1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tần suất một số gen độc lực đường ruột và tính kháng colistin của các chủng Escherichia Coli sinh β-lactamase phổ rộng (ESBL) phân lập từ thực phẩm, người khỏe mạnh và bệnh nhân

8 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 385,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát tần suất một số gen độc lực đường ruột và khả năng đề kháng colistin của 210 chủng E. coli sinh ESBL đã phân lập từ thực phẩm, người khỏe mạnh và bệnh nhân tiêu chảy tại thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

TẦN SUẤT MỘT SỐ GEN ĐỘC LỰC ĐƯỜNG RUỘT

VÀ TÍNH KHÁNG COLISTIN CỦA CÁC CHỦNG ESCHERICHIA COLI

SINH -LACTAMASE PHỔ RỘNG (ESBL) PHÂN LẬP TỪ THỰC PHẨM, NGƯỜI KHỎE MẠNH VÀ BỆNH NHÂN TIÊU CHẢY TẠI TP HỒ CHÍ MINH

Hoàng Hoài Phương * , Lê Thị Hiên * , Trần Nguyễn Minh Đoan * , Nguyễn Thị Anh Đào * , Nguyễn Đỗ Phúc *

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Một số nhóm Escherichia coli (E coli) có khả năng gây bệnh trong và ngoài đường ruột do

chúng mang các gen độc lực khác nhau Hiện nay, E coli có thể đề kháng với nhiều loại kháng sinh - đặc biệt là cephalosporin thế hệ thứ ba và colistin dẫn đến nguy cơ thất bại trong điều trị và làm tăng tỷ lệ tử vong

Mục tiêu: Khảo sát tần suất một số gen độc lực đường ruột và khả năng đề kháng colistin của 210 chủng E

coli sinh ESBL đã phân lập từ thực phẩm, người khỏe mạnh và bệnh nhân tiêu chảy tại thành phố Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu: Xác định kiểu gen ESBL, khảo sát sự hiện diện của một số gen độc lực đường

ruột và phân nhóm phát sinh loài của các chủng E coli sinh ESBL bằng phương pháp PCR Xác định giá trị MIC đối với colistin của các chủng E coli sinh ESBL và kiểm tra sự hiện diện của gen mcr-1

Kết quả: Kiểu gen ESBL chiếm ưu thế thuộc nhóm CTX-M (82,9%) – chủ yếu là bla CTX-M-1 (52,9%), bla CTX-M-9 (30,5%) Tỷ lệ chủng E coli sinh ESBL mang gen độc lực đường ruột khá thấp: 7 chủng (3,4%) mang gen daaD, 1 chủng (0,5%) mang gen eagg đều được phân lập từ người khỏe mạnh và bệnh nhân tiêu chảy Nhóm phát sinh loài A và B1 chiếm ưu thế trong tổng số 210 chủng vi khuẩn E coli sinh ESBL với tỷ lệ lần lượt là 31,9% và 30%, trong khi nhóm B2, C, D, E, F và U chiếm tỷ lệ thấp hơn, lần lượt là 8,1%, 2,3%, 5,7%, 13,8%, 6,2% và 1,4% Có 7,1% chủng E coli sinh ESBL phân lập từ thực phẩm và 4,9% chủng vi khuẩn từ bệnh nhân tiêu chảy có khả năng đề kháng colistin do mang gen mcr-1

Kết luận: Vi khuẩn E coli sinh ESBL mang gen độc lực đường ruột với tỷ lệ thấp Một số chủng E coli sinh

ESBL cũng đồng thời mang gen mcr-1 quy định khả năng đề kháng colistin Vì colistin được xem là giải pháp cuối cùng trong điều trị bệnh do vi khuẩn đa kháng, việc cấp thiết là phải tiến hành theo dõi và thực hiện các giải pháp can thiệp để ngăn chặn sự lan rộng của vi khuẩn mang gen kháng mcr

Từ khóa: gen độc lực, tính kháng colistin

ABSTRACT

INTESTINAL VIRULENCE GENES AND COLISTIN RESISTANCE OF EXTENDED-SPECTRUM -LACTAMASE (ESBL) – PRODUCING ECHERICHIA COLI

ISOLATED FROM FOOD, HEALTHY PEOPLE AND DIARRHEA PATIENTS IN HO CHI MINH CITY

Hoang Hoai Phuong, Le Thi Hien, Tran Nguyen Minh Doan, Nguyen Thi Anh Dao, Nguyen Do Phuc,

