Bài viết xác định tỉ lệ trẻ em từ 5-15 tuổi nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo, tỉ lệ nhiễm cần điều trị và các yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo tại xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, Tp. Cần Thơ.
Trang 1TỶ LỆ NHIỄM GIUN ĐŨA CHÓ MÈO TRÊN TRẺ EM TẠI XÃ THẠNH AN, HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Nguyễn Tấn Vinh * , Đặng Văn Chính * , Lê Thị Ngọc Ánh *
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: nghiên cứu được tiến hành nhằm cung cấp thêm các bằng chứng giúp việc điều trị và phòng
ngừa bệnh nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo (Toxocara spp.) trên trẻ em trong cộng đồng được hiệu quả
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ trẻ em từ 5-15 tuổi nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo, tỉ lệ nhiễm cần
điều trị và các yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo tại xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, Tp Cần Thơ
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện với cỡ mẫu 193 trẻ từ 5 đến 15 trên địa
bàn xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ, được chọn bằng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Nghiên
cứu tiến hành lấy mẫu máu của trẻ để xét nghiệm và phỏng vấn trực tiếp cha/mẹ trẻ về các yếu tố tiếp xúc của trẻ qua bộ câu hỏi được soạn sẵn Nghiên cứu cứu đã được chấp thuận của Hội đồng Đạo đức-Đại học Y Dược Tp
Hồ Chí Minh số: 193/ĐHYD-HĐ, ngày 19/5/2017 Kiểm định chi bình phương được sử dụng để phân tích mối liên quan giữa các biến số trong nghiên cứu với mức ý nghĩa p <0,05
Kết quả: Tỉ lệ trẻ bị nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo (Toxocara spp.) là 71% (137/139) Trong đó, tỉ lệ trẻ
nhiễm cần điều trị là 30% (41/137), số còn lại trẻ nhiễm ở thể không triệu chứng, không cần điều trị, chỉ theo dõi, hạn chế cho trẻ tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ Kết quả nghiên cứu còn tìm thấy những trẻ bị nhiễm Toxocara spp có tỉ lệ tăng BCAT cao hơn 1,63 lần (p= 0,02, PR=1,63, KTC 95% (1,04–2,56)) và tăng nồng độ IgE toàn phần cao hơn 2,45 lần (p= 0,001, PR=2,45, KTC 95% (1,52–3,93)) so với nhóm trẻ không bị nhiễm Có mối liên quan giữa học vấn của trẻ với nhiễm Toxocara spp., trong đó trẻ học cấp hai có tỉ lệ nhiễm giun đũa chó mèo cao hơn 1,64 lần so với trẻ học lớp mẫu giáo (p=0,01, PR=1,64, KTC 95% (1,09-2,46)) Ngoài ra, các yếu tố gia đình từng nuôi chó mèo, số lượng chó mèo hiện đang nuôi 4-6 con là yếu tố nguy cơ làm tăng tỉ lệ trẻ nhị nhiễm giun đũa chó mèo Và những gia đình ăn rau sống được rửa sạch thường xuyên tại nhà là yếu tố làm giảm tỉ lệ nhiễm Toxocara spp (với p <0,05)
Kết luận: Tỷ lệ nhiễm Toxocara spp ở trẻ em là 71,0% Trong đó, có 30% trẻ cần điều trị (trong 10 trẻ
nhiễm thì chỉ có 3 trẻ cần điều trị) Cần tăng cường truyền thông các kiến thức phòng chống lây nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo cho trẻ em và phụ huynh như: rửa sạch rau sống trước khi ăn, hạn chế nuôi nhiều chó mèo trong nhà, hạn chế không cho trẻ tiếp xúc với chó, mèo, tiêm ngừa giun sán chó mèo định kỳ 6 tháng/lần
Từ khóa: giun đũa chó mèo, nhiễm Toxocara spp., trẻ em
ABSTRACT
PREVENTION OF TOXOCARIASIS IN CHILDREN
AT THACH AN COMMUNE, VINH THANH DISTRICT, CAN THO CITY
Nguyen Tan Vinh, Dang Van Chinh, Le Thi Ngoc Anh
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 5 - 2019: 561 – 571
Background: Determining prevalence of Toxocariasis in children is needed by testing for antibodies to
Toxocara spp in order to supply more evidence for effective treatment and prevention in the community
Objectives: To determine the proportion of children from 5 to 15 years old infected with Toxocara spp and
Viện Y tế Công cộng TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: ThS Nguyễn Tấn Vinh ĐT: 0988602579 Email: vinhnguyeniph@gmail.com
Trang 2the proportion of infection cases need treatment To find out factors related to Toxocariasis at Thach An commune, Vinh Thanh district, Can Tho city
Methods: A cross-sectional study was conducted on 193 children aged 5 to 15 years Clinical data were
examined by doctors; blood samples were collected to test for antibodies to Toxocara spp., IgE and total eosinophils peripheral; and a drafted questionnaire was used to interview parents of infected children
Results: The percentage of children infected with Toxocara spp was 71% (137/139) Among those, the
proportion of infection cases need treatment was 30% (41/137), the rest were asymptomatic infection, no need for treatment, only monitoring, limiting exposure to risk factors The study results also found that children infected with Toxocara spp had 1.63 times higher rate of increase of eosinophils (p = 0.02, PR = 1.63, 95% CI (1.04–2.56)) and 2.45 times of increase of total IgE concentration (p = 0.001, PR = 2.45, 95% CI (1.52–3.93)) than uninfected children There was an association between children' education with Toxocara spp infection, in which secondary school children had 1.64 times higher infection prevalence than children in kindergarten (p = 0.01, PR = 1.64, 95% CI (1.09-2.46)) In addition, the factors as family used to breed cats and dogs, currently rearing 4 – 6 dogs and cats were the risk factors that affected to the increase of infected rate And eating regularly washed raw vegetables at home was the factor that helped to reduce the infection prevalence (p <0.05).
