1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực trạng luyện tập thể dục thể thao của sinh viên hệ đại học chính quy khoá 2018 tại trường Đại học Trà Vinh

7 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 341,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên đối tượng là sinh viên hệ đại học chính quy khoá 2018 tại trường Đại học Trà Vinh bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng với n = 390.

Trang 1

37-42 THỰC TRẠNG LUYỆN TẬP THỂ DỤC THỂ THAO

CỦA SINH VIÊN HỆ ĐẠI HỌC CHÍNH QUY KHOÁ 2018

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

Nguyễn Bình Minh * , Cao Mỹ Phượng **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Sinh viên là lứa tuổi bắt đầu tiếp xúc với xã hội nhiều hơn, lịch học tập dày đặc có thể xao lãng

việc luyện tập thể dục thể thao (TDTT) Trong khi đó, việc không tập luyện thể dục, thể thao là yếu tố nguy cơ gây nên các bệnh dẫn đến tử vong đứng thứ tư trên thế giới Do đó cần có nghiên cứu về thực trạng luyện tập

TDTD của sinh viên

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ sinh viên có luyện tập TDTT và một số yếu tố liên quan

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên đối tượng là sinh viên hệ đại học chính quy

khoá 2018 tại trường Đại học Trà Vinh bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng với n = 390

Kết quả: Tỷ lệ sinh viên có tập luyện tập TDTT chiếm 33,3% Có mối liên quan giữa giới tính và nơi ở

trước khi vào học và luyện tập TDTT: Nam sinh viên có tập luyện TDTT cao gấp 2 lần so với nữ sinh viên Sinh

viên có nơi ở trước khi vào học ở thành thị có tập luyện TDTT cao gấp 1,34 lần so với sinh viên ở nông thôn

Không có mối liên quan giữa tình trạng kinh tế gia đình, nơi ở khi học tập, khoa đang theo học, làm thêm với việc luyện tập TDTT Các sinh viên không tập luyện TDTT có nguy cơ bị thừa cân/béo phì cao gấp 1,12 lần so với

sinh viên có tập luyện TDTT

Kết luận: Tỷ lệ sinh viên có tập luyện TDTT là 33,3% Có mối liên quan giữa giới tính, nơi ở trước khi vào

học, thừa cân/béo phì và luyện tập TDTT

Từ khóa: sinh viên, thể dục, thể thao

ABSTRACT

PHYSICAL ACTIVITIES OF FULL-TIME STUDENTS ENROLLED IN 2018 AT TRA VINH UNIVERSITY

Nguyen Binh Minh, Cao My Phuong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 5 - 2019: 276 – 282

Background: Students who are at the age of starting to have more social interaction and dense learning

schedules may neglect doing exercises and playing sports Meanwhile, physical inactivity is the fourth leading risk factor for global death Therefore, a study on the situation of doing the exercise and playing sports of students need to be conducted

Objectives: Determining the percentage of students who do exercises and sports and some related factors Methods: A cross-sectional study was conducted on full-time students enrolled in the 2018 course at Tra

Vinh University Samples were collected by stratified random sampling method with n = 390

Results: The proportion of students who did exercises and sports accounts for 33.3% There was an

relationship between sex, the place of residence before enrollment and doing exercises and sports: Male students engaged in physical activities were nearly twice as much as female students Students living in urban areas did exercises and sports 1.34 times higher than students living in rural areas There is no relationship between the state of the family economy and the place of living, studying department with doing exercises and sports

* Trường đại học Trà Vinh Sở Y tế tỉnh Trà Vinh

Trang 2

Students who did not engage in exercises and sports were 1.12 times more likely to be overweight/obesity

Conclusion: The percentage of students doing exercises and sports was 33.3% There was a relationship

between sex, place of residence before enrollment, overweight/obesity and doing exercises and sports

