1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường phát triển kinh tế gắn với quốc phòng – an ninh bảo vệ vững chắc biển đảo theo tinh thần Nghị quyết Trung Ương 8 (khóa XII) của Đảng

5 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 489,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Biển không chỉ chứa đựng tiềm năng kinh tế to lớn, cửa ngõ mở rộng giao thương với quốc tế mà còn đóng vai trò rất quan trọng bảo đảm quốc phòng – an ninh (QP-AN) quốc gia, đồng thời là địa bàn chiến lược trọng yếu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn

TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GẮN VỚI QUỐC PHÒNG –

AN NINH BẢO VỆ VỮNG CHẮC BIỂN ĐẢO THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 8 (KHÓA XII) CỦA ĐẢNG

Strengthening the economic development in connection with national defence-security and protection of sea and islands under The Central Resolutions 8

(the 12th Central Committee) of The Communist Party

TS Nguyễn Văn Lành(1), ThS Vương Trọng Hào(2)

(1),(2) Trường Sĩ quan Lục quân 2 – ĐH Nguyễn Huệ

Tóm tắt

Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Biển không chỉ chứa đựng tiềm năng kinh tế to lớn, cửa ngõ mở rộng giao thương với quốc tế mà còn đóng vai trò rất quan trọng bảo đảm quốc phòng – an ninh (QP-AN) quốc gia, đồng thời là địa bàn chiến lược trọng yếu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì vậy, phát triển kinh tế gắn với tăng cường quốc phòng – an ninh (QP-AN) bảo vệ vững chắc biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc được thể hiện nhất quán trong tư duy của Đảng ta trong các Nghị quyết Đại hội và trở thành một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị

Từ khóa: biển đảo Việt Nam, kinh tế biển, quốc phòng – an ninh

Abtract

Vietnamese sea and islands are a sacred territory of the country The sea not only contains great economic potential, the gateway to trade with the world but also plays a very important role in ensuring national defense and security, becoming a key strategic area for national construction and defense Therefore, economic development associated with strengthening national defense and security in order

to firmly defend the sacred sea of the Fatherland not only demonstrates our Party's thinking in the Congress resolutions but also becomes one of the important, regular, long-term tasks for the whole Party, the entire army, the entire people, and the whole political system

Keywords: Vietnamese sea and islands, economic sea, defense – security

1 Đặt vấn đề

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển

Đông, một biển lớn và thuộc loại quan

trọng nhất của khu vực Châu Á-Thái Bình

Dương cũng như của thế giới Các vùng

biển lớn và thềm lục địa rộng lớn của Việt

Nam chứa đựng nguồn tài nguyên thiên

nhiên phong phú và đa dạng Cùng với

Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam rộng khoảng một triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền Đặc điểm của địa hình Việt Nam hẹp về chiều ngang, nhưng lại trải dài dọc theo Biển Đông, được Biển Đông bao bọc toàn bộ sườn phía Đông và phía Nam, không chỉ cho chúng ta phát triển nhiều

Trang 2

lĩnh vực kinh tế biển mà còn trở thành “lá

chắn sườn” trong hệ thống phòng thủ quan

trọng, bảo vệ đất nước

Trước yêu cầu bức thiết của công cuộc

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hội nghị lần

thứ 8 (khóa XII) của Đảng tháng 10/2018,

đã ban hành Nghị quyết về “Chiến lược

phát trển bền vững kinh tế biển Việt Nam

đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045” Trước

hết, Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm Việt

Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển,

giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh

vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền

vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm

QP-AN, giữ vững độc lập, chủ quyền và

toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại,

hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì

môi trường hoà bình, ổn định cho phát

triển Nghị quyết đã đề cập một số chủ

trương lớn Đến năm 2030, phát triển thành

công, đột phá về các ngành kinh tế biển

theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ

biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác

dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển

khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản;

