1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những nhân tố quyết định thắng lợi trong công tác giáo dưỡng ở các trường học sinh miền Nam trên hậu phương miền Bắc thời kỳ 1955 – 1975

8 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 445,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác giáo dưỡng ở các trường học sinh miền Nam trên hậu phương miền Bắc được đặt ra ngay khi hoàn thành việc chuyển quân tập kết theo Hiệp định Giơnevơ. Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và sự chăm sóc đặc biệt của Bác Hồ là nhân tố quyết định thắng lợi trong công tác giáo dưỡng của hệ thống trường đặc biệt này.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn

NHỮNG NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI TRONG CÔNG TÁC

GIÁO DƯỠNG Ở CÁC TRƯỜNG HỌC SINH MIỀN NAM

TRÊN HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC THỜI KỲ 1955 – 1975

Decisive factors in educational success in the schools for Southern students on

the rear of North Vietnam period 1955 – 1975

TS Phan Thị Xuân Yến

Trường Đại học Sài Gòn

Tóm tắt

Công tác giáo dưỡng ở các trường học sinh miền Nam trên hậu phương miền Bắc được đặt ra ngay khi hoàn thành việc chuyển quân tập kết theo Hiệp định Giơnevơ Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và sự chăm sóc đặc biệt của Bác Hồ là nhân tố quyết định thắng lợi trong công tác giáo dưỡng của

hệ thống trường đặc biệt này Để chuyển các nhân tố quyết định ấy thành động lực của hoạt động giáo dưỡng, cùng với việc tổ chức thành công những mô hình giáo dưỡng, còn cần đến những nỗ lực chỉ đạo thực tiễn của ngành giáo dục và đội ngũ những người thầy tận tâm vì học sinh – con em thân yêu Đó cũng là bài học thiết thực cho công tác giáo dục hiện nay

Từ khóa: giáo dưỡng, hậu phương miền Bắc, mô hình giáo dục, trường học sinh miền Nam

Abstract

The education work in the schools for southern students on the rear of North Vietnam was set up right after the completion of the transfer of troops under the Geneva Agreement The concerns of the Party and Government leaders and the special cares of Uncle Ho were the decisive factors in the educational success of this special school system In order to turn these decisive factors into the driving force of educational activities, together with the successful organization of educational models, there were practical guidance efforts of the education sector and the teachers devoted to students and children It is also a practical lesson for the current educational work

Keywords: education, rear of Northern Vietnam, educational model, schools for Southern students

1 Đặt vấn đề

Trường học sinh miền Nam là loại

trường nội trú đặc biệt, loại hình nhà

trường mà trong đó học sinh được chăm

sóc nuôi dưỡng, giáo dục tập trung tại

trường, hoàn toàn bằng sự đầu tư của nhà

nước và đóng góp của nhân dân Việc “bao

cấp” như thế không chỉ do chính sách đối

với miền Nam trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, mà còn thể hiện một quyết tâm đầu tư cho giáo dục ở một bộ phận đặc biệt – học sinh miền Nam Trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn, cả nước tập trung cho chiến tranh, vẫn có thể dành cho học sinh

sự chăm sóc nuôi dưỡng theo hình thức nội trú; Trung ương Đảng, Chính phủ, Bác Hồ

Trang 2

và lãnh đạo các cấp các ngành vẫn có thể

quan tâm chăm sóc đến việc chăm lo đào

tạo thế hệ kế tục sự nghiệp cách mạng

2 Nội dung

2.1 Chủ trương và sự quan tâm chỉ

đạo trực tiếp của Đảng, Bác Hồ về giáo

dục học sinh miền Namsau chuyển quân

tập kết

Cuộc chuyển quân tập kết theo Hiệp

định Giơ-ne-vơ được tiến hành từ tháng

9/1954, cho đến ngày 16/5/1955, toàn bộ

lực lượng cách mạng miền Nam tập kết ra

miền Bắc là 182.046 người, gồm quân đội

(kể cả tình nguyện quân ở Miên và Lào) là

82.519 người; cán bộ dân chính, đồng bào,

học sinh là 99.527 người Số học sinh miền

Nam tập kết là 12.089 em, trong đó có

7.000 học sinh liên khu V, gần 5.000 học

sinh ở Nam bộ và 300 học sinh ở Bình Trị

Thiên Ngoài số học sinh tập kết còn có

421 em ở Liên khu V tự túc ra Bắc; 216 em

ở Nam bộ vượt giới tuyến ra Bắc (Bộ Giáo

dục, 1995, tr.2)