Keywords: students, exercises, sports

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, không tập luyện

thể dục thể thao là yếu tố nguy cơ gây nên các

bệnh dẫn đến tử vong đứng thứ tư trên thế giới

(6% tử vong toàn cầu) chỉ sau tăng huyết áp

(13%), sử dụng thuốc lá (9%) và đường huyết

cao (6%)(1) Tuy vậy, tỷ lệ người dân ít hoặc

không tập luyện thể dục thể thao đang gia tăng

ở nhiều quốc gia, điều này ảnh hưởng rất lớn

đến tình trạng sức khỏe và làm tăng tỷ lệ mắc

các bệnh không lây như tim mạch, tiểu đường và

ung thư(2) Không tập luyện thể dục thể thao

được ước tính là nguyên nhân chính gây ra

khoảng 21 - 25% trường hợp mắc ung thư vú và

kết tràng, 27% trường hợp mắc đái tháo đường

và khoảng 30% trường hợp thiếu máu cơ tim(5)

Tại Việt Nam, theo “Báo cáo quốc gia về

thanh niên Việt Nam” thì, tỷ lệ rất thường

xuyên/thường xuyên tập thể thao trong nhóm

tuổi từ 16 - 19 tuổi cao hơn tỷ lệ này trong nhóm

tuổi từ 20 đến 24 Nam thanh niên có hoạt động

thể dục thể thao thường xuyên hơn nữ thanh

niên Thanh niên thành thị có mức độ tập thể

thao rất thường xuyên cao hơn so với thanh niên

nông thôn (8,4% so với 5,9%)(3)

Lứa tuổi sinh viên là lứa tuổi bắt đầu tiếp

xúc với xã hội nhiều hơn, tự lập nhiều hơn; bên

cạnh đó, lịch học tập dày đặc có thể khiến cho

sinh viên xao lãng việc quan tâm đến luyện tập

thể dục thể thao cải thiện, duy trì sức khoẻ và

đảm bảo chất lượng cuộc sống Trên thế giới và

tại Việt Nam cho đến nay đã có các nghiên cứu

về thực trạng luyện tập thể dục thể thao (TDTT)

trên đối tượng sinh viên Tuy nhiên, tại Trà Vinh

chưa có nghiên cứu về thực trạng luyện tập thể

dục thể thao của các sinh viên Nghiên cứu này

cũng sẽ giúp đề xuất các biện pháp cải thiện tình

trạng ít hoặc không luyện tập thể dục thể thao

trên đối tượng sinh viên

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỷ lệ sinh viên có luyện tập thể dục thể thao

Mô tả một số yếu tố liên quan đến việc luyện tập thể dục thể thao của sinh viên

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên hệ đại học chính quy khoá 2018 tại Trường Đại học Trà Vinh Thời gian nghiên cứu

từ ngày 18/03/2019 đến 02/06/2019

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu

Sử dụng công thức để tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ

2

2 /2)

d

p p Z

Trong đó:

n là cỡ mẫu

Z(1-α/2): Hệ số tin cậy với khoảng tin cậy 95% (α = 0,05), như vậy Z(1-α/2) =1,96

P là tỷ lệ sinh viên không luyện tập thể dục thể thao (TDTT) theo nghiên cứu của Hà Quang Tiến năm 2017(4) là 38,7%, do đó chọn p=0,387, d=0,05

Vậy cỡ mẫu tối thiểu n ~ 365

Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng

Giai đoạn 1: Xây dựng khung mẫu lập danh sách số lớp của 8 khoa (Trường có tổng cộng 12 khoa nhưng có 4 khoa có lịch thực tập trùng với thời gian nghiên cứu nên loại ra khỏi nghiên cứu) Mỗi lớp được xem là một cụm Tổng số có

46 lớp, tương đương 46 cụm

Giai đoạn 2: Chọn 30 cụm trong danh sách bằng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên

Giai đoạn 3: Mỗi cụm chọn ra 13 sinh viên bằng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên Nếu