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 5 - 2019: 388 - 395

Background: Some groups of Escherichia coli (E coli) can cause intra- and extraintestinal disease because

they carry different virulence genes Nowadays, E coli can be resistant to many antibiotics - especially third-generation cephalosporins and colistin, leading to a risk of treatment failure and increased mortality

Objectives: To evaluate of intestinal virulence and colistin resistance of 210 ESBL - E coli isolates from

food, healthy people and diarrhea patients in Ho Chi Minh City

*Viện Y Tế Công Cộng TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: ThS Lê Thị Hiên ĐT: 0938640803 Email: lethihien@iph.org.vn

Trang 2

Methods: ESBL genotypes, some intestinal virulence genes and phylogenetic group of 210 ESBL - E coli

strains were identified by PCR method To determine the MIC value for colistin and check the presence of mcr-1 gene in these strains

Results: The dominant ESBL genotype belongs to CTX-M group (82.9%) - including bla CTX-M-1 (52.9%), bla CTX-M-9 (30.5%) eagg and daaD were detected in 1 (0.5%) and 7 (3.4%) strains The dominant phylogroups were A (31.9%) and B1 (30%); phylogroup B2, C, D, E, F and U rates are lower, 8.1%, 2.3%, 5.7%, 13.8%, 6.2% and 1.4%, respectively 7.1% of ESBL - E coli isolates from food and 4.9% from diarrhea patients had colistin MIC values of higher 2 µg/ml and were positive with mcr-1 gene

Conclusions: The frequency of intestinal virulence genes of ESBL - E coli is low Some ESBL - E coli

isolates also carry mcr-1 gene that encodes mobilized colistin resistance As colistin is the last option against multidrug-resistant E coli infection, careful monitoring of the evolution of colistin resistance and the spread of

mcr-1 gene in isolates is urgently needed

Keywords: virulence gene, colistin resistance

ĐẶT VẤN ĐỀ

Escherichia coli là loài vi khuẩn tồn tại thường

trú trong cơ thể con người và động vật Bên cạnh

các vi khuẩn E coli lành tính, còn có nhiều vi

khuẩn E coli có khả năng gây bệnh trong và

ngoài đường ruột do chúng mang các yếu tố gây

bệnh khác nhau Nhóm E coli gây tiêu chảy

(DEC) được phân thành 6 loại dựa trên cơ chế

gây bệnh khác nhau, bao gồm: EHEC, EPEC,

ETEC, EIEC, EAEC và DAEC(7)

Để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn E coli,

kháng sinh là loại thuốc không thể thiếu Hiện

nay, E coli có khả năng đề kháng với nhiều loại

kháng sinh sử dụng phổ biến trong điều trị - đặc

biệt là kháng sinh họ cephalosporin thế hệ thứ

ba, dẫn đến nguy cơ thất bại trong điều trị và

làm tăng tỷ lệ tử vong, và nguyên nhân của điều

này là vi khuẩn có khả năng sinh các men

β-lactamase phổ rộng (ESBL) Trong những năm

gần đây, một số nghiên cứu trên nhiều quốc gia

đã ghi nhận vi khuẩn E coli còn mang gen kháng

với colistin- kháng sinh được xem là giải pháp

điều trị cuối cùng cho vi khuẩn đa kháng

thuốc(6) Đây được xem là mối đe dọa đặc biệt

nghiêm trọng đối với sức khỏe con người

Việc vi khuẩn E coli vừa mang yếu tố gây

bệnh, vừa mang các gen kháng kháng sinh làm

tăng mối nguy hiểm của vi khuẩn này lên nhiều

lần Các nghiên cứu tại nhiều quốc gia cũng đã

đánh giá vấn đề này Trong khi đó, ở Việt Nam,

số lượng các công bố trên đối tượng vi khuẩn E

coli sinh ESBL còn hạn chế và chưa đầy đủ về

khả năng mang gen độc lực đường ruột cũng như tính kháng với kháng sinh colistin Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm khảo sát tần suất một số gen độc lực đường ruột và khả năng