Thành phần học sinh miền Nam đa số

là con em cán bộ, chiến sỹ, con em gia

đình có công với đất nước, bộ đội miền

Nam, một số theo cha mẹ đi tập kết, một số

xin ra Bắc học tập theo tiêu chuẩn tự túc

(Liên khu V) Bên cạnh đó còn có một số

tự động ra Bắc không bằng đường tập kết

(vượt tuyến), một số không có tiêu chuẩn

nhưng theo các đồng chí bộ đội ra, một số

là con em đồng bào hồi hương xin ra Bắc

Trong năm học 1955-1956 và 1956-1957,

có thêm 1.623 học sinh miền Nam và trên

850 học sinh đang gửi học rải rác ở các

tỉnh (Bộ Giáo dục, 1957, tr.2)

Học sinh miền Nam học ở các trường

Nam Định, Thái Nguyên, Hà Nội là 4.077

em, trong đó có 134 em học vỡ lòng, 3.192

em học cấp I, II; 670 em học cấp III Trong

số này có một số học sinh được tổ chức ăn

ở tại ký túc xá, số còn lại là ở nhờ nhà đồng bào địa phương (Bộ giáo dục, 1958, p.3) Ngay từ khi triển khai công việc tập kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở phải dẫn các cháu ra Bắc học tập, vì chỉ có

ở miền Bắc mới có điều kiện cho các cháu học hành nên người Bác dặn đồng chí

Hoàng Quốc Việt: “nhắc nhở các cấp, các ngành quân, dân, chính ở miền Nam thực hiện nghiêm túc và chuẩn bị chu đáo việc đưa thiếu nhi, học sinh miền Nam tập kết theo đúng tiêu chuẩn, chính sách, khẩn trương và đảm bảo an toàn” (Nhiều tác

giả, 2000, tr.15) Người chỉ đạo đồng chí Nguyễn Văn Tạo (Bộ trưởng Bộ Lao Động, Trưởng ban Đón tiếp lực lượng tập

kết tại Sầm Sơn (Thanh Hóa): “Chú là người miền Nam, chú hiểu tâm tư tình cảm cũng như sự cần thiết trong sinh hoạt, đời sống của các cô, các chú trong đó ra, cả cụ lớn tuổi cũng như các cháu thiếu nhi Vậy chú phải thay mặt Đảng, Chính phủ tiếp đón thế nào để tỏ được sự yêu thương, lo lắng, thắm tình của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào miền Nam ruột thịt như chú biết, ở miền Nam không có cái rét cắt thịt như ở miền Bắc đâu, phải có đầy đủ quần

áo ấm và chăn bông cho tất cả, có khăn quàng cổ cho cụ già, xà phòng và chăn bông cho các cô có con mọn” (Ban Thống

nhất Trung ương, 1956, p.13) Bác đề nghị Trung ương, Chính phủ và

các địa phương “cần phải đào tạo và bồi dưỡng thế hệ cán bộ kế cận phục vụ cách mạng miền Nam nói riêng và cho cách mạng Việt Nam nói chung Đào tạo học sinh miền Nam không những do yêu cầu trước mắt của cách mạng miền Nam mà còn là lợi ích lâu dài cho Tổ quốc, của dân tộc Việt Nam” (Hồ Chí Minh, 1976, tr.20)

Trang 3

Theo đó các trường học sinh miền Nam

thực hiện chiến lược “hạt giống đỏ” với

nhiệm vụ nuôi và dạy học sinh theo mục

tiêu: “Trong việc giáo dục và học tập phải

chú trọng các mặt: đạo đức cách mạng,

giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ

thuật, lao động và sản xuất… đào tạo

thành những người thừa kế xây dựng xã

hội chủ nghĩa vừa hồng, vừa chuyên…, học

phải đi đôi với hành, giáo dục phải gắn

liền với xã hội” (Hồ Chí Minh, 2000,

tr.10) Ngày 31/8/1960, trong thư gửi cán

bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường

và các lớp bổ túc văn hóa, Bác nhắc nhở:

“Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị

của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản

xuất và đời sống của nhân dân, phải phối

hợp nhà trường - xã hội - gia đình” (Hồ

Chí Minh, 1972, tr.561)

