1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Văn học dân gian của người Kinh Trung Quốc và người Kinh Việt Nam dưới góc nhìn so sánh

9 117 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 401,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tập trung tìm hiểu những đặc trưng của văn học dân gian người Kinh Trung Quốc và người Kinh Việt Nam dựa trên ba hệ thống thể loại chính là truyện kể dân gian, ca dao dân ca và thơ tự sự dân gian.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn

VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA NGƯỜI KINH TRUNG QUỐC

VÀ NGƯỜI KINH VIỆT NAM DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH

Chinese Kinh’s and Vietnamese Kinh’s folklore from comparative perspective

ThS Nguyễn Thanh Phong

Trường Đại học An Giang

Tóm tắt

Bài viết tập trung tìm hiểu những đặc trưng của văn học dân gian người Kinh Trung Quốc và người Kinh Việt Nam dựa trên ba hệ thống thể loại chính là truyện kể dân gian, ca dao dân ca và thơ tự sự dân gian Bằng phương pháp so sánh, bài viết chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của hai bên ở từng thể loại Qua đó, phân tích sự tiếp nhận và ảnh hưởng, sự chuyển hóa và sáng tạo của văn học dân gian người Kinh Trung Quốc từ cội nguồn của nó là văn học dân gian người Kinh Việt Nam

Từ khóa: dân tộc Kinh, Trung Quốc, văn học dân gian, Việt Nam

Abstract

The article focuses on understanding the characteristics of the Chinese Kinh’s folklore and the Vietnamese Kinh’s folklore based on three main systems: folk stories, folk songs and folk tales By using comparative method, the article shows the similarities and differences of the both Thereby, it analyzes the reception and influence, transformation and creation of the Chinese Kinh’s folklore from its roots, the Vietnamese Kinh’s folklore

Keywords: Kinh, China, folklore, Vietnam

1 Người Kinh và văn học dân gian

của người Kinh Trung Quốc

Nếu ở Việt Nam, người Kinh là dân

tộc chủ thể chiếm phần lớn dân số thì ở

Trung Quốc, người Kinh (Kinh tộc) là một

dân tộc thiểu số trong cộng đồng 56 dân

tộc mà người Hán là dân tộc chủ thể Dân

số người Kinh ở Trung Quốc khoảng

28.000 người (năm 2012), thuộc nhóm các

dân tộc thiểu số có tỉ lệ dân số thấp Người

Kinh sống tập trung chủ yếu trên ba hòn

đảo là Vu Đầu, Vạn Vĩ, Sơn Tâm (người

địa phương quen gọi là Kinh tộc Tam Đảo)

Cát, Hồng Khảm, Trúc Sơn) thuộc thành phố Đông Hưng (cấp huyện), thị trấn Giang Bình, thành phố Phòng Thành Cảng (cấp thị), Khu tự trị dân tộc Choang, tỉnh Quảng Tây

Thế kỉ XIX trở về trước, vùng đất này thuộc địa phận Việt Nam, là nơi tụ cư sinh sống lâu đời của người Kinh Năm 1887, chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương đã kí với triều đình nhà Thanh hiệp ước phân định biên giới Trung Việt, khu vực Kinh tộc Tam Đảo từ đó nằm trong lãnh thổ Trung Quốc (Nguyễn Tô Lan &

Trang 2

các nhóm người Hán, Choang cũng lần

lượt di cư đến đây, cùng người Kinh thông

hôn, dẫn đến tình trạng hỗn huyết ngày

càng phổ biến, tạo thành cộng đồng đa sắc

tộc cùng sinh sống Trong đó nhiều nhất

vẫn là người Kinh Môi trường tự nhiên và

xã hội đó là nơi người Kinh sinh tồn qua

bao thế hệ, là bối cảnh cho các tác phẩm

văn học dân gian lưu truyền bằng phương

thức truyền miệng ra đời

Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã

chia văn học người Kinh thành 3 thời kì

phát triển: (1) Văn học cổ đại (1511 –

1839): là thời kì phát triển mạnh mẽ của

văn học dân gian và văn học viết người

Kinh trong dòng chảy chung của văn học

Việt Nam dưới chế độ phong kiến; (2) Văn

học cận hiện đại (1840 – 1949): là thời kì

văn học dân gian tiếp tục hình thành và

phát triển mạnh dưới chế độ thực dân

phong kiến ở Việt Nam và sau đó là Trung

Quốc; (3) Văn học đương đại (1949 – nay):

là thời kì phát triển mạnh của văn học viết

người Kinh trong công cuộc xây dựng chủ

nghĩa xã hội ở Trung Quốc (Tô Duy Quang

& Qua Vĩ & Vi Kiên Bình, 1993, 8).