đề kháng colistin của các chủng E coli sinh ESBL

đã phân lập tại thành phố Hồ Chí Minh

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định kiểu gen ESBL của các chủng E coli

sinh ESBL đã phân lập Khảo sát sự hiện diện của một số gen độc lực

đường ruột của các chủng E.coli sinh ESBL

Xác định phân nhóm phát sinh loài của các

chủng E coli sinh ESBL

Xác định khả năng đề kháng colistin của các

chủng E coli sinh ESBL

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

210 chủng E coli có kiểu hình sinh ESBL

được phân lập từ 3 nguồn mẫu khác nhau: 113 chủng từ thực phẩm, 36 chủng từ người khỏe mạnh và 61 chủng từ bệnh nhân tiêu chảy tại thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2016 – 2018, tiến hành tại phòng thí nghiệm Vi sinh vật – Trung tâm Kiểm nghiệm An toàn thực phẩm khu vực phía Nam, Viện Y tế công cộng TP Hồ Chí Minh

Chủng chứng dương từ Viện Y tế công cộng

Trang 3

Phủ Osaka, giáo sư Yamasaki Shinji (Trường đại

học phủ Osaka – Nhật Bản) và Viện Y tế Công

cộng TP Hồ Chí Minh

Phương pháp nghiên cứu

Tách chiết DNA vi khuẩn

Vi khuẩn được nuôi cấy thuần trên môi

trường Tryptic Soy agar (Merck) ở 37oC trong

18-24 giờ Lấy một khuẩn lạc thuần và tạo huyền

phù vi khuẩn trong 100 µL dung dịch TE 1X, tiến

hành đun sôi 95oC trong 10 phút để tách DNA

Dịch DNA vi khuẩn được sử dụng làm khuôn

cho các phản ứng PCR

Xác định kiểu gen ESBL

Các chủng E coli có kiểu hình ESBL bằng

phương pháp multiplex PCR tham khảo từ tác

giả Le QP và cộng sự(8) sử dụng mồi đặc hiệu cho

các nhóm TEM, SHV, M-1, M-2,

CTX-M-8, CTX-M-9 và CTX-M-25

Xác định sự hiện diện của một số gen độc lực

đường ruột

Các phản ứng PCR và multiplex PCR tham

khảo từ các nghiên cứu trước đây được thực

hiện để phát hiện 10 gen độc lực đường ruột

đặc trưng cho 6 nhóm vi khuẩn gây bệnh DEC

trên 210 chủng E coli sinh ESBL, bao gồm các

gen astA, eaeA, bfpA, ial, stx1, stx2, eagg, elt(10),

est(5) và daaD(11)

Xác định phân nhóm phát sinh loài

210 chủng E coli sinh ESBL được tiến hành

xác định nhóm phát sinh loài A, B1, B2, C, D, E

và F theo phương pháp của tác giả Clermont O

và cộng sự(2)

Xác định kiểu hình đề kháng colistin

Các chủng E coli sinh ESBL được xác định

nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của colistin bằng phương pháp vi pha loãng kháng sinh trong dung dịch theo tiêu chuẩn CLSI(3) Chủng được

sử dụng làm chủng kiểm soát cho quy trình thử

nghiệm kháng sinh bao gồm E coli ATCC 25922 (MIC = 0,25 - 2 µg/mL) và Pseudomonas aeruginosa

ATCC 27853 (MIC = 0,5 - 4 µg/mL) Nước cất

được sử dụng làm chứng âm

Phát hiện gen kháng colistin mcr-1

Gen quy định tính kháng colistin di động

mcr-1 được tiến hành kiểm tra trên chủng E coli

sinh ESBL bằng quy trình PCR của nhóm tác giả Covaco L và cộng sự(1)

KẾT QUẢ Phân tích kiểu gen ESBL

Bảng 1 thể hiện tần suất và tỷ lệ của các gen

ESBL phát hiện được trong 210 chủng E coli sinh

ESBL trong nghiên cứu này

Bảng 1: Tần suất và tỷ lệ các kiểu gen ESBL của 210 chủng E coli sinh ESBL

Thực phẩm Người khỏe mạnh Bệnh nhân tiêu chảy

bla CTX-M-8/25

Chủng mang 1 gen

107 (51%)

bla TEM + bla CTX-M-9

Chủng mang 2 gen

101 (48%)