Conclusions: The prevalence of Toxocariasis (serum (+)) in children was 71.0% In particular, the rate of
infected children need treatment was 30.0% (among 10 infected children, only 3 need treatment) It is necessary
to strengthen propaganda about preventing children from be infected Toxocara spp from cats/ dogs, such as: washing vegetables cleanly before eating, limiting the number of dogs/ cats reared at home, limiting directly touching dogs/ cats, taking medicines for dogs/ cats to preventing infection with Toxocara spp
Keywords: toxocara spp in dogs/cats, toxocariasis, children
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh giun đũa chó, mèo ở người được gây ra
bởi ấu trùng Toxocara canis hoặc hiếm gặp hơn
là Toxocara cati (Toxocara spp.) do ngẫu nhiên ăn
phải trứng có ấu trùng qua tay bị nhiễm bẩn do
tiếp xúc trực tiếp với chó/mèo, hoặc do ăn phải
rau hoặc đất bị nhiễm trứng Toxocara spp Bệnh
có thể xuất hiện khắp nơi trên thế giới nhất là tại
các quốc gia có khí hậu nhiệt đới, có nền kinh tế
kém hoặc đang phát triển Hiện nay, việc chẩn
đoán ca bệnh nhiễm Toxocara spp ở người chưa
có tiêu chuẩn vàng dẫn đến khó khăn cho việc
chẩn đoán xác định Theo định nghĩa ca bệnh
nhiễm giun đũa chó, mèo của Bộ Y tế (Quyết
định số 4283/QĐ-BYT ngày 08/8/2016) thì ca
bệnh xác định gồm các tiêu chí: dấu hiệu và triệu
chứng lâm sàng; kháng thể anti-Toxocara spp
dương tính hoặc tìm thấy ấu trùng hoặc giun
đũa trưởng thành hoặc phát hiện đoạn gen đặc
hiệu bằng kỹ thuật PCR(1) Việc chẩn đoán xác
định trên cơ sở phát hiện ấu trùng hoặc giun đũa
chó mèo trưởng thành trong mô xét nghiệm phải
tiến hành sinh thiết lấy mô chứa ấu trùng là khó khăn và phức tạp, thậm chí có thể gây biến chứng cho người bệnh Để đơn giản hơn, việc chẩn đoán hiện nay thường dựa vào đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm huyết thanh Tuy nhiên, biểu hiện lâm sàng của bệnh thường không điển
hình, sự hiện diện của kháng thể kháng Toxocara spp cũng không nói lên tình trạng đang mắc
hay đã mắc bệnh dẫn đến khó chẩn đoán xác định chính xác ca bệnh nhiễm cần hoặc không cần điều trị
Theo hướng dẫn Pawlowski ZS (2002) đưa ra chẩn đoán ca bệnh gồm 5 tiêu chí:
(1) Đặc điểm dịch tễ học của bệnh nhân liên
quan nhiễm Toxocara spp.,
(2) Dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng trên từng thể bệnh,
(3) Kháng thể anti-Toxocara spp IgG dương
tính, (4) Bạch cầu ái toan trong máu ngoại biên tang, (5) Nồng độ IgE toàn phần tang (bình thường IgE <130 IU/mL)(8)
Trang 3Chúng tôi nhận thấy các tiêu chuẩn này phù
hợp có thể ứng dụng trên thực hành lâm sàng và
chẩn đoán các thể bệnh trên cộng đồng Theo
nghiên cứu của Magnaval JF năm 2001 cho thấy
trẻ em có nguy cơ bị nhiễm Toxocara spp cao
hơn người lớn(6) Do đó, nghiên cứu này được
thực hiện trên đối tượng là trẻ em từ 5-15 tuổi
dựa trên chẩn đoán các trường hợp nhiễm phải
điều trị và các trường hợp nhiễm không cần điều
trị chỉ tiến hành theo dõi theo đề xuất của
Pawlowski ZS
Mục tiêu
Xác định tỉ lệ trẻ em từ 5-15 tuổi nhiễm ấu
trùng giun đũa chó mèo (Toxocara spp.) tại xã
Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, Tp Cần Thơ
Xác định tỉ lệ trẻ em từ 5-15 tuổi nhiễm ấu
trùng giun đũa chó mèo (Toxocara spp.) cần
điều trị tại xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh,
Tp Cần Thơ
Xác định mối liên quan giữa nhiễm Toxocara
spp với các đặc tính của mẫu (nhóm tuổi, giới,
trình độ học vấn, BMI), tăng BCAT, tăng nồng
độ IgE tổng và các yếu tố tiếp xúc của trẻ
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chí chọn vào
Trẻ từ 5-15 tuổi đang học mẫu giáo (lớp lá
lớn), cấp I, cấp II trên địa bàn xã Thạnh An,
huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ có mặt tại địa
phương trong thời gian tiến hành lấy mẫu
Phụ huynh hoặc người giám hộ của trẻ có mặt
tại địa phương trong thời gian nghiên cứu Có
sự đồng ý tham gia của trẻ và phụ huynh hoặc