Kết quả nghiên cứu cho thấy, văn học

người Kinh Trung Quốc mang nhiều điểm

chung với văn học người Kinh Việt Nam,

thế nhưng cũng nổi bật nhiều điểm khác

biệt như sau: (1) trong khi văn học viết

đang phát triển và lưu truyền mạnh mẽ

trong dòng chảy văn học dân tộc thì văn

học người Kinh Trung Quốc lại phát triển

theo hướng dân gian hóa, thành tựu chủ

yếu là văn học truyền miệng; (2) văn học

dân gian người Kinh Trung Quốc do hình

thành trên nền tảng địa văn hóa biển đảo,

nên nội dung phản ánh chủ yếu là thế giới

tự nhiên và xã hội biển đảo thông qua con

mắt quan sát của ngư dân, khác với văn

học dân gian người Kinh Việt Nam mang tính lục địa rõ rệt; (3) vì hình thành trong bối cảnh giao lưu văn hóa mật thiết với người Hán và người Choang, nên văn học dân gian người Kinh Trung Quốc cũng thể hiện màu sắc dung hợp văn học bản địa với văn học ngoại lai cao độ, trong khi đó văn học dân gian người Kinh Việt Nam ít chịu ảnh hưởng văn học dân gian các dân tộc khác hơn; (4) do duy trì truyền thống ca hát của làng xã Bắc Bộ, kết hợp với hoàn cảnh lao động sản xuất gắn liền với biển đảo, nên trong văn học dân gian người Kinh Trung Quốc, thể loại ca dao, dân ca gắn liền với nhiều hình thức diễn xướng phát triển nổi trội hơn so với trong văn học dân gian người Kinh Việt Nam; (5) do hành trang tinh thần mang theo trong quá trình

di dân là những thành tựu văn học dân gian

và văn học viết lưu truyền phổ biến từ thế

kỉ XVI về sau, nên hệ thống thần thoại, truyền thuyết nguyên thủy gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước ở Việt Nam thời kì đầu không được lưu truyền ở đây Văn học dân gian của người Kinh Trung Quốc, trên thực tế, cũng là một bộ phận của văn học dân gian người Kinh Việt Nam Di sản còn lại sau bao nhiêu biến cố, tính từ khi khu vực người Kinh cư trú không còn nằm trong lãnh thổ Việt Nam, dĩ nhiên là bộ phận tinh túy nhất, giá trị nhất không thể nào bị mai một trong kho kí ức tinh thần của người lao động Trong quá trình di cư và truyền thừa qua nhiều thế hệ,

bộ phận văn học dân gian tiếp tục nảy nở trên môi trường văn hóa tự nhiên và xã hội bản địa Sự tiếp xúc mạnh mẽ với văn học dân gian người Hán và người Choang cũng

là tác nhân quan trọng làm nên sự tươi mới, phong phú, đa dạng cho nền văn học dân gian người Kinh Trung Quốc

Trang 3

Nếu văn học dân gian người Kinh ở

Việt Nam có hệ thống thể loại phong phú,

bao gồm thể loại thuộc lời ăn tiếng nói của

nhân dân (tục ngữ, thành ngữ, câu đố), các

thể loại tự sự dân gian (thần thoại, truyền

thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn,

truyện cười, vè), các thể loại trữ tình dân

gian (ca dao, dân ca) và các thể loại sân

khấu dân gian (chèo, tuồng); thì hệ thống

thể loại trong văn học dân gian người Kinh

Trung Quốc không đa dạng bằng Trong

nhóm lời ăn tiếng nói của nhân dân, tục

ngữ người Kinh chiếm số lượng đáng kể,

thế nhưng do giao lưu ngôn ngữ với người

Hán quá mật thiết, sự tiếp nhận cách dụng

ngữ của người Hán quá sâu đậm, nên bản

sắc riêng của người Kinh trong tục ngữ có

phần hạn chế Trong nhóm thể loại tự sự

dân gian người Kinh, thành tựu nổi bật là

truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ

ngôn, các thể loại khác tuy cũng có nhưng

số lượng không nhiều Trong nhóm thể

loại trữ tình dân gian, ca dao - dân ca

người Kinh chiếm số lượng khá lớn, đặc

biệt là dân ca lao động, dân ca sinh hoạt và

dân ca lễ nghi phong tục Chèo sân đình

không phổ biến trong cộng đồng người

Kinh, thế nhưng các hình thức diễn xướng

dân gian gắn liền với lễ nghi ở đình làng

lại khá phổ biến

Truyện thơ Nôm bác học hay bình dân

của người Kinh từ trước đến nay không

được các nhà khoa học Việt Nam xếp vào

hệ thống thể loại văn học dân gian, mặc dù

nó vẫn được phổ biến khá rộng rãi trong

quần chúng lao động Nguyên nhân là vì

chúng là những sáng tác thành văn do giới

quan lại tầng lớp trên hoặc giới trí thức

Nho học sáng tác hoặc phỏng tác, diễn

Nôm từ nguyên tác chữ Hán của Trung

Quốc Còn truyện thơ Nôm của người

Kinh ở Trung Quốc, xét về mức độ dân gian hóa, có thể nói đậm đà hơn so với môi trường diễn xướng ở Việt Nam Bởi lẽ, đa