Trang 3

cụm nào không đủ 13 sinh viên thì chọn thêm tại

các cụm liền kề Như vậy số mẫu được chọn là

390 sinh viên

Thu thập và xử lý dữ liệu

Phương pháp thu thập số liệu

Sử dụng bộ câu hỏi tự điền Phát cho mỗi đối

tượng 1 bộ câu hỏi khảo sát, nghiên cứu viên

hướng dẫn và giải đáp Bộ câu hỏi được thử

nghiệm trước và chỉnh sửa trước khi sử dụng

chính thức

Phương pháp xử lý số liệu

Sau khi thu thập số liệu được làm sạch sau

đó nhập và phân tích, xử lý số liệu bằng phần

mềm Stata 13 Sử dụng test χ2 để so sánh có sự

khác biệt hay không giữa các tỷ lệ và sử dụng

chỉ số PR và khoảng tin cậy 95% để đo lường độ

mạnh của sự kết hợp giữa các yếu tố liên quan

tập luyện TDTT của sinh viên

Định nghĩa biến tập luyện TDTT là biến nhị

giá với 2 giá trị: “Có” là khi thời gian tập luyện

TDTT/tuần của sinh viên từ 150 phút trở lên,

ngược lại là “Không”

KẾT QUẢ

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối tượng

tham gia nghiên cứu là nữ sinh viên chiếm tỷ lệ

61,5% cao hơn nam sinh viên (240 so với 150),

chủ yếu là dân tộc Kinh 82,8% (323/390), dân tộc

Khmer 15,9% (62/390), còn lại là dân tộc khác

1,2% (5/390), không thuộc diện hộ nghèo hoặc

cận nghèo chiếm 87,4% (341/390) Khoa Y–Dược

có số lượng sinh viên tham gia nghiên cứu nhiều

nhất chiếm 27,4% (107/390), 66,2% sinh viên ở

nông thôn trước khi học tại trường (258/390) Đa

số các đối tượng tham gia nghiên cứu ở nhà trọ

46,9% (183/390), sinh viên làm thêm là 67,2%

(262/390)

Tỷ lệ sinh viên có tập luyện thể dục thể thao

Bảng 1: Tỷ lệ sinh viên có luyện tập thể dục thể thao

Tỷ lệ sinh viên không tham gia tập luyện tập thể dục thể thao chiếm gần 2/3 số sinh viên tham gia nghiên cứu (66,7%), sinh viên có tập luyện tập thể dục thể thao chiếm tỷ lệ khá thấp chỉ có

33,3% (Bảng 1)

Bảng 2: Nhu cầu tập luyện thể dục thể thao của sinh

viên

Nhu cầu tập luyện

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ sinh viên có nhu cầu tập luyện TDTT chiếm đa số (54,6%), còn lại

là các sinh viên không có nhu cầu tập luyện

TDTT chiếm 45,4% (Bảng 2)

Bảng 3: Thái độ đối với việc luyện tập thể dục thể

thao của sinh viên

Thái độ đối với việc luyện tập TDTT Tần số Tỷ lệ %

Không thích 203 52,1

Có sự chênh lệch không có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ số sinh viên thích 52,1% và không

thích tập luyện thể thao 47,9% (Bảng 3)

Bảng 4: Động cơ tập luyện thể dục thể thao của sinh

viên (n= 390)

Yêu thích TDTT 122 31,3 Tập TDTT để thi kết thúc học phần bắt buộc 145 37,2

Nâng cao thể lực 207 53,1 Được giao lưu mở rộng mối quan hệ 136 34,9 Tập TDTT để có thân hình đẹp 110 28,2

Đa số các đối tượng tham gia nghiên cứu trả lời tập luyện TDTT là để nâng cao thể lực, chiếm 53,1% Thấp hơn là tập luyện TDTT để thi kết thúc các học phần giáo dục thể chất bắt buộc trong chương trình học, chiếm 37,2% Tập TDTT