(5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng

tái tạo và các ngành kinh tế biển mới Nghị

quyết đặc biệt nhấn mạnh đến chiến lược

Bảo đảm QP-AN, đối ngoại và hợp tác

quốc tế Xây dựng lực lượng vũ trang cách

mạng chính quy, tinh nhuệ theo hướng hiện

đại, ưu tiên hiện đại hoá một số quân

chủng, binh chủng, lực lượng thực thi pháp

luật trên biển Kiên trì xây dựng và duy trì

môi trường hoà bình, ổn định và trật tự

pháp lý trên biển, tạo cơ sở cho việc khai

thác và sử dụng biển an toàn, hiệu quả

Nghị quyết đề cập 7 giải pháp chủ yếu

trong tổ chức thực hiện

2 Nội dung

2.1 Thực trạng

Thực hiện chủ trương của Đảng và

Nhà nước, trong những năm qua, cùng với việc đẩy mạnh quá trình đổi mới và mở cửa, các lĩnh vực kinh tế biển gắn với bảo

vệ QP-AN thường xuyên được tăng cường

và có nhiểu bước chuyển biến đáng kể Kinh tế biển đã có sự thay đổi về cơ cấu ngành nghề theo hướng công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước Xuất hiện nhiều ngành kinh tế biển gắn với công nghệ - kĩ thuật hiện đại như khai thác dầu khí, công nghiệp đóng tàu, đánh bắt xa bờ, vận tải biển, du lịch biển – đảo và tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn.v.v Việc khái thác nguồn lợi từ biển đã góp phần quan trọng cho sự phát triển của đất nước, nhất là cho xuất khẩu (dầu khí, hải sản…) Theo ước tính hiện nay, tỷ trọng các ngành kinh tế thuần biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước, kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước đạt 65 - 70% GDP cả nước, thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh, thành phố ven biển gấp từ 1,2 lần so với thu nhập bình quân của cả nước Kinh tế biển đã được các cấp, các ngành, nhất là những tỉnh ven biển chú ý hơn Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện mục tiêu chiến lược biển, chúng ta đang đứng trước nhiều thách thức gay gắt

về phát triển kinh tế biển như khai thác tài nguyên và môi trường biển; sự suy giảm các nguồn lợi thủy sản, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển; ô nhiễm môi trường… và một số thách thức về QP-AN nếu chúng ta không có quyết tâm mới

Về kinh tế biển, nhìn chung, quy mô

còn nhỏ bé và đang ở trình độ thấp, chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế biển của nước ta Nếu so với các nước trong khu vực và trên thế giới kinh tế biển Việt Nam còn yếu kém về nhiều mặt Giá trị thu được

từ hoạt động kinh tế biển so với một số nước đều ở mức thấp hoặc rất thấp Mặc dù

có rất nhiều cố gắng trong quá trình “đẩy

Trang 3

mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng

CNH, HĐH” nhưng nghề biển của nước ta

vẫn chủ yếu là nghề truyền thống, chiếm

trên 65 - 70% GDP do kinh tế biển tạo ra

Các nghề khác như khai thác dầu khí, công

nghiệp đóng tàu, nuôi trồng hải sản đặc

sản, du lịch biển chỉ mới được phát triển

bước đầu Các ngành công nghệ cao như

năng lượng sóng thủy triều, khái thác

khoáng sản dưới lòng nước sâu, hóa chất

và dược liệu biển, các công trình kĩ thuật

và dịch vụ xây dựng hạ tầng biển rất nhiều

bất cập, yếu kém Tình trạng đó đang đặt ra

nhu cầu cấp bách phải có một chiến lược

phát triển kinh tế biển được bổ sung với

những cơ sở khoa học và thực tiễn vững

chắc, mới có thể đáp ứng nhiệm vụ tăng

tốc kinh tế biển để “đến năm 2030, nước ta

trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu

từ biển”

Điều đáng quan tâm nữa là quá trình

phát triển kinh tế biển ở một số lĩnh vực

chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với QP-AN

và ngược lại, có một số lĩnh vực của

QP-AN chưa được gắn kết với phát triển kinh

tế, làm hạn chế quá trình phát triển kinh tế

biển gắn với QP-AN Một số địa phương

xây dựng quy hoạch, kết cấu hạ tầng, các

khu công nghiệp, kinh tế tập trung, các dự

án ven biển, trên đảo, chưa chú trọng các

phương án xây dựng thế trận QP-AN, thế

trận lòng dân, chủ yếu chạy theo lợi ích là

chính; một số quy hoạch, kế hoạch, nhất là

việc xây dựng bến cảng; cơ sở công nghiệp

biển; các khu dịch vụ trên đảo mở tràn lan,

không tuân thủ các nguyên tắc chung, làm

ảnh hưởng tới khả năng bảo vệ QP-AN

trên biển, đảo

2.2 Giải pháp

Để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ phát

triển kinh tế biển gắn với tăng cường

QP-AN quản lí, bảo vệ vững chác chủ quyền

biển, đảo theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XII) của Đảng cần thực hiện

tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên

truyền về phát triển kinh tế gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, giữ vững môi trường hòa bình ổn định để xây dựng đất nước Đây là nhiệm vụ quan trọng,

thường xuyên của cả hệ thống chính trị, nhằm tạo ra sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động cho mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về mục tiêu chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên tất cả các lĩnh vực KT-XH, chiến lược QP-AN, đối ngoại, khoa học - công nghệ biển; xây dựng kết cấu hạ tầng biển được nêu trong các Nghị quyết của Đảng Qua đó, xây dựng vững chắc thế trận QP-AN, thế trận lòng dân, kiên quyết bảo

vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam, bảo vệ chế độ chính trị - xã hội, lợi ích dân tộc Đồng thời, giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định lâu dài để phát triển đất nước và hội nhập quốc tế

Trong công tác tuyên truyền, cần phải

có đủ luận chứng khoa học, thực tiễn, cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin chủ trương của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực liên quan đến biển, đảo Trong đó, chú trọng các tài liệu khoa học đã kết luận về tiềm năng biển, quy hoạch phát triển kinh

tế biển; các tài liệu lịch sử - pháp lý thuyết phục, khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển, đảo nước ta trên cơ sở Luật Biển Việt Nam và công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; các tuyên bố về nguyên tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Bộ Quy tắc ứng xử mang

Trang 4

tính pháp lý của các bên ở Biển Đông

(COC) Đồng thời, cần chuyển tải kịp thời

quan điểm, lập trường của Việt Nam trong

vấn đề Biển Đông tới cộng đồng quốc tế,

cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài

Hai là, xây dựng và hoàn thiện cơ sở

pháp lý, các chính sách phù hợp với điều

kiện hiện nay nhằm khai thác tiềm năng và

các lợi thế về biển Đồng thời bảo vệ vững

chắc chủ quyền biển, đảo, tạo sự gắn kết

chặt chẽ hoạt động của các lĩnh vực kinh tế

biển với QP-AN để trở thành một thể thống

nhất trên phạm vi cả nước và từng địa

phương, tạo điều kiện cho các địa phương

nhất là những địa phương ven biển phát

triển kinh tế biển gắn với bảo vệ vùng trời,

vùng biển của Tổ quốc Các chủ trương về

thực hiện Chiến lược biển phải sát với thực

tiễn, phù hợp với điều kiện của từng địa

phương và đất nước; mở rộng chính sách,

liên kết làm ăn kinh tế ở vùng biển thuộc

quyền chủ quyền của ta với những nước

phát triển trong khu vực và trên thế giới,

nhằm tạo ra những đối tác đang xen lợi ích

trong phát triển kinh tế biển Thông qua đó

khẳng định chủ quyền của ta, hạn chế âm

mưu lấn chiếm biển, đảo của các thế lực

thù địch đối với nước ta, tạo ra thế và lực

mới để giải quyết hòa bình các vấn đề

tranh chấp trên biển, đảo với các nước có

liên quan

Ba là, xây dựng lực lượng bảo vệ chủ

quyền biển, đảo vững mạnh đáp ứng yêu

cầu quản lý, khai thác và bảo vệ chủ quyền

biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới Để

thực hiện tốt nhiệm vụ giải pháp quan trọng

này, cần phải phát huy sức mạnh tổng hợp

của toàn dân, trong đó, lực lượng trực tiếp

và tại chỗ là nòng cốt Vì vậy, chúng ta cần

tập trung xây dựng các lực lượng trực tiếp

làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo

như lực lượng Hải quân, Biên phòng, Cảnh

sát biển, dân quân tự vệ biển đủ mạnh, có

số lượng hợp lý, chất lượng tổng hợp cao, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở Chú trọng nâng cao trình độ kĩ thuật, chiến thuật, trình độ hợp đồng tác chiến giữa các lực lượng, đảm bảo khả năng xử lý linh hoạt và hiệu quả các tình huống có thể xây