số người Kinh ở đây trước kia không biết chữ Nôm, nên các tác phẩm này được lưu truyền chủ yếu qua phương thức truyền miệng trong dân gian, kiểu người già ngâm đọc giải khuây, ông bà ngâm ngợi cho con cháu nghe, cha mẹ hát ru cho con cái ngủ, trai gái hát diễn trong hội làng.v.v Chính hoàn cảnh diễn xướng đó khiến các truyện thơ này không ngừng được cải biên và sáng tạo, thậm chí thành cả truyện cổ tích, truyện văn xuôi; dần mang hình hài, sinh mệnh giống như một tác phẩm văn học dân gian thực thụ Hơn nữa, do môi trường địa văn hóa đặc thù, người dân sống dựa vào nghề đánh cá thường xuyên lênh đênh trên biển, khoảng cách không gian thường dễ khơi gợi tâm sự trong lòng người đi kẻ ở Truyện thơ Nôm với muôn vàn cảnh huống thế sự, là phương tiện kí thác nỗi niềm, tâm trạng hữu hiệu nhất của ngư dân Vì tính dân gian sâu đậm đó, đồng quan điểm với tác giả Kiều Thu Hoạch, trong bài viết này, chúng tôi xem truyện thơ Nôm như các thành tựu văn học dân gian khác của người Kinh

Người Kinh Trung Quốc có một nền văn học dân gian khá đặc sắc Nó là tấm gương phản chiếu toàn bộ đời sống vật chất lẫn tinh thần của họ dưới xã hội phong kiến trong hành trình di cư, định cư và chinh phục biển cả Với tư cách là một cộng đồng dân cư trong lãnh thổ Việt Nam

từ trước 1887, người Kinh Trung Quốc sở hữu một nền văn học dân gian mà một bộ phận trong đó hoàn toàn có thể quy thuộc vào văn học dân gian người Kinh Việt Nam Còn với tư cách là nền văn học dân gian của một dân tộc thiểu số ở Trung