để có thân hình đẹp là động cơ tập luyện TDTT

ít được các đối tượng tham gia nghiên cứu chọn

nhất, chỉ chiếm 28,2% (Bảng 4)

Tỷ lệ các đối tượng tham gia nghiên cứu tập TDTT vào buổi tối chiếm tỷ lệ cao nhất đến 41,8%; thấp hơn là buổi chiều chiếm 34,1% và

thấp nhất là buổi trưa chỉ chiếm 2,1% (Bảng 5)

Trang 4

Bảng 5: Thời điểm tập luyện thể dục thể thao của

sinh viên (n = 390)

Bảng 6: Những yếu tố ảnh hưởng đến việc luyện tập

thể dục thể thao của sinh viên (n = 390)

Ngại vận động 99 25,4

Địa điểm luyện tập xa 70 18,0

Không có bạn bè hoặc người quen cùng

luyện tập TDTT 208 53,3

Tốn nhiều chi phí 50 12,8

Lịch học dày đặc 239 61,3

Lịch học dày đặc là yếu tố ảnh hưởng đến

việc luyện tập TDTT, chiếm đến 61,3% Thấp

hơn là do không có bạn bè hoặc người quen

cùng luyện tập TDTT, chiếm 53,3% Thấp nhất là

do tốn nhiều chi phí, chiếm 12,8% (Bảng 6)

Một số yếu tố liên quan đến việc luyện tập thể

dục thể thao của sinh viên

Bảng 7: Liên quan giữa việc tập luyện thể dục thể

thao với giới tính của sinh viên

Giới

tính

Tập luyện TDTT

Giá trị

p

PR KTC 95%

Tần số Tỷ lệ

% Tần số

Tỷ lệ

%

Nam 72 48,0 78 52,0

0,000 2,00 (1,50–2,63)

Nữ 58 24,2 182 75,8

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đối tượng

nam sinh viên có tập luyện TDTT cao gấp 2 lần

so với đối tượng nữ sinh viên với KTC 95%

(1,50–2,63) với p <0,05 (Bảng 7)

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa nơi ở trước khi vào học với việc luyện tập TDTT của sinh viên có ý nghĩa thống kê với

p = 0,041 <0,05 Sinh viên có nơi ở trước khi vào học ở thành thị có tập luyện TDTT gấp 1,35 lần

so với sinh viên ở nông thôn (Bảng 8)

Chưa tìm ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nơi ở trong khi học tại trường với việc luyện tập TDTT của sinh viên với

p>0,05 (Bảng 9)

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa các sinh viên có và không có luyện tập TDTT về tỷ lệ thừa cân/béo phì với p <0,05 Các sinh viên không tập luyện TDTT có nguy cơ bị thừa cân/béo phì cao gấp 1,122 lần (PR = 1,122) so với sinh viên có tập

luyện TDTT (Bảng 10)

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối liên quan giữa khoa mà sinh viên đang theo học

và việc tập luyện TDTT của sinh viên với giá trị

p >0,05 (Bảng 11)

Chưa tìm ra mối liên quan có ý nghĩa thống

kê giữa tình trạng kinh tế gia đình với việc luyện

tập TDTT của sinh viên với p >0,05 (Bảng 12)

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối liên quan giữa việc tham gia làm thêm và việc tập luyện TDTT của sinh viên với giá trị p >0,05

(Bảng 13)

Bảng 8: Liên quan giữa nơi ở trước khi vào học với việc luyện tập thể dục thể thao của sinh viên

Nơi ở trước khi vào học

Luyện tập TDTT

KTC 95%

(1,08 – 1,78)

Bảng 9: Liên quan giữa nơi ở trong khi học với luyện tập thể dục thể thao của sinh viên

Nơi ở trong khi học

Tập luyện TDTT

KTC 95%

Nhà trọ 56 30,6 127 69,4 0,097 0,76 (0,55 – 1,05)