2.2 Chỉ đạo thực tiễn của ngành giáo

dục đối với học sinh miền Nam

Hệ thống trường học sinh miền Nam

trên đất Bắc được ra đời bao gồm ba cấp

học I, II, III và đã trở thành một bộ phận

đặc biệt trong hệ thống giáo dục quốc dân,

đặt dưới sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của

Bộ Giáo dục và sự phối hợp của nhiều bộ,

ngành TW và các địa phương Hệ thống

trường học sinh miền Nam được hình

thành và phát triển trên miền Bắc hậu

phương, trong hơn 20 năm kháng chiến

chống Mỹ cứu nước (1954-1975), gồm

nhiều quy mô và loại hình thích hợp với

từng đối tượng, từng giai đoạn, có những

yêu cầu và nhiệm vụ, chức năng cụ thể

khác nhau, có những hoạt động và hiệu quả

phong phú Ngoài ra, còn xây dựng một số

trường đặc thù cho các đối tượng đặc biệt,

ở đó có nhiều con em miền Nam theo học,

như: trường Bổ túc công nông cho người

lớn tuổi hoặc quá tuổi; trường cho con em

đồng bào Hoa; trường cho học sinh vượt tuyến; trường Dân tộc Trung ương cho học sinh người dân tộc.v.v

Bộ Giáo dục lo phần chuyên môn nghiệp vụ, các trường học sinh miền Nam đóng ở đâu thì chính quyền ở đó, từ cấp tỉnh đến địa phương đều có trách nhiệm chăm lo hoạt động của nhà trường theo thẩm quyền và khả năng của mình, với tinh thần Bắc – Nam một nhà, thương yêu như ruột thịt Các Bộ, ngành có liên quan như:

Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Lương thực, Bộ Nội thương… đều thành lập bộ phận chuyên trách lo công tác phục vụ cho miền Nam, trước hết là phục vụ các trường học sinh miền Nam đóng tại các địa phương trên miền Bắc

Ngày 17/9/1956 Thủ tướng Chính phủ

ra thông tư số 4116-A7 về tiêu chuẩn thu nhận con cán bộ, công nhân viên vào trường học sinh miền Nam nội trú:

- Con cán bộ công nhân viên miền Nam thuộc các ngành quân, dân, chính đảng, không kể cấp bậc nào, cha hoặc mẹ

có tiêu chuẩn tập kết thì được thu nhận

- Cán bộ miền Nam được điều động ra công tác miền Bắc trong thời kỳ kháng chiến, gia đình vợ con vẫn ở trong Nam, lúc hòa bình lập lại vợ con mới ra miền Bắc thì con cũng được thu nhận

- Cán bộ có con ở lại miền Bắc nhưng hoạt động ở miền Nam trong thời kỳ kháng chiến hoặc đã hy sinh về nhiệm vụ ở miền Nam hoặc công tác ở xa thì con cũng được thu nhận

- Đối với cán bộ có 3, 4 cháu thì chỉ nhận 1, 2 cháu vì trường còn chật chội, số còn lại sẽ được chiếu cố bằng học bổng rồi qua năm sau sẽ thu nhận