Trang 4

Quốc, văn học người Kinh ngang hàng về

tư cách với văn học các dân tộc thiểu số

khác, cùng góp phần làm đa dạng hơn nền

văn học dân gian của quốc gia này

2 Truyện kể dân gian người Kinh

Trung Quốc

Số lượng truyện kể dân gian của người

Kinh Trung Quốc hiện nay chúng tôi sưu

tầm được còn khá hạn chế (khoảng 70

truyện) Chúng lại đối mặt với khả năng bị

mai một dần do thất truyền Điều này là

khó tránh khỏi bởi lẽ dân số người Kinh

Tam Đảo ít, phạm vi lưu truyền nhỏ hẹp,

những nghệ nhân lớn tuổi có khả năng kể

chuyện dần dần qua đời, nhu cầu tiếp nhận

truyện kể dân gian của thế hệ sau ngày

càng mất đi do các phương tiện truyền

thông nghe nhìn chiếm ưu thế và sức mạnh

văn hóa người Hán không ngừng lấn át

Một nguyên nhân quan trọng nữa là do đời

sống chính trị Trung Quốc suốt thế kỉ XX

quá nhiều biến động, cuộc Cách mạng Văn

hóa (1966-1969) đã thi hành những chính

sách sai lầm về văn hóa khiến cho nền văn

học dân gian người Kinh, cũng giống như

số phận nền văn học cổ điển Trung Quốc,

phải chuốc lấy bao nhiêu tai họa

Trong hệ thống truyền thuyết người

Kinh Việt Nam, truyền thuyết về nguồn

gốc dân tộc và quá trình dựng nước giữ

nước trong thời kì Văn Lang, Âu Lạc

chiếm số lượng đến hàng chục truyện

Tiếp theo là nhóm truyền thuyết về các

anh hùng dân tộc lãnh đạo các cuộc khởi

nghĩa chống lại các triều đại phong kiến

Trung Quốc xâm lược trong suốt chiều dài

lịch sử đất nước Trong khi đó, truyền

thuyết người Kinh Trung Quốc về nguồn

gốc lịch sử dân tộc và quá trình chống

phong kiến phương Bắc xâm lược hoàn

toàn thiếu vắng, thay vào đó là truyền

thuyết hình thành địa hình, địa danh Tam Đảo và truyền thuyết về anh hùng chống

Pháp như Kinh đảo truyền thuyết, Tam đảo

truyền thuyết, Làng chài chống giặc, Kế đậu vàng, Quân bay trên vách núi, Đóng

bè vượt biển.v.v Điều này chắc chắn có

liên quan đến việc người Kinh sinh sống gần khu vực người Hán và chịu ảnh hưởng bởi thói quen tư duy và lập trường dân tộc Hán Có khả năng thời kì đầu, những truyền thuyết này vẫn lưu truyền khá phổ biến trong cộng đồng người Kinh Tam Đảo, thế nhưng trong quá trình truyền thừa, nó bị mai một dần và đến nay có lẽ

đã mất hẳn Trong phạm vi truyện kể dân gian người Kinh Trung Quốc mà chúng tôi

có thể tiếp cận, vẫn còn khá rõ dấu ấn của truyền thuyết người Kinh Việt Nam như

Thánh Gióng, Sơn Tinh – Thủy Tinh qua

một số tình tiết, chi tiết đan xen trong tác phẩm Cũng có khả năng những truyền thuyết này vẫn được lưu hành ở phạm vi hẹp nào đó trong cộng đồng người Kinh,

mà đứng từ lợi ích quốc gia và lập trường dân tộc, chúng không được giới thiệu rộng rãi trong xã hội

Cũng giống như trong văn học dân gian người Kinh Việt Nam, truyện cổ tích chiếm giữ một vai trò quan trọng trong kho tàng truyện kể dân gian người Kinh Trung Quốc Tuy nhiên, truyện cổ tích người Kinh ở Việt Nam ra đời trong khoảng thời gian dài từ sau thời Âu Lạc bị thôn tính kéo dài suốt hai nghìn năm đến hết thời phong kiến, trong khi truyện cổ tích người Kinh Trung Quốc đa phần ra đời trong vòng 500 năm trở lại đây gắn liền với địa bàn định

cư mới Phần lớn truyện kể dân gian người Kinh Trung Quốc do chính bản thân họ sáng tạo ra, gắn liền với hoàn cảnh tự nhiên

và văn hóa bản địa vùng Tam Đảo như

Trang 5

Thiên thần chuộc tội, Bia võ sĩ, Người đi

săn trừ yêu, Châu Tử diệt rồng tinh, Điền

Đầu Công, Hải Hoa và Hải Sinh, Cuộc kì

ngộ của tiều phu, Tướng quân cóc.v.v Bên

cạnh đó, một số ít truyện kể ra đời sớm hơn

có nguồn gốc lục địa Việt Nam như Chị

Tấm và em Cám, Chiếc nồi thần, Cây khế,

Đánh trống bắt trộm.v.v Có thể thấy nhiều

dấu ấn của truyện cổ tích người Kinh Việt

Nam ẩn tàng một cách vừa rõ rệt, vừa vi tế

trong các truyện kể dân gian người Kinh

Trung Quốc Điều này rõ ràng cho thấy

mối quan hệ sâu sắc của văn học dân gian

người Kinh hai nước, đồng thời thể hiện óc

sáng tạo của người Kinh Trung Quốc trong

hành trình chinh phục tự nhiên và quan sát,

lí giải cuộc sống Truyện kể dân gian người

Hán, người Choang cũng được người Kinh

hấp thu, dung nạp để làm giàu thêm cho

kho tàng văn học dân gian của dân tộc

mình Đó là những biểu hiện hoàn toàn

bình thường, nhưng cũng không kém phần

thú vị của một nền văn học dân gian đang

tồn tại và hành chức

Trong khi truyện ngụ ngôn người Kinh

Việt Nam có số lượng khá lớn, thế giới

nhân vật trong đó tương đối đa dạng, phần

lớn là loài vật, cây cỏ, trăng sao, các bộ

phận cơ thể người, còn triết lí phản ánh vô

cùng phong phú; thì truyện ngụ ngôn của

người Kinh Trung Quốc hiện sưu tầm được

rất ít, chỉ còn thấy 3 truyện là Lươn trắng

và Hạc cổ dài, Hổ và ốc, Cua đực và cua

cái Nhân vật hầu hết đều là loài vật, bao

gồm các loài vật dưới biển, loài vật trên

rừng núi, nên trước mắt triết lí được ngụ

ngôn còn thấy nghèo nàn

Mặc dù không phong phú về số lượng,

tiểu loại, đề tài so với truyện kể dân gian

người Kinh Việt Nam, thế nhưng nhìn

chung, bộ phận văn học này của người

Kinh Trung Quốc đã phản ánh nhiều phương diện đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp cư dân, đặc điểm diện mạo