ra trên biển; quan tâm đúng mức đến công tác đảm bảo vũ khí, trang thiết bị kĩ thuật cho các lực lượng nòng cốt như Hải quân

và Cảnh sát biển phù hợp với xu thế phát triển trong khu vực và yêu cầu nhiệm vụ của từng đơn vị; hỗ trợ vốn đầu tư cho ngư dân đóng các thuyền có công suất lớn ra khơi bám biển, đây chính là lực lượng tai mắt trong công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo Kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh của

bộ đội chủ lực với khả năng xử lý tình huống mau lẹ, trực tiếp của các lực lượng quân sự và dân sự ở các địa phương ven biển, luyện tập các phương án hợp đồng tác chiến trên biển, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng lực lượng quản lý, khai thác và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam Đặc biệt là vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội ở

địa phương có biển

Bốn là, tiếp tục xây dựng lực lượng, tổ

chức điều chỉnh, bố trí và triển khai thế trận QP-AN, kết hợp phát triển KT-XH trên vùng biển, đảo một cách hợp lý Kết hợp

chặt chẽ giữa thúc đẩy nhanh quá trình dân

sự hóa trên biển với xây dựng thế trận

QP-AN, thế trận lòng dân trên biển vững mạnh,

đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển Dân sự hóa các vùng biển, đảo vừa là

cơ sở để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên trên biển, vừa là tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược QP-AN trên biển, như: Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

đã ghi: “Thực hiện quá trình dân sự hóa

Trang 5

trên biển, đảo gắn với tổ chức dân cư, tổ

chức sản xuất và khai thác biển Có chính

sách đặc biệt để khuyến khích mạnh mẽ

nhân dân ra định cư ổn định và làm ăn lâu

dài ngày trên biển; thí điểm xây dựng các

khu quốc phòng – kinh tế tại các đảo, quần

đảo Trường Sa, vùng biển, đảo của Tổ

quốc” Đây là chủ trương chiến lược có ý

nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp bảo

vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước

Năm là, đẩy mạnh công tác nghiên

cứu khoa học – công nghệ về quản lý và

phát triển kinh tế biển nhằm khai thác, sử

dụng bền vững các nguồn tài nguyên và

bảo vệ môi trường biển; ứng phó có hiệu

quả với biến đổi khí hậu, nước biển dâng,

giảm thiểu tối đa sự suy thoái tài nguyên

biển và hải đảo, đa dạng sinh học biển và

các hệ sinh thái biển Biển, đảo của nước

ta không những là khu vực phát triển kinh

tế đầy tiềm năng, là nơi án ngữ các trục

giao thông huyết mạch trên biển, cùng với

nguồn lợi về tài nguyên, kinh tế biển, còn

là môi trường tác chiến quan trọng trong

chiến lược bảo vệ Tổ quốc Vì vậy, từng

ngành, từng địa phương, phải biết phát huy tiềm năng, thế mạnh của mình để phát triển KT-XH của địa phương, ngành mình; đồng thời, tích cực tham gia phát triển kinh tế biển cho phù hợp, phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển

3 Kết luận

Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước hiện nay và mai sau Phát huy lợi thế, khai thác tiềm năng thế mạnh kết hợp với bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ trọng yếu và

là trách nhệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng và cao cả đó, hơn lúc nào hết phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn vùng biển và toàn vẹn lãnh

thổ của Tổ quốc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đảng Cộng sản Việt Nam (2006) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Hà Nội:

Nxb Chính trị Quốc gia

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Hà Nội:

Nxb Chính trị Quốc gia

Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Hà Nội:

Nxb Chính trị Quốc gia

Đảng Cộng sản Việt Nam (2018) Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung

ương khoá XII Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia

Ngày nhận bài: 03/3/2019 Biên tập xong: 15/4/2019 Duyệt đăng: 20/4/2019

Ngày đăng: 24/10/2020, 18:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w