của người giám hộ hợp pháp của trẻ khi tham
gia nghiên cứu
Tiêu chí loại ra
Trẻ đang bị các bệnh cấp tính hoặc mạn tính
như tim mạch, viêm gan, thận, dạ dày, tâm thần
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
Thời gian, địa điểm
Được thực hiện từ 7/2016 đến tháng 8/2017 tại xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, Tp Cần Thơ
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Sử dụng công thức ước lượng 1 tỉ lệ với α= 0,05, d=0,05 và p=0,15 (tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở trẻ em từ 5-15 tuổi theo nghiên cứu tại Bình Định năm 2011-2012(12)
tính được cỡ mẫu n=191 Thực tế thực hiện được 193 mẫu
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách 741 học sinh theo thứ tự tăng dần theo số lớp lá - lớp 9 (5-15 tuổi) và tăng dần theo ký hiệu lớp A, B, C, D tại trường tiểu học Thạnh An và trường trung học cơ sở Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, Tp Cần Thơ, với khoảng cách mẫu k=3
Phương pháp thực hiện
Trước khi lấy mẫu máu xét nghiệm, những trẻ tham gia nghiên cứu sẽ được cân đo cân nặng, chiều cao và được bác sĩ khám lâm sàng và ghi nhận các dấu hiệu hô hấp (ho, hen xuyễn),
da liễu (phát ban, nổi mề day, ngứa), các rối loạn tiêu hóa (đau bụng, chán ăn, ăn uống kém), đau đầu Phỏng vấn cha/mẹ của trẻ bằng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp bao gồm các yếu tố tiếp xúc
và dịch tễ (tuổi, giới tính, tình trạng sổ giun cho chó mèo, sổ giun cho trẻ, số lượng chó mèo hiện đang nuôi, sự hiện diện của chó mèo trong nhà, việc chơi, nghịch đất cát của trẻ, ăn rau sống và rửa tay trước khi ăn, sau khi tiếp xúc)
Mẫu máu được lấy bởi kỹ thuật viên xét nghiệm có chứng chỉ hành nghề và được tập huấn trước khi tiến hành lấy mẫu, các mẫu máu sau khi thu thập sẽ được trữ lạnh và vận chuyển
về phòng xét nghiệm Xét nghiệm miễn dịch ELISA được thực hiện trên máy ELISA Immunomate-Serion/German Nồng độ IgE toàn phần được đo bằng máy phân tích Elecsys và Cobas 8000 hãng Roche tại Trung tâm chẩn đoán
y khoa MEDIC – Hòa Hảo TP Hồ Chí Minh Xét nghiệm chỉ số bạch cầu ái toan được thực hiện tại Phòng xét nghiệm của Viện Y tế Công cộng
Trang 4TP Hồ Chí Minh
Kiểm soát sai lệch thông tin
Thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, cấu
trúc chặt chẽ Thực hiện nghiên cứu thử nhằm
chỉnh sửa bộ câu hỏi trước khi thực hiện chính
thức Tập huấn điều tra viên trước khi tiến
hành thu thập số liệu Giám sát quá trình lấy
mẫu, phỏng vấn, kiểm tra chặt chẽ trong quá
trình thu thập số liệu, kiểm tra và bổ sung số
liệu đầy đủ ngay sau khi phỏng vấn Việc xét
nghiệm các chỉ tiêu được thực hiện tại các
phòng xét nghiệm có uy tín
Y đức
Nghiên cứu đã được chấp thuận của Hội
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y Sinh Học –
Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh số:
193/ĐHYD-HĐ, ngày 19 tháng 5 năm 2017
Một số các chỉ số chính trong nghiên cứu
Các mức độ tăng bạch cầu ái toan (BCAT)
phân theo Franklin năm 1998 như sau:
Tỷ lệ BCAT bình thường: 40-350 µl máu
Các mức độ tăng BCAT: nhẹ (350-1500 µl
máu), trung bình (>1500-5000 µl máu), cao
(>5000 µl máu)
Nồng độ IgE tổng tăng: IgE tăng khi ≥130
U/mL
Huyết thanh dương tính khi xét nghiệm
ELISA giá trị mẫu ≥ 0,3OD (optical density: OD)
Tỷ lệ nhiễm Toxocara spp: tỷ lệ nhiễm ấu
trùng Toxocara spp được xác định thông qua xét
nghiệm ELISA dương tính:
Tỷ lệ phải điều trị: Tỷ lệ nhiễm ấu trùng
Toxocara spp cần phải điều trị được tính theo đề
xuất của Pawlowskigồm thể ấu trùng di chuyển
nội tạng không hoàn chỉnh (iVLM) và thể ẩn/thể
thông thường:
Thể ấu trùng di chuyển nội tạng không hoàn
chỉnh (iVLM): trong nghiên cứu này thể iVLM
được xác định khi trẻ tham gia nghiên cứu có cả
5 dấu hiệu:
(1) ít nhất 1 dấu hiệu tiếp xúc, (2) có ít nhất một dấu hiệu triệu chứng bệnh, (3) xét nghiệm ELISA dương tính,
(4) bạch cầu ái toan >1500 - 5000 tế bào/mm3, (5) IgE tổng ≥130 U/mL
Thể ẩn (thông thường): trong đề tài này thể