Chế độ chính sách đối với con em miền Nam là một trong những biểu hiện

Trang 4

sinh động của sự quan tâm sâu sắc của

Đảng và Nhà nước đối với cách mạng miền

Nam, cần thiết và chính đáng, không chỉ có

ý nghĩa chính trị, mà còn thể hiện tình cảm

và trách nhiệm của nhân dân miền Bắc đã

được hòa bình tự do, đối với đồng bào

miền Nam đang phải chịu ách áp bức của

chế độ Mỹ-Diệm Bộ Giáo dục chỉ đạo cho

các trường xây dựng bộ máy trực tiếp quản

lý và tổ chức nuôi dạy học sinh với các

chức năng rạch ròi và cụ thể Bộ Giáo dục

cùng các cơ quan ban ngành có liên quan,

khẩn trương chuẩn bị những cơ sở, trường

lớp cho các em, đồng thời nghiên cứu nắm

cụ thể từng đối tượng, từng khu, từng

miền, kịp thời tổ chức phân loại, quản lý

các trường để tổ chức nuôi dạy và học tập

cho học sinh miền Nam

2.3 Những người thầy – cô tận tâm

vì học sinh – con em thân yêu

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

là “không có thầy giáo thì không có giáo

dục…, phải xây dựng đội ngũ những người

thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là

“giáo”, phải thật thà yêu quý nghề mình…,

phải có chí khí cao thượng, phải tiên ưu

hậu lạc phải yên tâm công tác, thật thà,

đoàn kết, phải yêu thương các cháu như

con em ruột thịt của mình, phải luôn ra sức

thi đua công tác và học tập, thật thà, phê

bình và tự phê bình để cùng nhau tiến bộ

mãi” (Hồ Chí Minh, 1976, p.19) Người

chỉ rõ: “Các thầy cô giáo có nhiệm vụ rất

nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho

dân tộc Vậy giáo dục còn nhằm mục đích

phụng sự nhân dân… Trường học của

chúng ta là trường học của chế độ nhân

dân, nhằm mục đích đào tạo những công

dân và cán bộ tốt, những người chủ tương

lai tốt của nước nhà” (Hồ Chí Minh, 2000,

tr.561-562)

Trong thư gửi các cháu và các cán bộ các trường miền Nam ngày 1/6/1955, Bác căn dặn thầy, cô giáo và cán bộ công nhân

viên “Nên yên tâm công tác Phải hiểu rằng không có công tác gì vẻ vang bằng việc chăm nom bồi dưỡng cho các cháu là những người chủ tương lai của nước nhà

Để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang ấy, các cô, các chú phải thật thà đoàn kết, nâng cao tinh thần trách nhiệm, không nên “đứng núi này trông núi nọ”, muốn thay đổi công tác, kèn cựa, địa vị Phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình, không nên phân biệt bỉ thử các cháu vùng này hay vùng khác Cháu nào cũng là con em đại gia đình ta, cũng là do Đảng và Chính phủ giao cho các cô, các chú phụ trách nuôi dạy Trong công tác, trong học tập, các cô, các chú nên cố gắng thi đua, trao đổi kinh nghiệm, để cùng nhau tiến bộ không ngừng Trong thời gian ở đây, gần Đảng, gần Chính phủ, gần Bác, các cháu và các

cô, các chú nên hăng hái học tập và công tác: sao cho đến ngày nước nhà thống nhất, trở lại quê hương, các cháu và các

cô, các chú đều là những người gương mẫu

về tư tưởng, đạo đức, cũng như về mọi mặt khác” (Nhiều tác giả, 2004, tr.90-91)

Việc chăm nuôi trong trường học sinh miền Nam rất đặc biệt và rất thành công

Đó là quá trình lấy tình thương và trách nhiệm để chăm sóc, nuôi dưỡng và truyền dạy cho học sinh tình thương và trách nhiệm trong quá trình rèn luyện, học tập, lao động để trưởng thành Nhà trường đồng thời là gia đình, thầy, cô giáo là người chăm nuôi, dạy dỗ học sinh như con em ruột thịt của mình

Việc chăm sóc nuôi dưỡng học sinh miền Nam, nhất là các cháu bé còn ít tuổi

có nhiều khó khăn vất vả, nhưng các

Trang 5

trường đã tìm mọi cách để thực hiện nhiệm

vụ “ươm mầm” cho tốt Một giáo viên

trường học sinh miền Nam số 18 (Thái

Bình) kể lại: “Trường đóng ở nhà dân, rải

rác khắp các xóm làng thuộc xã Trực Nội

Tất cả thầy, cô, chú cùng các cháu sống ở

nhà dân Ở thôn Ký Con thuộc xã này có 3

xóm, mỗi xóm một lớp học, lớp nào cũng

có đủ một phụ trách thiếu niên, một giáo

viên và một bảo mẫu Cả 3 lớp ăn chung

một bếp do các cô cấp dưỡng người địa

phương nấu Công việc hàng ngày của

chúng tôi là buổi sáng giao cho các cô

giáo dạy các cháu học vần, buổi chiều sinh

hoạt tập thể Công việc tắm giặt cho các

cháu hàng ngày do các chị bảo mẫu lo…

Cuối ngày, tất cả giáo viên, phụ trách thiếu

niên cả 3 xóm họp nhau lại trao đổi kinh

nghiệm Tất cả các cháu đều còn quá nhỏ,

lần đầu xa cha mẹ,lại sống tập thể, chúng

tôi phải uốn nắn từng ly từng tý, từ cách ăn

cách ở, cách giữ trật tự vệ sinh, đến việc

làm quen với chữ Có cháu lúc ngủ chỉ

giành chỗ ngủ bên cô giáo, hoặc lúc đi ăn

nếu không phải cái chén, đôi đũa của cháu

thì nhất định không ăn; hoặc lúc bị ghẻ lở,

nhất định không cho các cô bảo mẫu tắm…

Cứ thế ngày này qua ngày khác, chúng tôi

đưa dần các cháu vào nề nếp” (Nhiều tác

giả, 2000, tr.77)