Kết quả từ Bảng 1 cho thấy có 107/210 chủng

E coli (chiếm tỷ lệ 51%) chỉ mang một gen ESBL

duy nhất; 101/210 chủng (48%) có mang 2 gen

ESBL khác nhau: chủ yếu là bla TEM và bla CTX-M, đặc

biệt có 2 chủng (1%) nguồn gốc từ thực phẩm

cùng mang 3 gen ESBL khác nhau: bla TEM cùng

với bla CTX-M-1 và bla CTX-M-9 Kiểu gen ESBL chiếm tỷ

lệ cao nhất là bla TEM bla CTX-M-1 (30,5%).Trong cả

3 nền mẫu đều ghi nhận kiểu gen ESBL chiếm

ưu thế thuộc nhóm CTX-M, trong đó hầu hết là

Trang 4

bla CTX-M-1 và bla CTX-M-9, chỉ phát hiện 1 chủng mang

gen bla CTX-M-8/25 phân lập từ bệnh nhân tiêu chảy,

không phát hiện gen bla CTX-M-2 Kiểu gen ESBL

thuộc nhóm TEM vẫn chiếm tỷ lệ khá cao và

thấp nhất là nhóm SHV (1/113 chủng phân lập

từ thực phẩm) Trong nền mẫu thực phẩm, tỷ lệ

kiểu gen bla TEM , bla CTX-M-1 và bla CTX-M-9 được phát

hiện với tỷ lệ lần lượt là 69%, 56,7% và 31,9%

Trong nền mẫu người khỏe mạnh, tỷ lệ kiểu gen

bla TEM , bla CTX-M-1 và bla CTX-M-9 được phát hiện với tỷ

lệ lần lượt là 63,9%, 41,7% và 36,1% Trong nền

mẫu bệnh nhân tiêu chảy, các tỷ lệ này lần lượt

là 60,7%, 52,5% và 24,5%

Khảo sát một số gen độc lực đường ruột

210 chủng vi khuẩn E coli sinh ESBL được

kiểm tra sự hiện diện của 10 gen độc lực đặc

trưng cho 6 nhóm vi khuẩn DEC Kết quả này

được thể hiện tóm tắt trong Bảng 2 dưới đây

Chúng tôi phát hiện 146/210 chủng (69,5%) không mang 10 gen độc lực liên quan với DEC được kiểm tra; 64 chủng (30,5%) có mang ít nhất

1 gen độc lực, bao gồm astA, eagg và daaD astA

là gen duy nhất phát hiện trong các chủng E coli

sinh ESBL phân lập từ thực phẩm Tuy nhiên, ở các chủng có nguồn gốc phân lập từ người khỏe mạnh và bệnh nhân thì xuất hiện thêm các yếu

tố gây bệnh khác như eagg và daaD Kết quả

cũng cho thấy có 7/210 chủng (3,4%) được xếp

vào loại DAEC do mang gen daaD và 1 chủng được xếp vào loại EAEC do mang gen eagg

Bảng 2: Kết quả kiểm tra gen độc lực của 210 chủng E coli sinh ESBL

Gen độc lực Thực phẩm Người khỏe mạnh Bệnh nhân tiêu chảy Tần suất (n) Tỷ lệ

ND: Không phát hiện

Phân nhóm phát sinh loài của các chủng E coli

sinh ESBL

Tỷ lệ các nhóm phát sinh loài khác nhau của

210 chủng E coli sinh ESBL được thể hiện trong

Bảng 3

Từ Bảng 3 cho thấy nếu như không xét về

nguồn gốc phân lập thì đa số các chủng thuộc

nhóm A (31,9%) và B1 (30%); tiếp theo là nhóm E

(13,8%), nhóm B2, C, D và F chiếm tỷ lệ thấp

hơn, lần lượt là 8,1%, 2,3%, 5,7% và 6,2% và

1,4%; có 1,4% chủng không xác định được nhóm

phát sinh loài Tuy nhiên, tỷ lệ các nhóm phát

sinh loài của chủng E coli sinh ESBL phân lập từ

các nền mẫu có sự khác nhau Đối với nền mẫu thực phẩm, nhóm phát sinh loài A và B1 chiếm