ẩn được xác định thông qua các dấu hiệu sau: (a) có hoặc không có tiếp xúc với yếu tố nguy
cơ, (b) có ít nhất một dấu hiệu triệu chứng, (c) xét nghiệm ELISA dương tính, (d) bạch cầu ái toan tăng từ 350-1500 tế bào/mm3, (e) IgE tổng
≥130 U/mL
BMI của trẻ: được đánh giá dựa vào Z-Score theo tuổi theo hướng dẫn của WHO Tính Z-Score dựa vào phần mềm WHO AnthroPlus: suy dinh dưỡng (gầy): khi Z-Score <-2 SD; bình thường: -2 SD≤ Z-Score ≤ 1 SD; béo phì: khi có chỉ số Z-Score > 1SD
Nhập liệu và phân tích thống kê
Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata Epi Data 3.02 và phân tích bằng Stata 13.0 Thống kê mô tả: biến định lượng dùng trung bình, độ lệch chẩn, giá trị nhỏ nhất, lớn nhất Biến định tính dùng tần suất (n) và tỷ lệ (%) Thống kê phân tích: kiểm định chi bình phương được sử dụng để phân tích mối liên quan giữa các đặc tính của mẫu, tăng BCAT, nồng độ IgE toàn phần, các yếu tố tiếp xúc của
trẻ với nhiễm Toxocara spp
Số đo kết hợp được sử dụng trong nghiên cứu là tỉ số tỉ lệ hiện mắc (PR) với mức ý nghĩa p<0,05 và khoảng tin cậy 95%
KẾT QUẢ Các đặc tính của mẫu nghiên cứu
Trong số những trẻ tham gia nghiên cứu, có 58,5% trẻ ở độ tuổi 11 – 15, tỉ lệ nam và nữ gần bằng nhau lần lượt là 48,7%, 51,3% Tỉ lệ trẻ có học vấn cấp II chiếm phần lớn (46,6%) Tỉ lệ trẻ
bị suy dinh dưỡng là 17,6% và béo phì là 12,4%
(Bảng 1)
Trang 5Bảng 1: Đặc tính của mẫu nghiên cứu (n=193)
Các đặc tính của mẫu Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi
Giới
Học vấn
BMI
Các dấu hiệu và triệu chứng về da liễu, tiêu
hóa, hô hấp mắc phải của trẻ
Bảng 2: Các dấu hiệu và triệu chứng mắc phải của
trẻ (n=193)
Dấu hiệu và triệu chứng mắc phải Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Có một trong những triệu chứng trên 166 86,0
Tỉ lệ trẻ có dấu hiệu mắc các bệnh da liễu là
23,8%, tiêu hóa 51,3%, hô hấp 44,0%, đau đầu là
54,4% Như vậy có tới 86,0% trẻ có ít nhất một
trong các dấu hiệu và triệu chứng trên (Bảng 2)
Các yếu tố tiếp xúc của trẻ
Bảng 3: Các yếu tố tiếp xúc của trẻ (n=193)
Yếu tố tiếp xúc Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhà có nuôi chó hoặc mèo (đã từng
hoặc hiện tại có nuôi)
Không rửa tay sau khi tiếp xúc với chó,
mèo
Chơi đùa có tiếp xúc với đất, cát 118 61,1
Không rửa tay sau khi nghịch đất hoặc
tiếp xúc đất, cát
Có tiếp xúc với 1 trong các yếu tố trên 189 97,9
Có đến 88,1% trẻ là ở nhà đã từng hoặc hiện
có nuôi chó, mèo Trẻ có tiếp xúc với chó,mèo
49,7%, Chơi đùa có tiếp xúc với đất, cát là 61,1%,
có ăn rau sống chiếm tỉ lệ 47,2% Các yếu tố
không rửa tay sau khi tiếp xúc chó, mèo; sau khi tiếp xúc đất cũng như rửa tay trước khi ăn chiếm
tỉ lệ lần lượt là 29,5%, 31,7% và 48,7% Xét về có tiếp xúc với một trong các yếu tố trên có tới 189
trẻ (97,9%) có tiếp xúc (Bảng 3)
Các đặc điểm cận lâm sàng của trẻ
Bảng 4: Đặc điểm cận lâm sàng của trẻ (n=193)
Bạch cầu ái toan (EOS)
IgE toàn phần
Có 38,3% trẻ có BCAT tăng nhẹ và 3,1% tăng trung bình Tỉ lệ trẻ có nồng độ IgE toàn phần
tăng là 50,8% (Bảng 4)
Tỉ lệ trẻ nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo, các thể nhiễm và tỉ lệ cần điều trị
Bảng 5: Mô tả các thể nhiễm Toxocara spp (n=193)
Nhiễm Toxocara spp Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhiễm Toxocara spp (huyết thanh IgG (Elisa))
Các thể nhiễm (n = 137) Thể ầu trùng di chuyển nội tạng
Điều trị (n =137)
Kết quả phân tích cho thấy có 137 trẻ (71,0%)
bị nhiễm Toxocara spp (ELISA dương tính)
Trong đó thể không triệu chứng chiếm cao nhất với 96 mẫu (70,0%), thấp nhất là thể AT di chuyển nội tạng không hoàn chỉnh với 6 mẫu (4,4%) Tỷ lệ nhiễm cần điều trị theo khuyến cáo
của Pawlowski là 30,0% (Bảng 5)
Mối liên quan giữa các đặc tính mẫu với nhiễm
ấu trùng giun đũa chó mèo
Trong các biến số về đặc tính của trẻ chỉ có học vấn là có mối liên quan có ý nghĩa thống kê
với nhiễm Toxocara spp Những trẻ có học vấn
Trang 6cấp hai có tỉ lệ nhiễm giun đũa chó mèo cao hơn