xã hội nơi mà họ từng tụ cư trong quá khứ

3 Ca dao, dân ca người Kinh Trung Quốc

Cũng giống ca dao, dân ca người Kinh Việt Nam, bộ phận văn học này của người Kinh Trung Quốc có nguồn gốc hình thành

từ rất lâu đời, tích lũy qua nhiều thế hệ, sáng tác và lưu truyền kéo dài hàng mấy thế kỉ Người Kinh nói chung vốn rất ưa chuộng thơ ca, bao gồm cả thơ chữ Hán lẫn thơ chữ Nôm Thế nhưng, đối với tầng lớp bình dân, thơ chữ Hán vẫn khá xa lạ bởi tính bác học, hàm súc, trừu tượng khó hiểu của nó Còn thơ ca sử dụng ngôn ngữ dân tộc, dù đa số người dân không biết chữ Nôm nhưng vẫn có thể diễn ngâm chúng, lưu truyền rộng rãi chúng qua phương thức

truyền miệng Đó là lí do tại sao Chinh

phụ ngâm của Đặng Trần Côn lại không

được biết đến nhiều như Chinh phụ ngâm

khúc diễn ca của Đoàn Thị Điểm, hay Tì

bà hành của Bạch Cư Dị lại không nổi

tiếng bằng bản dịch Tì bà hành của Phan

Huy Thực Đối với cư dân người Kinh chủ yếu sinh sống bằng lao động chân tay, thì hiện tượng này càng hiển nhiên và phổ biến hơn

Về ngôn ngữ, trong khi truyện kể dân

gian được kì lão người Kinh lưu truyền bằng cả tiếng Kinh, tiếng Hán nói theo âm địa phương (tiếng Pạc-và) và cả tiếng Hán phổ thông thì ca dao, dân ca người Kinh chủ yếu được diễn xướng bằng tiếng Kinh

Dĩ nhiên, thứ tiếng này có chung nguồn gốc ngữ âm với tiếng Việt của người Kinh Việt Nam, tuy nhiên do quá trình di cư lâu dài, lại sống cách biệt trong lãnh thổ Trung Quốc, thường xuyên tiếp xúc với ngôn ngữ

Trang 6

các tộc người khác nên vỏ ngữ âm của

tiếng Kinh Trung Quốc cũng khác nhiều so

với tiếng Việt của người Kinh Việt Nam

Chính loại ngôn ngữ này mới kết hợp hài

hòa với các làn điệu dân ca truyền thống,

mới chuyển tải được muôn màu muôn vẻ

đời sống người dân, mới gần gũi với thói

quen tư duy, đặc điểm tâm lí, tình cảm

người bình dân, mới có thể khiến cho ca

dao, dân ca người Kinh được bảo tồn và

lưu truyền rộng rãi qua nhiều thế hệ Tuy

nhiên, hiện nay, giới sưu tầm ca dao, dân

ca người Kinh chủ yếu lại dùng chữ Hán

để ghi chép dưới dạng các văn bản Hán

dịch Dù có nhiều cố gắng trong việc bảo

lưu nguyên trạng, nhưng việc đánh mất cái

hay của nhịp điệu, gieo vần trong các bài

ca dao, dân ca truyền thống là điều khó

tránh khỏi

Ca dao, dân ca người Kinh Việt Nam

ra đời và lưu truyền trong một phạm vi

lãnh thổ rộng lớn từ Bắc chí Nam, chủ thể

sáng tạo cũng rất đa dạng, bao gồm nhiều

tầng lớp trong xã hội mà cốt yếu là người

lao động bình dân Vì vậy, số lượng tác

phẩm đồ sộ, phản ánh sâu sắc, toàn diện

đời sống người dân ở cả ba miền Bắc,

Trung, Nam Do sự trải rộng về mặt địa lí,

sự khác biệt về hoàn cảnh sống và đặc

trưng văn hóa vùng miền, nên ca dao, dân

ca người Kinh có tính đa dạng và phân hóa

cao độ Chúng thường gắn liền với từng

khu vực địa lí, thậm chí từng tỉnh thành,

vùng miền, chẳng hạn miền Bắc có Quan

họ Bắc Ninh, miền Trung có hát ví giặm

Nghệ Tĩnh, hò Huế, miền Nam có các điệu

lí Nam bộ, hát đối Gò Công, hò đối đáp

Đồng Tháp.v.v Trong khi đó, ca dao, dân

ca người Kinh Trung Quốc do được hình

thành trong phạm vi không gian nhỏ hẹp,

không bị phân hóa bởi khác biệt vùng

miền, nên đạt được sự thuần nhất cao độ, là tài sản tinh thần chung của cả cộng đồng