Ký túc xá 36 31,9 77 68,1 0,201 0,79 (0,55 – 1,14)

Trang 5

Bảng 10: Liên quan giữa việc tập luyện TDTT với tình trạng thừa cân/béo phì của sinh viên

Tập luyện TDTT

Thừa cân/béo phì

KTC 95%

Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %

0,000 (1,07 – 1,18) 1,12

Bảng 11: Liên quan giữa khoa ngành học và tập luyện thể dục thể thao

Khoa

Tập luyện TDTT

KTC 95%

Nông nghiệp -Thủy sản 19 36,54 33 63,46 0,275 0,77 (0,49 – 1,22) Kinh tế – Luật 24 36,36 42 63,64 0,77 0,234 (0,5 – 1,18) Ngoại ngữ 11 28,21 28 71,79 0,08 0,6 (0,34 – 1,06)

NN – VH – NT Khmer Nam Bộ 7 33,33 14 66,67 0,309 0,71 (0,36 – 1,38) Răng – Hàm – Mặt 7 26,92 19 73,08 0,114 0,57 (0,28 – 1,14)

Sư phạm 9 34,62 17 65,38 0,313 0,73 (0,4 – 1,34)

Y – Dược 28 26,17 79 73,83 0,07 0,55 (0,36 – 0,85)

Bảng 12: Liên quan giữa tình trạng kinh tế gia đình với luyện tập thể dục thể thao của sinh viên

Tình trạng kinh tế

Tập luyện TDTT

KTC 95%

0,829 1,07

(0,53 – 2,09) Không nghèo/cận nghèo 113 33,1 228 66,9

Bảng 13: Liên quan giữa việc tập luyện thể dục thể thao với việc tham gia làm thêm

Tập luyện TDTT

Tham gia làm thêm

KTC 95%

0,542 0,91

(0,13 – 0,07)

BÀN LUẬN

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Kết quả cho thấy, đối tượng tham gia nghiên

cứu là nữ sinh viên chiếm tỷ lệ cao hơn nam

Điều này có thể do sinh viên của những khoa

được chọn có số nữ cao hơn; chủ yếu là dân tộc

Kinh phù hợp với cơ cấu sinh viên của Trường

Không thuộc diện hộ nghèo hoặc cận nghèo cao

cũng phù hợp với hoàn cảnh kinh tế gia đình

của sinh viên Sinh viên khoa Y – Dược, ở nông

thôn trước khi học tại Trường và ở nhà trọ trong

khi học, có làm thêm chiếm tỷ lệ cao cũng phù

hợp với thực trạng của sinh viên tại Trường

Tỷ lệ luyện tập thể dục thể thao của sinh viên

Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên có tập

luyện TDTT chiếm tỷ lệ 33,3% tương đương với

kết quả nghiên cứu của Hà Quang Tiến (2017)

với tỷ lệ sinh viên thường xuyên tập luyện TDTT trước thực nghiệm là 31,4%(4) Tỷ lệ có tập luyện TDTT của nghiên cứu này chiếm tỷ lệ khá thấp

có thể giải thích do sinh viên phải dành nhiều thời gian cho việc học trên lớp cũng như tự học Bên cạnh đó, sự bùng nổ về công nghệ thông tin

và mạng xã hội cũng góp phần khiến quỹ thời gian của sinh viên bị ảnh hưởng

Tỷ lệ các đối tượng có nhu cầu và cảm thấy yêu thích tập luyện TDTT hoặc không lần lượt chiếm 52,1 và 47,9% Kết quả này có sự khác biệt

so với nghiên cứu của tác giả Phạm Thế Hoàng (2015), các tỷ lệ nêu trên lần lượt là 69,2% và 13,4%(6) Sự khác biệt này có thể do đối tượng nghiên cứu khác nhau Trong nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu là sinh viên đến từ nhiều khoa, nhiều chuyên ngành khác nhau, còn ở nghiên cứu của tác giả Phạm Thế Hoàng, đối