gấp 1,64 lần so với trẻ học lớp mẫu giáo (lớp lá
lớn) với p=0,01., PR=1,64, KTC 95% (1,09-2,46)
(Bảng 6)
Bảng 6: Mối liên quan giữa các đặc tính mẫu với nhiễm Toxocara spp (n=193)
Dương tính n (%) Âm tính n (%)
Nhóm tuổi
Giới tính
Học vấn
BMI
Mối liên quan giữa tăng BCAT với nhiễm ấu
trùng giun đũa chó mèo
Bảng 7: Mối liên hệ giữa tăng BCAT với nhiễm
Toxocara spp (n=193)
Nhiễm
Toxocara spp
Có n (%) Không n (%)
Âm tính 16 (28,6) 40 (71,4)
Dương tính 64 (46,7) 73 (53,3) 1,63 (1,04-2,56)
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
nhiễm Toxocara spp với tăng BCAT, với p <0,05
Theo đó ở nhóm trẻ bị nhiễm Toxocara spp có tỉ
lệ tăng BCAT cao gấp 1,63 lần so với nhóm trẻ
không nhiễm (với p= 0,02, PR=1,63, KTC 95%
(1,04–2,56) (Bảng 7)
Mối liên quan giữa tăng nồng độ IgE toàn phần
với nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo
Bảng 8: Mối liên hệ giữa tăng nồng độ IgE toàn phần
với nhiễm Toxocara spp (n=193)
Nhiễm Toxocara
spp
Tăng nồng độ IgE toàn phần
95%)
Có
n (%)
Không
n (%)
Âm tính 14 (25,0) 42 (75,0)
0,001
1 Dương tính 84 (61,3) 53 (38,7) 2,45 (1,52 -
3,93)
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa
nhiễm Toxocara spp với tăng nồng độ IgE toàn
phần, với p <0,05 Theo đó ở nhóm trẻ bị
nhiễm Toxocara spp có tỉ lệ tăng nồng độ IgE
toàn phần cao gấp 2,45 lần so với nhóm trẻ không nhiễm (với p=0,001, PR=2,45, KTC 95%
(1,52–3,93) (Bảng 8)
Mối liên quan giữa các yếu tố tiếp xúc của trẻ với nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo
Các yếu tố tiếp xúc gồm từng nuôi chó mèo,
số lượng chó, mèo hiện đang nuôi, rửa rau sống sạch tại nhà là có liên quan có ý nghĩa thống kê
với nhiễm Toxocara spp Trong đó, những gia
đình từng nuôi chó, mèo có tỷ lệ trẻ nhiễm
Toxocara spp cao gấp 1,47 lần so với những gia
đình chưa từng nuôi chó, mèo với p=0,01, PR=1,47, KTC 95% (1,07-2,03)) Những gia đình đang nuôi chó, mèo từ 4-6 con có tỷ lệ trẻ bị
nhiễm Toxocara spp cao hơn 1,28 lần so với
những nhà hiện chỉ nuôi từ 1-3 con, với p=0,02, PR=1,28, KTC 95% (1,10-1,50) Và những gia đình ăn rau sống được rửa sạch thường xuyên
có tỷ lệ trẻ bị nhiễm Toxocara spp chỉ bằng 0,77
lần so với những gia đình ăn rau sống chưa bao giờ được rủa sạch tại nhà, với p= 0,01, PR=0,77,
KTC 95% (0,52-1,08) (Bảng 9)
Kết quả không tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố (gồm vị trí cho phép chó mèo thường nằm; xổ giun cho chó, mèo định kỳ 6
Trang 7tháng; nhà có sân vườn hoặc bãi đất trống, rửa
tay trước khi ăn; rửa tay sau khi tiếp xúc chó,
mèo; chơi đùa tiếp xúc với đất; rửa tay sau khi
tiếp xúc với đất) với nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo (với p >0,05)
Bảng 9: Mối liên quan giữa các yếu tố tiếp xúc của trẻ với nhiễm Toxocara spp (n=193)
Dương tính n (%) Âm tính n (% )
Từng nuôi chó, mèo
Số lượng chó mèo hiện đang nuôi (n=153)
Vị trí cho phép chó mèo thường nằm (n=153)
Xổ giun cho chó, mèo định kỳ 6 tháng (n=153)
Nhà có sân vườn hoặc bãi đất trống
Rau sống được rửa sạch tại nhà
Rửa tay trước khi ăn
Tiếp xúc, đùa giỡn với chó, mèo
Rửa tay sau khi tiếp xúc chó, mèo
Chơi đùa tiếp xúc với đất
Rửa tay sau khi tiếp xúc với đất
Trang 8BÀN LUẬN
Đặc tính của mẫu nghiên cứu:
Trong thời gian nghiên cứu thu thập được
193 trẻ tại các trường mẫu giáo, cấp 1 và cấp 2
tại xã Thạnh An, huyện Vĩnh Thạnh, Tp Cần
Thơ thỏa tiêu chí chọn mẫu đưa vào nghiên
cứu Tuổi của trẻ được phân thành 2 nhóm là
trẻ em nhỏ từ 5-10 tuổi, trẻ em lớn từ 11-15
tuổi chiếm tỉ lệ lần lượt là 41,5% và 58,5% Về
giới tính tỉ lệ trẻ nam và nữ trong nghiên cứu
gần bằng nhau Tỉ lệ trẻ bị béo phì là 12,4% và
suy dinh dưỡng là 17,6%
Các dấu hiệu và triệu chứng về da liễu, tiêu
hóa, hô hấp mắc phải của trẻ
Nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy có
23,8%-54,4% trẻ bị các dấu hiệu và triệu chứng
về da liễu, tiêu hóa, hô hấp và đau đầu Theo
nghiên cứu của Magnaval JF 2011 cho thấy tại