Ở điểm này, ca dao, dân ca người Kinh Trung Quốc có chức năng, đặc tính giống như ca dao, dân ca ở một vùng miền, địa phương cụ thể của Việt Nam

Khảo sát khoảng 100 bài ca dao, dân

ca người Kinh sưu tầm được, có thể thấy chúng đã phản ánh đa diện đời sống kinh

tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng này ở Trung Quốc Đa phần các bài ca dao, dân

ca đều ra đời trên mảnh đất Tam Đảo, phản ánh môi trường địa lí, lịch sử, phong tục, văn hóa bản địa, đồng thời thể hiện ý thức thẩm mĩ có nhiều điểm chung lẫn những khác biệt với người Kinh Việt Nam Ở chỗ, đặc trưng thẩm mĩ của nền sản xuất nông nghiệp lúa nước dù còn nhưng đã nhạt nhòa đi, trong khi đó, đặc trưng thẩm mĩ của nền sản xuất ngư nghiệp ven biển ngày càng đậm đà hơn Chúng phần nào có sự tiếp nhận chất liệu thơ ca cổ điển và thơ ca dân gian người Hán

Nếu ca dao, dân ca của các tộc người khác ở Trung Quốc thường lấy thể thơ ngũ ngôn, thất ngôn làm hình thức chuyển tải chủ yếu, thì ca dao, dân ca người Kinh Trung Quốc lại lấy thể thơ lục bát, song thất lục bát và những biến thể của nó làm hình thức chuyển tải chủ yếu, đương nhiên cũng có những bài sử dụng thể thơ ngũ ngôn và thất ngôn nhưng số lượng không nhiều Điều này rõ ràng cho thấy mối quan

hệ văn học khăng khít xa xưa của ca dao, dân ca người Kinh hai nước Hay nói cách khác, ca dao, dân ca người Kinh Trung Quốc có chung cội nguồn với ca dao, dân

ca người Kinh Việt Nam

Về yếu tố nhạc điệu trong ca dao, dân

ca người Kinh, theo sưu tầm của học giả Trung Quốc Trần Học Phác, hiện nay có

Trang 7

khoảng 30 điệu lí khác nhau đang được lưu

truyền ở đây, có thể chia làm các loại: sơn

ca, hải ca, tình ca, hôn ca, ngư ca, tự sự

ca với những đặc trưng âm điệu khác

nhau Vì thường xuyên sử dụng thể thơ lục

bát với cách ngắt nhịp chẵn, nên các bài

dân ca cũng được hát theo nhịp chẵn kiểu

thơ lục bát Hơn nữa, ngư dân người Kinh

Tam Đảo vì quen sống bằng nghề cá,

thường xuyên ra khơi đánh bắt, nên tiết tấu

các bài hát thường kết hợp chặt chẽ với

động tác lao động như chèo thuyền, kéo

lưới, đẩy thuyền vào bờ Nhạc điệu của

dân ca người Kinh rất giống tính cách của

biển, có khi tình ý cao vút mênh mông, dạt

dào lai láng, có khi thâm trầm uyển

chuyển, pha lẫn sự dõng dạc hùng hồn

Còn giọng hát có lúc trầm bổng nhấp nhô

như ba đào biển động, cũng có lúc bình

tĩnh như biển lặng sóng nhẹ dào dạt vỗ bờ

Tóm lại, chính ca dao, dân ca là nơi

gửi gắm niềm tự hào dân tộc, phản ánh

nhận thức của con cháu về lịch sử di cư và

định cư của tổ tiên, miêu tả hoạt động lao

động sản xuất và niềm vui bội thu của

người dân, phản kháng những kẻ thống trị

xấu xa và bọn địa chủ bóc lột, thể hiện tình

yêu và hôn nhân đôi lứa, bày tỏ tình cảm

thắm thiết gia đình.v.v Ca dao, dân ca đã

truyền tải tiếng nói nội tâm, nhận thức cuộc

sống, ý thức thẩm mĩ và trí tuệ tập thể của

cư dân người Kinh Tam Đảo

4 Thơ tự sự dân gian người Kinh

Trung Quốc

Thơ tự sự dân gian, hay còn gọi là

truyện thơ Nôm, là những tác phẩm văn

học do các trí thức bác học lẫn nhân dân

lao động sáng tác và truyền miệng qua các

đời, có tình tiết sự kiện và hình tượng nhân

vật, sử dụng các thể thơ dân gian hoặc kết

hợp văn xuôi với văn vần Có thể dựa vào

nội dung phản ánh tạm chia thành các loại: thơ tự sự thần thoại, thơ tự sự anh hùng, thơ tự sự sinh hoạt và thơ tự sự tình yêu [7] Hầu hết các tác phẩm này đều vừa tồn tại dưới dạng truyện kể dân gian, vừa tồn tại dưới dạng truyện thơ Nôm khuyết danh,