Hình ảnh trường học sinh miền Nam

số 28 là một điển hình về nhà trường – gia

đình -mỗi nhà ở, lớp học là một gia đình

“Bốn mươi, năm mươi em sống trong một

dãy nhà là 40, 50 anh em ruột thịt Thầy

chủ nhiệm thường ở một phòng nhỏ đầu

dãy nhà, vừa là thầy giáo, vừa là cha, là

chị Cả trường có nhiều gia đình mà các

bạn gia đình khác là anh em cùng quê

hương, cùng hòan cảnh Lớp lớn thương

lớp bé, sẵn sàng nhường nhịn, chăm sóc

lẫn nhau Các thầy cô giáo bộ môn và mọi cán bộ khác, kể cả các chị tiếp liệu, các cô cấp dưỡng đều là những chị ruột thịt đáng

để các em tin cậy và yên tâm gửi gắm vui buồn của mình Tất cả đều gắn bó với nhau trong tình thương và trách nhiệm Các em

tự thực hiện mọi nề nếp sinh hoạt, từ việc gấp gọn chăn màn, quét dọn sạch sẽ nhà ở, lớp học Ngòai giờ học các em còn tự đào

ao, đắp đường sá, trồng trọt, chăm sóc cây cối, tô điểm bồn hoa, cây cảnh với niềm khao khát làm cho trường mình, mái ấm của mình ngày càng khang trang, sạch đẹp hơn”(Nhiều tác giả, 2000, tr.169)

Nhà trường là một mái nhà chung tràn ngập tình thương Học sinh ăn, ở, học tại trường, kể cả những ngày lễ, tết, ngày hè Thầy, cô giáo nuôi dạy làm việc suốt ngày, suốt năm; ngày lễ, tết càng bận rộn hơn

Một thầy giáo kể lại: “Hàng ngày bất kể nắng mưa, lạnh, nắng, các anh chị tiếp liệu, với chiếc xe đạp cọc cạch, đỡ 2 chiếc sọt to, từ sáng tinh mơ có mặt ở các chợ trên, chợ dưới tìm mua rau, quả thực phẩm Những lúc thực phẩm khan hiếm, các anh chị len lỏi vào tận các thôn xóm, mua cho được con gà, quả bí… trưa về mồ hơi, mồ kê ướt đẫm cả áo Ngày hè, gặp cơn mưa rào, áo quần ướt sũng Mùa đông, gặp cơn gió chướng, lạnh thấu xương, xe đạp không chạy, phải xuống đẩy, mồ hơi cũng thốt ra như tắm Những năm giặc Mỹ cho máy bay bắn phá ác liệt các đầu mối giao thông, thì các anh chị đã phải ra đi từ lúc gà mới bắt đầu gáy và cho đến tối xẩm mới về đến trường Dọc đường lắm lúc gặp máy bay giặc Mỹ gầm rú trên đầu, với đạn, bom trước mặt, sau lưng, cái sống, cái chết gần kề nhau trong gang tấc… cũng không làm chùn bước chân các anh chị, chỉ vì một cái lẽ nghe ra thật đơn giản, nhưng có khi

Trang 6

phải trả bằng nước mắt và cả bằng máu:

Tất cả vì học sinh thân yêu, tất cả vì miền

Nam ruột thịt (Nhiều tác giả, 2000, tr.170)

Hồi ký của thầy, trò trường học sinh

miền Nam còn ghi rõ những hình ảnh cảm

động về cách chăm nuôi: “Ðể đảm bảo ba

bữa ăn cho học sinh các cô, các chị phải

quần quật suốt ngày Muốn có bữa ăn sáng

thì sáng tinh mơ, khi gà mới bắt đầu gáy,

các cô, các chị đã phải dậy nhóm lửa, đun

nước, nấu nướng cho kịp các cháu ăn, kịp

vào lớp học Mùa đông, gió bấc, mưa

phùn, học sinh còn đang cuộn mình trong

chăn ấm thì các cô, các chị đã thức giấc vô

bếp thổi xôi, hoặc rửa khoai sắn, tay chân

lạnh cóng; bữa sáng xong lại chuẩn bị cho

bữa trưa và bữa chiều Hàng ngày các chị

phải làm việc liên tục từ 4, 5 giờ sáng đến

7,8 giờ tối” (Nhiều tác giả, 2000, tr.171)