Ireland, trên những trẻ bị nhiễm Toxocara spp
thường có các triệu chứng lâm sàng như sốt,
chán ăn, đau đầu, bụng đau, buồn nôn, nôn,
thờ ơ, khó ngủ và rối loạn hành vi, viêm họng,
viêm phổi, ho, khò khè, đau chân tay, viêm
hạch bạch huyết và gan to(6)
Các yếu tố tiếp xúc của trẻ
Kết quá nghiên cứu cho thấy có đến 97,9%
trẻ có tiếp xúc với một trong các yếu tố như nhà
có nuôi chó mèo; có tiếp xúc với chó mèo; không
rửa tay sau khi tiếp xúc với chó, mèo; chơi đùa
có tiếp xúc với đất, cát; không rửa tay sau khi
nghịch đất hoặc tiếp xúc đất, ăn rau sống và
không rửa tay trước khi ăn Trẻ thường rất năng
động, quá trình đùa giỡn, vui chơi dễ tiếp xúc
với đất, cát trong khi kiến thức và thực hành về
vệ sinh cơ thể còn nhiều hạn chế Theo nghiên
cứu của Mário LT và cộng sự (2008) cho thấy có
28% (7/25) mẫu cát được lấy từ các công viên,
trường học, quãng trường có dương tính với
trứng giun đũa chó Toxocara canis (7) Theo nghiên
cứu của Bùi Văn Tuấn và cộng sự (2012) cho
thấy nhóm bệnh nhân có nuôi chó, mèo trong
gia đình và thường xuyên chăm sóc, vuốt ve,
bồng chó, mèo có huyết thanh chẩn đoán
Toxocara spp dương tính cao gấp 1,9 - 2,8 lần so
với nhóm không nuôi chó, mèo(2)
Tỷ lệ trẻ nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo
(huyết thanh Toxocara spp dương tính)
Tỉ lệ trẻ bị nhiễm ấu trùng giun đũa chó,
mèo (có huyết thanh Toxocara spp dương tính)
trong nghiên cứu của chúng tôi là 71,0% Kết quả này cao hơn nghiên cứu của Sviben M và cộng
sự (2009) tại Croatia với tỉ lệ trẻ 3-18 tuổi dương
tính với giun đũa chó (Toxocara canis) 31%(10) Điều này có thể là do nghiên cứu của Sviben M chỉ thực hiện trên giun đũa chó và tuổi của trẻ cũng lớn hơn nghiên cứu của chúng tôi Bên cạnh đó, kết quả của chúng tôi cũng cao hơn nghiên cứu của Trần Trọng Dương tại Bình Định (2012) với tỉ lệ nhiễm là 15,8%(12) Điều này là do nghiên cứu Trần Trọng Dương thực hiện trên cả đối tượng người lớn và trẻ em Ngoài ra, tỉ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó, mèo khác nhau giữa các nghiên cứu cũng có thể là do các vùng địa lý và thói quen nuôi chó mèo và trẻ tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ khác nhau Tại nơi nghiên cứu của chúng tôi có nền kinh tế nông nghiệp,
đa số người dân nuôi nhiều chó mèo, hầu hết nhà dân đều có sân vườn đất, cát quanh nhà và
có thói quen ăn rau sống thường xuyên do đó đây cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó, mèo cao
Tỷ lệ trẻ nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo cần điều trị
Hiện nay trên thế giới cũng như tại Việt
Nam việc chẩn đoán ca bệnh nhiễm Toxocara spp
trên người gặp nhiều khó khăn do người chỉ là
ký chủ tình cờ nhiễm phải ấu trùng không phát triển thành giun đũa chó, mèo hoàn chỉnh Bên cạnh đó, triệu chứng lâm sàng của bệnh đa dạng, không đặc hiệu Theo nghiên cứu của Trần Vinh Hiển, cách chính xác nhất để chẩn đoán bệnh nhiễm KST là tìm được các giai đoạn phát triển của chúng trong bệnh phẩm Tuy nhiên, đối với KST còn non, chưa trưởng thành thì không thể tìm được trứng, hoặc chúng định vị sâu trong nội tạng, hoặc chúng lạ chỗ, lạc chủ, hoặc chúng là KST của thú nhưng tình cờ, ngẫu
Trang 9nhiên nhiễm qua người, rất khó hoặc không tìm
được trứng thì chỉ còn chẩn đoán bằng phương
pháp miễn dịch học(13) ELISA là một trong
những kỹ thuật phổ biến để chẩn đoán phát hiện
kháng thể Toxocara spp trong huyết thanh Tuy
nhiên, kỹ thuật này có thể dương tính chéo với
các trường hợp nhiễm giun, sán khác(5) Mặt
khác, sự hiện diện của kháng thể kháng Toxocara
spp cũng không nói lên tình trạng đang mắc hay
đã mắc bệnh trước đó
Pawlowski đã đề xuất 5 dấu hiệu để chẩn
đoán các thể trong nhiễm giun đũa chó, mèo
gồm: Đặc điểm dịch tễ, triệu chứng và dấu hiệu
lâm sàng, huyết thanh dương tính, tăng bạch cầu
ái toan và tăng IgE toàn phần Các thể nhiễm cần
điều trị gồm: Hội chứng ấu trùng di chuyển nội
tạng (VLM), hội chứng ấu trùng di chuyển nội