có thể được diễn xướng bằng hình thức hát

ca để lưu truyền

Xét về nguồn gốc, có thể nhận ra một điều rằng, những tác phẩm trên một phần

có nguồn gốc từ tiểu thuyết chương hồi, tiểu thuyết thoại bản, truyện kể dân gian,

truyện dã sử Trung Quốc như Nhị độ mai,

Kim Vân Kiều truyện, Hoa Tiên truyện, Lương Sơn Bá dữ Chúc Anh Đài, Lưu Bình Dương Lễ.v.v Chúng đã được cải biên bởi

tác giả hữu danh và khuyết danh Việt Nam, được viết bằng hình thức thơ với ngôn ngữ diễn đạt là chữ Nôm, nên đã được Việt hóa cao độ Bộ phận còn lại là truyện thơ Nôm hoàn toàn do các tác giả Việt Nam sáng tác

như Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán

ngâm khúc, Tống Trân Cúc Hoa, Cái Vương cố sự, Liễu Hạnh công chúa, Quan

Âm Thị Kính.v.v Tất cả được người Kinh

Tam Đảo mang theo trong quá trình di dân

và lưu truyền tại đây qua nhiều thế hệ Trong quá khứ, những câu chuyện về đạo đức nhân luân, tình yêu nam nữ được lưu truyền phổ biến trong khu vực sinh sống người Kinh Những tác phẩm này, bất

kể tồn tại dưới dạng truyện thơ dùng để ca ngâm hay truyện văn xuôi dùng để kể nói đều phản ánh quan niệm về thế giới, đạo đức, thẩm mĩ, đồng thời thể hiện khát vọng cuộc sống đầy tính nhân văn của người Kinh Trung Quốc

Các truyện thơ Nôm đã chú ý xây dựng tính cách và hình tượng nhân vật, từ

cử chỉ, ngoại hình, ngôn ngữ đến phẩm chất, cá tính Tình tiết cốt truyện cũng phức

Trang 8

tạp và biến đổi khó lường, chất tự sự và

chất trữ tình đan xen tạo nên màu sắc bóng

bẩy, sinh động cho tác phẩm Điều này

khiến cho giá trị nghệ thuật của tác phẩm

được nâng lên tầm cao mới Tầm cao này

có được nhờ sự dung dưỡng suốt mấy trăm

năm của nền văn học viết dân tộc, đồng

thời hấp thu dưỡng chất từ văn học Trung

Quốc thời Minh – Thanh Thế nhưng, đây

không phải là những điều đặc thù của

truyện thơ Nôm người Kinh Trung Quốc so

với ở Việt Nam, mà cái làm nên sự khác

biệt đó là những biến đổi về mặt tình tiết,

cốt truyện, nhân vật, bối cảnh, phương thức

tự sự so với tác phẩm gốc; ngoài ra còn có

sự khác biệt về phương thức diễn xướng và

lưu truyền trong dân gian

Dù truyện thơ Nôm được xếp vào

nhóm văn học dân gian của người Kinh

Trung Quốc, thế nhưng qua những tác

phẩm tiêu biểu trên, có thể thấy rằng chúng

mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả, đồng

thời phản ánh tư duy nghệ thuật – thẩm mĩ

của dân tộc đã phát triển đến một trình độ

cao, chín muồi mà tác phẩm văn học dân

gian khó thể nào đạt đến Nhìn từ góc độ

này thì việc quy loại truyện thơ Nôm vào

nhóm văn học dân gian là không phù hợp

Nhưng nếu nhìn từ góc độ hình thức diễn

xướng và phương thức lưu truyền, có thể

thấy các truyện thơ Nôm này đóng vai trò

như một tác phẩm văn học dân gian trong

đời sống tinh thần cộng đồng người Kinh

5 Kết luận

Văn học dân gian của người Kinh

Trung Quốc là thành quả tinh thần được

tích lũy và lưu truyền qua nhiều thế hệ

trong cộng đồng Vốn có nguồn gốc sâu xa

từ nền văn học dân gian của người Kinh

Việt Nam, văn học dân gian người Kinh

Trung Quốc đã hấp thu dưỡng chất từ nền

tảng văn hóa màu mỡ ấy của cội nguồn dân tộc, nhưng do sinh trưởng trong bối cảnh địa lí, chính trị, xã hội ở Trung Quốc suốt thời gian hàng trăm năm, bộ phận văn học này đã tách rời và phát triển theo một hướng đi độc đáo riêng