Lại có ngày học sinh tham quan dã

ngoại, “các chị, các cô phải thức dậy từ

2-3 giờ sáng, nấu xôi, nấu cơm phục vụ cho

bữa ăn sáng, lại còn nắm từng nắm một

cho học sinh mang theo ăn trưa Có khi bộ

phận nuôi phải tay xách, nách mang, vai

gánh lỉnh kỉnh nào nồi, soong, bát đĩa để

đến nơi tổ chức nấu ăn Khi đến nơi tham

quan thì thầy trò vui chơi, ngắm cảnh, còn

bộ phận nuôi thì đầu tắt mặt tối với cơm

canh, nước nôi” (Nhiều tác giả, 2000,

tr.172) Để được toàn tâm toàn ý phục vụ

học sinh, các chị, các cô đã gần như gác lại

một bên cuộc sống riêng tư của mình “Có

chị biết không thể chăm lo, chăm sóc được

con cái của mình nên đã gửi con cái đi sơ

tán với chồng Có những chị chồng ốm,

con đau cũng không về được để chăm sóc

Có những chị bước vào trường học sinh

miền Nam ngay từ khi trường mới thành

lập, tóc còn xanh mướt, phục vụ liên tục 20

năm, cho đến khi nhà trường hòan thành

sứ mạng lịch sử, thì mái tóc đã lốm đốm bạc màu, tuổi xuân đã lặng lẽ trôi qua” (Nhiều tác giả, 2000, tr.257)

Với cách chăm sóc nuôi dạy như thế

và những người nuôi dạy như thế, chắc chắn sẽ tác động đến tâm tư tình cảm của học trò, hình thành nên những nếp nghĩ mới không thể vô cảm, không thiếu tình người và đạo đức nhân văn Người học sinh luôn coi trường lớp là nhà, thầy cô giáo và các cán bộ nhân viên chăm nuôi là người cha, mẹ, cô, chú… trong gia đình thân thương Trên cơ sở đó thầy, cô giáo rèn luyện cho các em đạo đức cách mạng, lòng yêu quê hương đất nước, truyền thụ kiến thức văn hóa, khoa học, hướng cho các em lao động phục vụ xã hội, phục vụ cách mạng

Mỗi nhà trường học sinh miền Nam đều phải phấn đấu làm tốt 3 mặt công tác

chủ yếu: nuôi – dạy – tổ chứccác hoạt động ngoài giờ lên lớp, đó là 3 mặt công

tác thiết yếu, phải cân đối và đồng bộ, không thể nặng mặt này, nhẹ mặt kia Nhiệm vụ quản lý và giáo dục học sinh phải là nhiệm vụ của tòan thể nhà trường Tuy nhiên, hệ thống giáo dục và chất lượng giáo dục vận hành phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ cán bộ giảng dạy

Giáo viên giảng dạy ở các trường học sinh miền Nam bao gồm các thầy, cô giáo

đã dạy trong các vùng giải phóng, các thầy,

cô được đào tạo từ nước ngoài về, các thầy

cô tập kết từ miền Nam ra và các thầy, cô được đào tạo tại miền Bắc để phục vụ các trường học sinh miền Nam Dù các thầy, cô quê ở miền Nam hay miền Bắc, ngoài phần chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy, còn nhiệt tình, tâm huyết với nghề, yêu thương, gắn bó, có trách nhiệm với học