ưu thế với tỷ lệ lần lượt là 41,6% và 35,4%, sau

đó là nhóm E (12,4%), không phát hiện nhóm B2

Trong khi đó, các chủng E coli sinh ESBL phân

lập từ bệnh nhân tiêu chảy cũng có nhóm A và B1 chiếm ưu thế với tỷ lệ lần lượt là 24% và 28%, nhóm B2, D, E và F chiếm tỷ lệ tương đương nhau (10 - 13%), không phát hiện nhóm C Trên đối tượng người khỏe mạnh, nhóm chiếm ưu thế lại là nhóm B2 (22,2%) và E (19,4%), sau đó là nhóm A, B1 (cùng tỷ lệ 16,7%) và nhóm D (13,9%), không phát hiện nhóm C

Bảng 3: Tần suất và tỷ lệ các nhóm phát sinh loài của chủng E coli sinh ESBL

Nhóm phát sinh loài Thực phẩm Người khỏe mạnh Bệnh nhân tiêu chảy Tổng cộng

TspE4.C2 (152bp)

500bp

Trang 5

Nhóm phát sinh loài Thực phẩm Người khỏe mạnh Bệnh nhân tiêu chảy Tổng cộng

U: Không xác định

Khả năng đề kháng colistin của các chủng E

coli sinh ESBL

Hình 1: Tỷ lệ phân bố chủng E coli sinh ESBL phân

lập từ 3 nền mẫu theo giá trị MIC của colistin

Hình 1 mô tả sự phân bố tỷ lệ các chủng E

coli sinh ESBL từ 3 nguồn phân lập theo giá trị

MIC của colistin Các chủng này có MIC phân bố

từ 0,25 đến 16 g/ mL Tỷ lệ phát hiện các chủng

vi khuẩn E coli sinh ESBL có giá trị MIC colistin

vượt hơn giá trị ngưỡng ECV (2 µg/mL) cao nhất

ở nền mẫu thực phẩm (8/113 chủng; 7,1%), tiếp

theo là bệnh nhân tiêu chảy (3/61 chủng; 4,9%)

và không phát hiện trên nền mẫu người khỏe

mạnh 11 chủng vi khuẩn E coli sinh ESBL có giá

trị MIC lớn hơn 2 g/ mL đều được phát hiện

mang gen kháng colistin mcr-1

BÀN LUẬN

210 chủng E coli có kiểu hình ESBL đã được

phân lập từ thực phẩm (n=113), người khỏe

mạnh (n=36) và bệnh nhân tiêu chảy (n=61) tại

thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2016 – 2018

được kiểm tra kiểu gen ESBL Kiểu gen ESBL

được chia thành 3 loại chính: SHV, TEM và

CTXM, trong đó CTXM chia thành 5 nhóm: CTX1,

-2, -8, -9 và -25 Bảng 1 thể hiện tần suất và tỷ lệ

các chủng E.coli có kiểu gen ESBL khác nhau

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các

công bố của nhiều nhóm nghiên cứu trên các quốc gia về sự gia tăng và chiếm ưu thế của nhóm gen ESBL họ CTX-M Một vài nghiên cứu tại châu Âu cho thấy kiểu gen ESBL nổi bật thuộc nhóm CTX-M-1 như ở Anh(9) Ở Việt Nam,

các nghiên cứu tiến hành trên chủng E coli sinh

ESBL đều cho thấy phần lớn kiểu gen kháng thuộc nhóm CTX-M với cả 2 nhóm CTX-M-1 và CTX-M-9, tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy

tỷ lệ của kiểu gen nhóm CTX-M-1 chiếm tỷ lệ cao nhất(8) - tương tự với kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận thấy giữa 3 nền mẫu phân lập chủng trong nghiên cứu này dường như không có khác biệt

về tỷ lệ gen chiếm ưu thế

Tiêu chảy cấp tính là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi – đặc biệt ở các nước đang phát triển Theo WHO, cùng với

Rotavirus, E coli là nguyên nhân quan trọng

hàng đầu gây ra tiêu chảy Vi khuẩn E coli vốn

là một thành viên bình thường của hệ vi sinh đường ruột của động vật, lưu trú từ vùng dạ dày tới ruột già Tuy nhiên, trong quá trình phát triển

và biến đổi thích nghi, một số chủng E coli đã

thu nhận DNA của bacteriophage hoặc plasmid

mã hóa các yếu tố độc lực đường ruột và trở thành chủng gây bệnh DEC Các vi khuẩn này

có thể lưu hành và lây lan trong hệ thống phân phối thực phẩm, bệnh nhân cũng như người khỏe mạnh Để kiểm tra khả năng các vi khuẩn