Về nội dung, văn học dân gian người

Kinh Trung Quốc đã phản ánh một cách đa diện đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng người Kinh Trung Quốc Một phần trong đó là diện mạo xã hội Việt Nam trong quá khứ xa xưa, phần còn lại là bức tranh đời sống người Kinh trên địa bàn cư trú mới tại Tam Đảo, Quảng Tây, Trung Quốc, nơi đó có sự hỗn dung đa sắc tộc, đa ngôn ngữ, đa văn hóa làm cho văn học người Kinh trở nên linh hoạt, hấp thu, dung nạp, biến hóa không ngừng Dù vậy, nó vẫn kết nối chặt chẽ với văn học dân gian của người Kinh ở Việt Nam

Về đặc tính, văn học dân gian người

Kinh Trung Quốc cũng mang những đặc tính phổ quát của mọi nền văn học dân gian nói chung, và văn học dân gian của người Kinh Việt Nam nói riêng, là tính truyền miệng, tính tập thể, tính nguyên hợp, tính đa chức năng, tính vô danh, tính

dị bản, tính truyền thống, tính địa phương, tính quốc tế… Tuy nhiên, so với văn học dân gian người Kinh Việt Nam, văn học dân gian người Kinh Trung Quốc còn thể hiện rõ rệt những đặc tính: tính dung hợp trong giao lưu văn hóa, văn học các dân tộc; tính đa nguyên về nội dung tư tưởng; tính đa dạng về phương thức phản ánh, thủ pháp nghệ thuật; tính giao thoa, chuyển tiếp giữa văn học dân gian và văn học viết; tính đa dạng về ngôn ngữ truyền đạt, diễn xướng; tính biển đảo gắn liền bản sắc văn hóa bản địa

Về mặt thể loại, nổi trội trong văn học

Trang 9

dân gian người Kinh Trung Quốc là truyện

cổ tích, ca dao, dân ca, thơ tự sự dân gian

Các thể loại khác như tục ngữ, câu đố,

thành ngữ, truyện cười, truyện ngụ ngôn,

vè mặc dù cũng tồn tại nhưng số lượng

không nhiều Trong đó, nhóm thể loại liên

quan lời ăn tiếng nói hằng ngày đang bị

Hán tộc hóa cao độ do sự phổ cập ngày

càng mạnh mẽ của tiếng Hán phổ thông và

tiếng Hán phương ngữ Việt, trong khi tiếng

nói người Kinh đang có xu hướng bị thu

hẹp dần Trong các thể loại đó, truyện kể

dân gian chiếm số lượng nhiều nhất, tiếp

theo là ca dao, dân ca và cuối cùng là truyện thơ dân gian

Văn học dân gian người Kinh Trung Quốc như một dòng chảy khởi nguồn từ dòng chủ lưu của văn học dân gian Việt Nam, rẽ theo một hướng riêng rồi hòa mình với các dòng chảy khác, tự làm cho mình lớn rộng và đa dạng hơn, đồng thời vẫn giữ mối quan hệ khăng khít với cội nguồn xưa cũ Có thể nói, đây là một trường hợp điển hình khá thú vị, phản ánh sức sống của nền văn học dân tộc bên cạnh các nền văn học khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trần Tăng Du (2007) Kinh tộc Nôm tự sử ca tập Bắc Kinh: NXB Dân tộc

Kiều Thu Hoạch (1997) Sức sống trường tồn – Truyện Nôm bình dân Tạp chí Văn học,

2, 25-35

Đinh Gia Khánh (chủ biên) (2004) Văn học dân gian Việt Nam Hà Nội: NXB Giáo dục

Nguyễn Tô Lan, Nguyễn Đại Cồ Việt (2015) Truyền thừa tiếng Kinh bằng chữ Nôm – Một góc nhìn từ cảnh huống ngôn ngữ dân tộc Kinh (Đông Hưng, Quảng Tây, Trung

Quốc) Tạp chí Hán Nôm, 133, 29-51

Nhiều tác giả (1984) Kinh tộc giản sử Nam Ninh: NXB Dân tộc Quảng Tây

Tô Duy Quang, Qua Vĩ, Vi Kiên Bình (1993) Kinh tộc văn học sử Quảng Tây: NXB

Giáo dục Quảng Tây

Tô Nhuận Quang (1984) Kinh tộc dân gian cố sự tuyển Bắc Kinh: NXB Văn nghệ dân

gian Trung Quốc

Trần Hữu Tá, Nguyễn Huệ Chi (2003) Từ điển văn học (bộ mới) Hà Nội: NXB Thế giới

Ngày nhận bài: 01/8/2018 Biên tập xong: 15/3/2019 Duyệt đăng: 20/3/2019

Ngày đăng: 24/10/2020, 19:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w