tạng không hoàn chỉnh (iVLM), nhiễm Toxocara
spp thể thông thường/thể ẩn và thể nhiễm
không cần điều trị là nhiễm Toxocara spp không
triệu chứng(8) Tiêu chẩn định nghĩa ca bệnh của
Pawlowski dễ áp dụng trên lâm sàng để chỉ định
điều trị Theo đó, nghiên cứu của chúng tôi tìm
thấy tỉ lệ trẻ nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo
cần điều trị là 30%, trong đó gồm 4,4% thuộc thể
Thể AT di chuyển nội tạng không hoàn chỉnh và
25,6% thuộc thể thông thường/thể ẩn Kết quả
này gần tương đồng với nghiên cứu của Lê Đình
Vĩnh Phúc (2016) là 23,4%(4)
Mối liên quan giữa các đặc tính của mẫu với
nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo
Nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy
mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm
tuổi, giới tính, BMI với nhiễm Toxocara spp Tuy
nhiên, kết quả phân tích cho thấy có sự khác biệt
có có ý nghĩa thống kê giữa học vấn của trẻ với
nhiễm Toxocara spp Trong đó, trẻ học cấp 2 có tỉ
lệ nhiễm cao hơn trẻ học lớp mẫu giáo (với
p<0,05) Điều này có thể là do nhóm trẻ mẫu giáo
còn nhỏ nên gia đình và nhà trường thường sẽ
quan tâm chăm sóc tích cực, việc ăn uống, vui
chơi đều được người lớn chăm sóc nên hạn chế
tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ Ngược lại, với
nhóm trẻ lớn, đã học cấp 2, trẻ đã tự chăm sóc
được bản thân tuy nhiên sự hiểu biết, ý thức cũng như thực hành giữ vệ sinh cá nhân của trẻ còn hạn chế Mặt khác, trẻ còn phụ giúp cha mẹ trong các công việc làm vườn tại gia đình nên dễ tiếp xúc với các nguy cơ lây nhiễm ấu trùng giun
đũa chó mèo
Mối liên quan giữa nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo với tăng BCAT, tăng nồng độ IgE toàn phần
BCAT trong máu ngoại biên và nồng độ IgE toàn phần là các thông số lâm sàng quan trọng liên quan đến đáp ứng miễn dịch trong bệnh lý
nhiễm Toxocara sp Kết quả của chúng tôi cho thấy trong số 137/139 trẻ (71%) bị nhiễm Toxocara spp có 64/137 trẻ (46,7%) có BCAT tăng, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Tuy nhiên theo nghiên cứu của Sviben M và cộng sự (2009)
cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa chó (Toxocara canis) cao ở những trẻ em mắc bệnh bạch cầu ái
toan Do đó xét nghiệm kiểm tra bệnh giun đũa chó phải được loại trừ trong chẩn đoán phân biệt với bệnh bạch cầu ái toan ở trẻ em(10)
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của chúng tôi còn cho thấy trong số những trẻ có trẻ có huyết thanh dương tính có 61,3% trẻ có nồng độ IgE toàn phần tăng (≥130 IU/mL) Tỷ lệ này khá tương đồng với nghiên cứu Lê Đình Vĩnh Phúc (2016) là 67,5%(4) So với kết quả nghiên cứu của Dattoli và cộng sự, ở ngưỡng cắt IgE toàn phần
≥150 IU/mL, tỷ lệ này là 59,6%(3) Theo nghiên cứu của Pawlowski báo cáo nồng độ IgE đặc
hiệu của kháng nguyên Toxocara spp tăng trong
một nửa số bệnh nhân nghiên cứu(8)
Mối liên quan giữa các yếu tố tiếp xúc của trẻ với nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo
Chó, mèo là vật chủ của Toxocara spp., trứng
theo phân thải ra môi trường xung quanh làm ô nhiễm nguồn đất, cát, nước, rau và là nguồn lây nhiễm trực tiếp hay gián tiếp khi con người vô tình nuốt phải qua đường tiêu hóa Trong nghiên cứu này, các gia đình từng nuôi chó mèo
có tỉ lệ trẻ có huyết thanh dương tính với giun đũa chó mèo cao hơn so với các gia đình không nuôi Bên cạnh đó số lượng chó mèo hiện đang
Trang 10nuôi từ bốn con trở lên cũng là một yếu tố nguy
cơ và có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Tỷ lệ trứng
Toxocara spp trong đất tăng lên ở những gia đình
có nuôi chó so với những gia đình không nuôi
chó đã được tìm thấy trong nghiên cứu của Trần
Trọng Dương(12) Theo nghiên cứu của Nguyên
Hồ Phương Liên cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm
Toxocara spp., ở những người từng nuôi chó/mèo
cao gấp 1,57 lần so với những người chưa từng
nuôi(8) Ngoài ra, nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy việc ăn rau sống thường xuyên được rửa