E coli sinh ESBL, chúng tôi sử dụng các phản

ứng multiplex-PCR và PCR có khả năng phát

hiện các gen mã hóa yếu tố gây bệnh đặc trưng cho DEC Kết quả nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ

phát hiện yếu tố gây bệnh khác như eagg và daaD đặc trưng cho DAEC và EAEC khá thấp Trong

khi, DAEC vẫn chưa thể hiện mối liên hệ với

tình trạng tiêu chảy do vi khuẩn E coli của bệnh

nhân nhập viện và DAEC trên cả người khỏe mạnh và bệnh nhân tiêu chảy thì EAEC lại được

Trang 6

biết đến nhiều nhất là nguyên nhân gây bệnh

tiêu chảy cấp tính ở các nước đang phát triển

cũng như ở khách du lịch và người bị suy giảm

miễn dịch EAEC từng gây ra nhiều vụ dịch trên

toàn thế giới Việc phát hiện chủng E coli thuộc

nhóm EAEC từ bệnh nhân tiêu chảy đồng thời

có khả năng sinh ESBL để phá hủy kháng sinh

điều trị cho thấy mức độ nguy hiểm của chủng

vi khuẩn này, theo đó, bệnh nhân cần phải điều

trị với kháng sinh mạnh hơn Trong khi đó, vai

trò của gen astA – được phát hiện với tỷ lệ khá

cao (27,7%) chưa thực sự rõ ràng astA là gen duy

nhất được phát hiện trong các chủng phân lập từ

mẫu thực phẩm (38%) Đối với chủng E coli sinh

ESBL phân lập từ bệnh nhân tiêu chảy thì astA

cũng là gen phổ biến (18%) Trên thực tế, đã có

những báo cáo về các vụ bùng phát bệnh dạ dày

– ruột liên quan tới các chủng E coli có mang gen

astA. Vì thế, từ kết quả của nghiên cứu này,

chúng tôi đề xuất nên có những nghiên cứu sâu

hơn để chứng tỏ chức năng của astA trong quá

trình gây bệnh của vi khuẩn E coli Ngoài ra, kết

quả trong nghiên cứu này của chúng tôi cho thấy

số lượng các gen độc lực đường ruột của các

chủng E coli sinh ESBL được phát hiện là thấp

Kết quả này tương đối phù hợp với các nghiên

cứu khác đã được công bố trên thế giới

Khi đánh giá tổng thể về sự thay đổi của

quần thể vi sinh vật, phân tích phân nhóm phát

sinh loài của các chủng vi khuẩn rất hữu ích, đặc

biệt phân tích này có ý nghĩa quan trọng trong

nghiên cứu về dịch tễ học Xác định phân nhóm

phát sinh loài bên cạnh việc phát hiện gen độc

lực có thể là công cụ hữu ích giúp đánh giá, dự

đoán nguy cơ tiềm ẩn của vi khuẩn E coli được

tìm thấy đối với sức khỏe con người Sự phân bố

của nhiều gen độc lực cũng được chứng tỏ có sự

khác nhau giữa các nhóm phát sinh loài khác

nhau Trước đây, các chủng E coli được phân

thành 4 nhóm phát sinh loài chính: A, B1, B2, và

D Các chủng vi khuẩn gây bệnh ngoài đường

ruột chủ yếu thuộc nhóm B2 và D; trong khi các

chủng thường trú đường ruột thường thuộc

nhóm A và B1 Sau đó, ngoài 4 nhóm này, người

ta còn xác định thêm các nhóm khác: E (trong đó

có E coli O157: H7), C và F Sự phân bố của

nhiều gen độc lực cũng được chứng tỏ có sự khác nhau giữa các nhóm phát sinh loài khác

nhau Bảng 3 mô tả kết quả phân nhóm phát sinh

loài của 210 chủng E coli sinh ESBL từ 3 nguồn mẫu phân lập khác nhau Chúng tôi nhận thấy