Trang 6

tượng nghiên cứu đa phần là nữ và các đối

tượng này cho rằng các hoạt động TDTT không

phù hợp với sinh viên nữ, đặc biệt với ngành

Văn hóa

Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ sinh viên trả

lời động lực để tập luyện TDTT để nâng cao thể

lực và yêu thích tập luyện TDTT khá cao, lần

lượt là 53,1% và 31,3% Tuy nhiên, tỷ lệ các sinh

viên trả lời động lực họ tập luyện TDTT là do

muốn hoàn thành chương trình giáo dục thể

chất bắt buộc trong chương trình học chiếm

37,2% Điều này có thể giải thích do đối tượng là

sinh viên năm nhất vẫn còn đang làm quen với

lối sống tự lập, gặp nhiều áp lực về thành tích

học tập

Một số yếu tố liên quan đến việc luyện tập thể

dục thể thao của sinh viên

Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tập luyện

TDTT đều đặn của sinh viên chủ yếu đến từ

nguyên nhân chủ quan Các sinh viên tập luyện

TDTT không đều đặn là do không có bạn bè

hoặc người quen cùng tập luyện TDTT Sinh

viên tập TDTT không đều đặn do ngại vận động

chiếm 25,4%, điều này cho thấy vẫn còn một bộ

phận sinh viên của trường chưa nhận thấy rõ

tầm quan trọng của việc giữ gìn và nâng cao sức

khoẻ Bên cạnh đó, lịch học dày đặc là lý do

được nhiều sinh viên lựa chọn nhất Điều này có

thể được giải thích do đối tượng là sinh viên

năm nhất nên vẫn còn thiếu kỹ năng về quản lý

thời gian và tổ chức công việc Ngoài một số yếu

tố chủ quan vừa nêu trên yếu tố khách quan

khác như địa điểm tập luyện xa và tốn nhiều chi

phí làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc luyện

tập TDTT đều đặn

Nghiên cứu cho thấy, có liên quan giữa giới

tính và tập luyện TDTT Tỷ lệ nam sinh viên có

tập luyện TDTT cao gấp 2 lần tỷ lệ nữ sinh viên

cũng tương đồng với nghiên cứu của Hà Quang

Tiến (2015), tỷ lệ nam và nữ thường xuyên tập

luyện TDTT lần lượt là 7,3% và 3,3%(4) có thể do

nam sinh viên thường sẽ năng động hơn so với

nữ sinh viên và phù hợp với kết quả tỷ lệ nam

sinh viên thích tập luyện TDTT cao hơn so với

nữ sinh viên

Có liên quan giữa nơi ở trước khi học tại trường với việc luyện tập TDTT Yếu tố này có thể ảnh hưởng bởi điều kiện sống, các đối tượng sống ở nông thôn thường phải phụ giúp gia đình kiếm thêm thu nhập nên không có quá nhiều thời gian cho việc tập luyện TDTT, vấn đề

về sân bãi ở thành thị điều kiện sẽ tốt hơn ở nông thôn

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ không tập luyện TDTT rất cao ở khoa Y – Dược (73,8%) Điều này

có thể do lịch học, thực tập và thi dày đặc làm ảnh hưởng thời gian cho việc tập luyện TDTT

Tỷ lệ không tập luyện TDTT cao ở khoa Kỹ thuật

và Công nghệ (52,8%), có thể do sinh viên của khoa này đa số là nam

Nghiên cứu cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê tình trạng thừa cân/béo phì và tập luyện TDTT của sinh viên chưa thật sự rõ rệt (PR = 1,122) Điều này có thể do: Các sinh viên tuy không tập luyện TDTT nhưng có thể có khẩu phần ăn hợp lý cho việc giữ cân hoặc giảm cân nên không dẫn đến tình trạng thừa cân/béo phì Ngược lại, các đối tượng có tập luyện TDTT song lại ăn uống không hợp lý Vì vậy để có thể tìm hiểu rõ hơn cần làm thêm các nghiên cứu điều tra về chế độ dinh dưỡng Trong khi đó, nghiên cứu này là nghiên cứu cắt ngang nên chỉ thấy được kết quả tại thời điểm nghiên cứu Qua kết quả nghiên cứu, không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng kinh tế, nơi ở khi tham gia học tập tại trường, khoa đang theo học, việc tham gia làm thêm của các đối tượng nghiên cứu với việc luyện tập TDTT