sạch tại nhà là yếu tố bảo vệ trẻ không bị nhiễm
ấu trùng giun đũa chó mèo Theo nghiên cứu
của Trần Thị Hồng (2007) cho thấy tỷ lệ nhiễm
ký sinh trùng trên rau rất cao (94,4%) Trong đó,
nhiễm ký sinh trùng đa bào chủ yếu là nhiễm ấu
trùng Toxocara spp.(11)
Một số yếu tố khác (như rửa tay trước khi
ăn; rửa tay sau khi tiếp xúc chó, mèo; chơi đùa
tiếp xúc với đất; rửa tay sau khi tiếp xúc với đất,
vị trí cho phép chó mèo thường nằm; xổ giun
cho chó, mèo định kỳ 6 tháng; nhà có sân vườn
hoặc bãi đất trống) chưa tìm thấy có mối liên
quan có ý nghĩa thống kê với nhiễm ấu trùng
giun đũa chó mèo (p>0,05) Điều này có thể là do
việc phỏng vấn các câu hỏi từ các phụ huynh
hoặc người bảo hộ của trẻ nên các thông tin
không phản ánh hết được các thói quen của trẻ
khi thời gian trẻ đi học hoặc tham gia các sinh
hoạt khác phụ huynh khó có thể kiểm soát được
KẾT LUẬN
Tỉ lệ trẻ em từ 5-15 tuổi nhiễm ấu trùng giun
đũa chó mèo (Toxocara spp.) tại xã Thạnh An,
huyện Vĩnh Thạnh, Tp Cần Thơ là 71% Trong
đó, tỉ lệ trẻ nhiễm cần điều trị là 30% và 70% trẻ
nhiễm ở thể không triệu chứng không cần điều
trị, chỉ theo dõi và hạn chế cho trẻ tiếp xúc với
các yếu tố nguy cơ
Có mối liên quan giữa nhiễm Toxocara spp
với tăng BCAT, tăng nồng độ IgE toàn phần (p
<0,05) Trong đó, trẻ bị nhiễm Toxocara spp có tỉ
lệ tăng BCAT và tăng nồng độ IgE toàn phần cao
hơn nhóm trẻ không bị nhiễm (p <0,05)
Có mối liên quan giữa học vấn của trẻ với
nhiễm Toxocara spp., trong đó trẻ học cấp hai có tỉ
lệ nhiễm giun đũa chó mèo cao hơn so với trẻ học lớp mẫu giáo (p <0,05)
Trong các yếu tố tiếp xúc được xét đến thì các yếu tố gia đình từng nuôi chó mèo, số lượng chó mèo hiện đang nuôi 4-6 con là yếu tố nguy
cơ làm tăng tỉ lệ trẻ bị nhiễm giun đũa chó mèo
Và những gia đình ăn rau sống được rửa sạch thường xuyên tại nhà có tỷ lệ trẻ bị nhiễm
Toxocara spp chỉ bằng 0,77 lần so với những gia
đình ăn rau sống chưa bao giờ được rủa sạch (p<0,05)
KIẾN NGHỊ
Cần tăng cường truyền thông kiến thức phòng chống lây nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo cho trẻ và phụ huynh như: rửa sạch rau sống trước khi ăn, hạn chế nuôi nhiều chó mèo trong nhà, hạn chế không cho trẻ tiếp xúc với chó, mèo, tiêm ngừa giun sán chó mèo đầy đủ Cần có nghiên cứu việc ô nhiễm trứng
Toxocara spp trong môi trường đất và trên rau
sống tại địa phương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2016) Ban hành tài liệu "Định nghĩa trường hợp bệnh truyền nhiễm” Quyết định số 4283/QĐ-BYT, pp.32
2 Bùi Văn Tuấn, Nguyễn Văn Chương (2012) Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và yếu tố nguy cơ nhiễm ấu trùng giun
Toxocara sp ở một số điểm tại Bình Định và Gia Lai Y học Thành
phố Hồ Chí Minh, 16(3):91-97
3 Dattoli VC, Freire SM, et al (2011) "Toxocara canis infection is associated with eosinophilia and total IgE in blood donors from
a large Brazilian centre" Trop Med Int Health, 16(4):514-517
4 Lê Đình Vĩnh Phúc, Nguyễn Bảo Toàn, Lê Hữu Lợi (2016) "Đặc Điểm Dịch Tễ, Lâm Sàng, Cận Lâm Sàng Ở Bệnh Nhân Nhiễm
Toxocara spp Tại Trung Tâm Y Khoa Medic Thành Phồ Hồ Chí
Minh Năm 2016" Tạp chí Y học Dự phòng, 27(1):148
5 Lương Trường Sơn, Đặng Thị Nga, Nguyễn Ngọc Ánh, và cs (2013)." Tìm hiểu các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị đối với những bệnh nhân nhiễm giun sán đến khám tại Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Thành phố Hồ
Chí Minh" Y học Thành phố Hồ Chí Minh 17(1):87-94
6 Magnaval JF, Glickman LT, Dorchies P, Morassin B (2001)
Highlights of human toxocariasis Korean Journal of Parasitology,
39:1–11
7 Mário LT, et al (2008) "Prevalence of Toxocara canis infection in public squares of the Concórdia City, Santa Catarina, Brazil"
Parasitol Latinoam, 63(n.1-2-3-4):69-71
8 Nguyễn Hồ Phương Liên (2013) Tỷ lệ huyết thanh dương tính
với Toxocara spp ở người trưởng thành quận 12 tp Hồ Chí Minh