Trang 7

trò của mình cũng như khả năng thích ứng

với điều kiện nuôi dạy học sinh miền Nam

Ngoài việc dạy chữ, dạy văn hóa, các thầy,

cô còn cùng với cán bộ nhân viên khác của

trường nuôi dạy học sinh như con em ruột

thịt của mình Hãy nhìn những tấm gương

người thầy ngày ấy: “Trường sơ tán trên 6

làng phải qua 6 đồi, đồi xa nhất trên 10

km Thầy cô vẫn phục vụ với tinh thần “tất

cả vì học sinh miền Nam thân yêu”, gánh

vác dụng cụ nhà trường, nhà bếp đến từng

khu để lo cho chúng tôi từng bữa ăn, giấc

ngủ Cháu nào đau ốm không đủ sức khỏe

thì được khám chữa bệnh và chăm sóc tận

tình, chu đáo… Thầy cô giáo phải vượt

đường đồi, đường làng, đường ruộng khấp

khểnh, bất chấp cái nắng chang chang đến

cháy da, cái rét đến tê buốt, cả những cơn

mưa lớn, nhiều khi lũ lớn phải vác xe đạp

lội qua suối, lại còn vượt bom đạn để đến

với học sinh đúng giờ giảng Ngồi giờ dạy,

vào giờ tự học buổi tối của học sinh, thầy

cô giáo đến từng lớp để đôn đốc, nhắc nhở,

giảng giải tận tình những khúc mắc, giúp

cho chúng tôi nắm vững chương trình học,

có đủ khả năng giải bài tập khó Giờ ngoại

khóa, thầy trò cùng hoạt động nhiều môn

thể thao, điền kinh Trên sân trường luôn

tràn ngập tiếng cười, tiếng nói” (Nhiều tác

giả, 2000, tr.173)

Cách dạy của nhiều giáo viên trường

học sinh miền Nam là vừa nghiêm túc, vừa

đi sâu vào kỹ thuật giảng dạy, phấn đấu dạy hay, dạy tốt chứ không dừng lại ở yêu cầu dạy đúng, dạy đủ Mặc dù thương học sinh, nhưng luôn nghiêm túc, học sinh chưa hiểu thì học lại, thầy, cô dạy cho khi nào học sinh hiểu thì mới thôi

3 Kết luận

Bí quyết thành công của nhiều giáo viên trường học sinh miền Nam là tiến hành công tác giáo dục bằng tình thương yêu học sinh đi đôi với tinh thần trách nghiệm, lương tâm nghề nghiệp Giáo viên đóng vai trò rất quan trọng không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà còn là cán bộ chính trị, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ dân vận Việc xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục là một bộ phận quan trọng, nhất

là đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục “vừa hồng, vừa chuyên”

Ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, quá trình đổi mới phương pháp giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, mục tiêu, nôi dung, chương trình đào tạo và phương pháp giáo dục luôn được cải tiến cho phù hợp với xu thế phát triển của xã hội Việc xây dựng đội ngũ giáo viên và đội ngũ quản lý giáo dục có đủ trình độ, tâm huyết gắn bó với nghề cần phải đặt ra cho ngang tầm với nhiệm vụ mới Hệ thống trường học sinh miền Nam trên đất Bắc đã để lại cho chúng

ta nhiều bài học quý về việc hệ trọng này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ban Thống nhất Trung ương (1954-1956) Tài liệu của Trung ương, Phủ Thủ tướng, ban

và các Bộ về chính sách đối với cán bộ, đồng bào, học sinh miền Nam tập kết Hà

Nội: Cục lưu trữ TW Đảng

Ban liên lạc học sinh miền Nam (2004) Kỷ yếu hội thảo 50 năm thành lập các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc

Bộ Giáo dục (1957) Chỉ thị về việc tổng kết năm học 1956 – 1957 Hà Nội: Trung tâm lưu

Trang 8

Bộ Giáo dục (1958) Quy định một số vấn đề về tổ chức đội với thanh Thiếu niên Hoa kiều

ở miền Bắc Việt Nam Hà Nội: Trung tâm lưu trữ Quốc gia III

Bộ Giáo Dục (1955) Tổng kết công tác đón tiếp học sinh miền Nam Hà Nội: Trung tâm

lưu trữ Quốc gia III

Hồ Chí Minh (1976) Về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội Hà

Nội: Nxb Sự thật, 3-19

Hồ Chí Minh (1972) Bàn về công tác giáo dục Hà Nội: Nxb Giáo dục, 561

Hồ Chí Minh (2000) Toàn tập Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, (6,7)

Nguyễn Văn Huyên (1995) Những bài nói và viết về giáo dục Hà Nội: Nxb Giáo dục Nhiều tác giả (1999) Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc Hà Nội: Nxb Chính trị

Quốc gia

Nhiều tác giả (2000) Học sinh miền Nam, ngày ấy, hôm nay Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc

gia, 10-180

Nhiều tác giả (2004) Nửa thế kỷ trường HSMN trên đất Bắc Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc

gia, 9-100

Ngày nhận bài: 11/3/2019 Biên tập xong: 15/4/2019 Duyệt đăng: 20/4/2019

Ngày đăng: 24/10/2020, 18:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w