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên mẫu ngẫu

nhiên 390 sinh viên cho một số kết luận sau:

Tỷ lệ sinh viên có tập luyện thể dục thể thao

là 33,33%

Một số yếu tố liên quan đến việc tập luyện thể dục thể thao ở sinh viên: Có mối liên quan giữa giới tính, và nơi ở trước khi vào học và

Trang 7

luyện tập thể dục thể thao, nam sinh viên có tập

luyện thể dục thể thao cao gấp 2 lần so với nữ

sinh viên với KTC 95% (1,502 – 2,626) Sinh viên

có nơi ở trước khi vào học ở thành thị có tập

luyện thể dục thể thao cao gấp 1,345 lần so với

sinh viên ở nông thôn với KTC 95% (1,017–1,78)

Có liên quan giữa tập luyện TDTT và tình trạng

thừa cân/béo phì, các sinh viên không tập luyện

TDTT có nguy cơ bị thừa cân/béo phì cao gấp

1,122 lần so với sinh viên có tập luyện TDTT

Không có mối liên quan giữa tình trạng kinh tế

gia đình, nơi ở khi học tập tại Trường, Khoa

ngành đang theo học cũng như việc tham gia

làm thêm với việc luyện tập thể dục thể thao của

sinh viên

KIẾN NGHỊ

Nhà trường cần tăng cường công tác truyền

thông về lợi ích của việc tập luyện thể dục thể

thao, tổ chức các câu lạc bộ thể dục thể thao, nơi

tập luyện sau giờ học tập nhằm tăng cường sức

khoẻ cho sinh viên

Kiến nghị các Trường Trung học phổ thông

ở nông thôn quan tâm hơn đến việc khuyến

khích học sinh tham gia các hoạt động thể dục

thể thao, trang bị, nâng cấp cơ sở, sân bãi, trang thiết bị cho việc luyện tập thể dục thể thao của học sinh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế (2015) Báo cáo tổng quan chung ngành y tế 2015 Nhà

xuất bản y học Hà Nội, http://jahr.org.vn/downloads/JAHR2015/

2 Bộ Y tế (2017) Hướng dẫn chuẩn đoán và điều trị đái tháo đường týp 2 Quyết định số 3319/QĐ-BYT ngày 19/7/2017

3 Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế (2015) Giải pháp phòng chống thừa cân béo phì cho trẻ em giai đoạn 2016 – 2020 URL:

http://vncdc.gov.vn/vi/phong-chong-benh-khong-lay- nhiem/744/giai-phap-phong-chong-thua-can-beo-phi-tre-em-giai-doan-2016-2020

4 Hà Quang Tiến (2017) Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa cho sinh viên không chuyên thể dục thể thao Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên

Tạp chí Khoa học, pp.14

5 Müller A (2013) Review of Physical Activity Prevalence of

Asian School-Age Children and Adolescents Asian-Pacific

Journal of Public Health, 26:227

6 Phạm Thế Hoàng (2015) Thực trạng và những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thể thao ngoại khóa của sinh viên Đại học Văn hoá Hà Nội URL: http://portal.huc.edu.vn/thuc-trang-va- nhung-nhan-to-anh-huong-den-hoat-dong-the-thao-ngoai-khoa-cua-sv-dhvhhn-1542-vi.htm

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 31/08/2019

Ngày đăng: 24/10/2020, 11:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w