sự gia tăng tỷ lệ cao phân nhóm phát sinh loài B2

và D trong nền mẫu người khỏe mạnh và bệnh nhân tiêu chảy so với nền mẫu thực phẩm Kết quả này có sự tương đồng với các nghiên cứu trước đây Một số nghiên cứu cho thấy chủng vi khuẩn E coli phân lập từ người chủ yếu thuộc nhóm A, sau đó là nhóm B1, nhóm B2 và D cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao, trong khi những chủng E coli phân lập từ thực phẩm chủ yếu thuộc nhóm A và B1, nhóm B2 và D được phát hiện với tỷ lệ thấp(8) Các chủng E coli thuộc nhóm B2 và D mang các gen độc lực ngoài đường ruột, cho thấy người khỏe mạnh và bệnh nhân tiêu chảy được xem là vật chủ mang các vi khuẩn có khả năng chứa độc lực

Colistin được xem là giải pháp cuối cùng điều trị các vi khuẩn siêu đa kháng Khả năng kháng colistin của vi khuẩn do đột biến trên gen nằm trên nhiễm sắc thể đã được phát hiện từ sớm, tuy nhiên đến năm 2015, các nhà khoa học

đã phát hiện gen kháng colistin nằm trên plasmid có khả năng lây truyền cao – gọi là gen

mcr Trong những năm gần đây, các vi khuẩn có

khả năng kháng colistin do mang gen kháng mcr

được phát hiện trên nhiều nền mẫu khác nhau

và được báo cáo trên nhiều quốc gia khắp thế

giới Kể từ sau khi phát hiện gen mcr-1, các gen kháng colistin mcr-2, -3, -4, -5 cũng đã được báo

cáo, trong đó phần lớn các báo cáo ghi nhận phát

hiện các gen mcr-1 với tỷ lệ cao nhất.210 chủng

E coli sinh ESBL đã được xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của colistin và sự hiện diện

gen mcr-1 Kết quả này cho thấy các chủng vi khuẩn E coli sinh ESBL phân lập từ thực phẩm

có tỷ lệ mang gen kháng colistin mcr-1 cao hơn ở

người khỏe mạnh và bệnh nhân tiêu chảy Các

chủng vi khuẩn mang gen mcr-1 này được phân

Trang 7

lập từ các mẫu thịt tươi sống, được lấy từ trong

hệ thống phân phối: siêu thị, chợ đầu mối và chợ

bán lẻ Tỷ lệ chủng vi khuẩn E coli sinh ESBL

mang gen mcr-1 phân lập từ thực phẩm (7,1%)

phát hiện được trong nghiên cứu này thấp hơn

so với công bố của một số nhóm tác giả khác ở

Trung Quốc(6) Trong nghiên cứu này, chúng tôi

cũng đã phát hiện 3 chủng vi khuẩn mang gen

kháng mcr-1 từ 61 chủng E coli sinh ESBL phân

lập từ bệnh nhân tiêu chảy tại thành phố Hồ Chí

Minh, chiếm tỷ lệ 4,9% Tại Hà Nội, Tada và

cộng sự cũng đã báo cáo phát hiện 2 chủng E

coli mang gen kháng mcr-1 từ bệnh nhân nhập

viện(12)

