đan Mạch-Phổ lần thứ
hai năm 1864 Kết cục của cuộc chiến này
của Phổ đã đưa Schleswig và Holstein về
tay người Đức Sau cuộc Chiến tranh
Áo-Phổ năm 1866, Áo tuyên bố rút lui, Áo-Phổ
tuyên bố giải thể Liên bang Đức (
1815-1866) và thiết lập Liên bang Bắc Đức cùng năm với các chức năng đầy đủ của một nhà nước Liên bang Bắc Đức (thành lập 1866) dưới sự lãnh đạo của Phổ có 22 nhà nước thành viên phía Bắc sông Main Tuy nhiên, đây là một bước quá độ và giải pháp tình thế của Phổ trên con đường thống nhất nước Đức (1848-1871) hơn là phương án cuối cùng trong quá trình giải quyết vấn đề nước Đức thế kỷ XIX
3 Kết luận
Lịch sử nước Đức cho đến năm 1871
có thể nói là lịch sử của các nổ lực tìm kiếm một hình thức tổ chức cộng đồng phù hợp cho phần lớn nhóm các cư dân nói tiếng Đức ở Trung Âu Hình thức tổ chức cộng đồng đầu tiên mang tính liên bang ấy chính là Đế quốc Thần thánh La Mã (962-1806)4 Sau khi đế chế thứ nhất của người Đức vừa không phải là một đế quốc thần thánh [9, tr 49] vừa không phải là La Mã tan rã5 Liên bang sông Rhine (1806-1813)
ra đời và rồi giải thể dần dần trong các thất bại của Napoléon những năm (1812-1815) [1, tr 480] Liên bang Đức (1815-1866) lỏng lẻo và không hiệu quả được thành lập theo điều 9 của Hiệp ước Viên ngày 8 tháng 6 năm 1815 và củng cố thêm qua một hiệp ước khác ngày 15 tháng 5 năm
1820 [1, tr 480] Số lượng các nhà nước thành viên của liên minh này giao động từ
38 đến 41 trong những thời điểm khác nhau Ngoài các nhà nước Đức, vua Hà Lan đại diện cho Luxemburg và Limburg, còn vua Đan Mạch đại diện cho Holstein6 Cuộc Chiến tranh Áo-Phổ năm 1866 không chỉ đã loại bỏ Áo ra khỏi các vấn đề nội bộ của người Đức mà còn đưa Phổ lên làm chủ Liên bang Bắc Đức (1866-1871) Cả bốn hình thức tổ chức liên bang nêu trên đều có những đóng góp nhất định trong
Trang 8quá trình thống nhất nước Đức giữa thế kỷ
XIX, nhưng chỉ có Đế quốc Thần thánh La
Mã và Liên bang Đức (1815-1866) có
tính đại diện cho sự thống nhất của toàn
thể các cư dân nói tiếng Đức ở Trung Âu,
trong khi Liên bang sông Rhine (1806-
1813) và Liên bang Bắc Đức mang tính
tình thế và trung gian quá độ cho quá trình
thống nhất nước Đức nhiều hơn Mặc dù
vậy, không một hình thức liên bang nào nói
trên tỏ ra thoả mãn và đáp ứng được các
yêu cầu và đòi hỏi của thời đại cũng như
nhu cầu phát triển của tất yếu của người
Đức giữa thế kỷ XIX Chính vì thế, một thể
chế mới ra đời là tất yếu đương nhiên và
điều đó đã diễn ra năm 1871 Đó cũng là
lúc tạm thời khép lại câu chuyện vấn đề
nước Đức thế kỷ XIX
Chú thích:
Hohenzollern của Phổ đều có những vùng đất
riêng nằm bên ngoài phạm vi lãnh thổ của
các cấu trúc chính trị và thể chế chính trị như
đã kể ở trên của Đế quốc Thần thánh La Mã
nào giữa các cường quốc châu Âu trong gần
bốn thập kỷ cho đến cuộc Chiến tranh Crưm
(1853-1856)
quốc và 4 thành phố tự do Nhưng theo HU
1820 thì có 39
nhưng thực chất là của người Đức Trong
tiếng Đức nó có tên là Heiliges Roemisches
Reich der deutschen Nation Trong tiếng
Anh, nó có tên là Holy Roman Empire of the
German Nation
chiến tại Jena và Auerstadt năm 1806,
Napoléon đã ký Hiệp ước Pressburg chính
thức giải thể Đế quốc Thần thánh La Mã
6
Công quốc Limburg được thành lập và trở thành một thành viên của Liên bang Đức
1815-1866 cho đến năm 1866
TAI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Anh
Talboys, David Alphonso (1873) A Manual
of the History of the Political System of Europe and its Colonies, H G Bohn,
London
2 Kann, Robert A (1974) History of the
Habsburg Empire: 1526-1918, University
of California Press, Los Angeles
3 Robertson, C Grant (1915) An historical
atlas of modern Europe from 1789 to 1914 with an historical and explanatory text,
Oxford University Press, Oxford, in: http://www.archive.org/details/historicalatla
s (truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2016)
4 The Situation of Germany (1866) The New
York Times, July 1
5 Vann, James Allen (1975) The Swabian
Kreis: Institutional Growth in the Holy Roman Empire 1648-1715 Vol LII,
Institutions, Bruxelles
Tiếng Đức
6 Doeberl, M (1922) Bayern und die
Deutsche Frage in der Epoche des Frankfurter Parlament, München und Berlin, Druck und Verlag von R Oldenbourg, München
7 Kropat, Wolf-Arno (1981) Das Ende des
Herzogtums Nassau (1850-1866), in:
Herzogtum Nassau 1806-1866, Politik - Wirtschaft - Kultur, Eine Ausstellung des
Landes Hessen und der Landeshauptstadt
Trang 9Erbgroßherzog von Luxemburg, Prinz von
Museum Wiesbaden, 5 April bis 26 July
8 Mann, Golo (2002) Deutsche Geschichte
des 19 und 20 Jahrhunderts, Fischer
Taschenbuch Verlag, Frankfurt am Main
Geschichte 1800-1866, Bürgerwelt und
starker Staat, C H Beck, München
10 Paul, R (2016) Deutsche Geschichte von
1806 bis 1871, in: http://www.dhg- westmark.de/Deutsche-Geschichte-1806-1871.pdf (truy cập ngày 22 tháng 6 năm
2016
11 Schüler, Winfried (Hrg.) und Reyer,
Parlamentsdebatte, Band 2, Revolution und
Ngày nhận bài: 22/07/2018 Biên tập xong: 15/12/2018 Duyệt đăng: 20/01/2019