Colistin rất hạn chế sử dụng trong điều trị

bệnh cho con người; tuy nhiên, loại kháng sinh

này này đã và đang được sử dụng trên quy mô

công nghiệp bởi rất nhiều nông dân không chỉ ở

Việt Nam mà trên khắp thế giới, gây ra rủi ro

cho sức khỏe con người Colistin đang bị lạm

dụng trong chăn nuôi, trên heo, gà và các động

vật nuôi khác để làm cho chúng tăng cân nhanh

hơn và bảo vệ chống lại bệnh tật Một số nghiên

cứu đã phát hiện vi khuẩn mang gen mcr-1 từ

nhiều năm trước đây chứng tỏ trong quần thể vi

khuẩn đã sớm hình thành và lan truyền khả

năng đề kháng với colistin, như tại Pháp(4) Sự

lây truyền của vi khuẩn từ vật nuôi, thực phẩm

qua môi trường và con người làm lan rộng tính

kháng colistin qua nhiều quần thể vi khuẩn

khác, kể cả các loài vi khuẩn khác Nếu không có

biện pháp can thiệp, loài người có thể sẽ mất đi

hàng phòng thủ cuối cùng này Đây là hiểm họa

toàn cầu gây ra nguy hiểm cho sức khỏe cộng

đồng Năm 2017, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

khuyến cáo các quốc gia cần ngừng sử dụng các

kháng sinh quan trọng trên động vật nuôi khỏe

mạnh(13) Trong bối cảnh này, các nhà quản lý

Việt Nam cũng cần tiến hành các biện pháp can

thiệp để ngăn chặn mối nguy này

KẾT LUẬN

Vi khuẩn E coli sinh ESBL có kiểu gen

kháng ESBL chiếm ưu thế thuộc loại CTX-M,

với tỷ lệ ở dạng kết hợp với các gen khác khá

cao Tỷ lệ chủng E coli sinh ESBL mang gen

độc lực đường ruột khá thấp: 3,4% chủng DAEC, 0,5% chủng EAEC - được phân lập từ

người khỏe mạnh và bệnh nhân tiêu chảy astA

là gen duy nhất được phát hiện trên các chủng

vi khuẩn E coli sinh ESBL từ thực phẩm – tuy

nhiên, đây là gen chưa xác định rõ chức năng trong quá trình gây bệnhđộc lực đường ruột với tỷ lệ thấp Tuy được phát hiện với tỷ lệ

thấp nhưng một số chủng E coli sinh ESBL cũng đồng thời mang gen mcr-1 quy định khả

năng đề kháng colistin Đây thực sự là một điều đáng báo động với sức khỏe cộng đồng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cavaco L, Mordhorst H, Hendriksen R (2016) Laboratory protocol: PCR for plasmid-mediated colistin resistance genes,

DTU Food Natl food Inst 2(October 2016):1–15

2 Clermont O, Christenson JK, Denamur E, Gordon DM (2013)

The Clermont Escherichia coli phylo-typing method revisited:

Improvement of specificity and detection of new phylo-groups

Environ Microbiol Rep 5(1):58–65

3 CLSI (2017) M100- Performance Standards for Antimicrobial

Susceptibility Testing, 27th edition Clin Lab Stand Inst, pp.18

4 Delannoy S, et al (2017) Characterization of Colistin-Resistant

Escherichia coli Isolated from Diseased Pigs in France Front Microbiol, 8:1–12

5 Hinenoya A, et al (2014) Molecular characterization of

cytolethal distending toxin gene-positive Escherichia coli from healthy cattle and swine in Nara, Japan BMC Microbiol,

14(97):1–13

6 Huang X, et al (2017) High Prevalence of Colistin Resistance

and mcr-1 Gene in Escherichia coli Isolated from Food Animals in China Front Microbiol, 8:1–5

7 Kaper JB (2005) Pathogenic Escherichia coli Int J Med Microbiol

295(6–7):355–356

8 Le Quoc Phong, et al (2015) Characteristics of

Extended-Spectrum beta-Lactamase-Producing Escherichia coli in Retail Meats and Shrimp at a Local Market in Vietnam Foodborne

Pathog Dis, 12(8):719–725

9 Munday CJ, Whitehead GM, Todd NJ, Campbell M, Hawkey

PM (2004) Predominance and genetic diversity of community- and hospital-acquired CTX-M extended-spectrum β-lactamases

in York, UK J Antimicrob Chemother, 54(3):628–633

10 Omar KB, Barnard TG (2014) Detection of diarrhoeagenic

Escherichia coli in clinical and environmental water sources in

South Africa using single-step 11-gene m-PCR World J Microbiol

Biotechnol, 30(10):2663–2671

11 Salmani H, Azarnezhad A, Fayazi MR, Hosseini A (2016)

Trang 8

Pathotypic and Phylogenetic Study of Diarrheagenic Escherichia

coli and Uropathogenic E coli Using Multiplex Polymerase

Chain Reaction Jundishapur J Microbiol, 9(2):1–7

12 Tada T, et al (2017) Emergence of colistin-resistant Escherichia

coli clinical isolates harboring mcr-1 in Vietnam Int J Infect Dis,

doi:10.1016/j.ijid.2017.07.003

13 WHO (2017) WHO guidelines on use of medically important

antimicrobials in food-producing animals World Heal Organ,

pp.13–22

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/08/2019

Ngày đăng: 24/10/2020, 11:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w