Bài viết đánh giá hiệu quả chương trình hướng dẫn kỹ thuật hít và sử dụng bình xịt định liều thông qua kỹ thuật hít và mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh HPQ trước và sau can thiệp.
Trang 1HIỆU QUẢ CHƯƠNG TRÌNH HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT HÍT
VÀ SỬ DỤNG BÌNH XỊT ĐỊNH LIỀU CHO NGƯỜI BỆNH HEN PHẾ QUẢN
Nguyễn Văn Chường * , Trần Thiện Trung ** , Ann Henderson ***
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Hen phế quản (HPQ) là một bệnh hô hấp mạn tính thường gặp và nghiêm trọng, phổ biến trên
toàn thế giới, ảnh hưởng đến 1-18% dân số ở các quốc gia khác nhau Thuốc dạng hít là phương pháp điều trị hiệu quả nhất để giúp kiểm soát triệu chứng của bệnh HPQ, tránh các cơn hen nặng kịch phát và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh Trong các loại thuốc dạng hít, bình xịt định liều (BXĐL) là thiết bị được sử dụng phổ biến nhất Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy nhiều người bệnh HPQ sử dụng thuốc hít không đúng
và sau các chương trình can thiệp, giáo dục thì tăng đáng kể tỉ lệ người bệnh sử dụng thuốc hít đúng kĩ thuật, tuân thủ sử dụng thuốc hít trong điều trị và kiểm soát cơn hen
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả chương trình hướng dẫn kỹ thuật hít và sử dụng BXĐL thông qua kỹ thuật
hít và mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh HPQ trước và sau can thiệp
Đối tượng và phương pháp: Thiết kế nghiên cứu bán thực nghiệm đánh giá trước sau can thiệp, 64 người
bệnh HPQ đủ 18 tuổi trở lên đến khám và điều trị tại khoa Khám bệnh và khoa Nội tổng quát thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa từ tháng 02/2019 đến tháng 06/2019 Tất cả người bệnh được đánh giá kỹ thuật
sử dụng bình xịt định liều và mức độ kiểm soát cơn hen bằng test kiểm soát hen ACT (Asthma Control Test) trước chương trình can thiệp và sau 1 tháng
Kết quả: Tỷ lệ người bệnh thực hiện đúng kỹ thuật BXĐL trước khi được can thiệp chiếm 32,4% thấp hơn
so với 78,1% người bệnh sau khi can thiệp, sự cải thiện có ý nghĩa thống kê với p <0,001 Điểm trung bình kiểm soát cơn hen trước can thiệp là 17,4 ± 4,6 thấp hơn so với điểm trung bình kiểm soát cơn hen sau can thiệp là 20,6±3,1, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,001
Kết luận: Chương trình hướng dẫn kỹ thuật hít và sử dụng BXĐL của điều dưỡng đã cải thiện đáng kể kỹ
thuật sử dụng BXĐL đúng cho người bệnh HPQ, góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát hen của người bệnh
Từ khóa: hen phế quản, bình xịt định liều, kỹ thuật hít, kiểm soát cơn hen
ABSTRACT
EFFECTIVENESS OF THE GUIDING PROGRAM OF INHALER TECHNIQUE
AND USING METERED DOSE INHALER FOR ASTHMA PATIENTS
Nguyen Van Chuong, Tran Thien Trung, Ann Henderson
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 5 - 2019: 201 – 206
Background: Asthma is a chronic and severe respiratory illness, common throughout the world, affecting
around 1-18% of the population in different countries Inhalation therapy is the most effective treatment to help control the symptoms of asthma, to prevent severe asthma attacks and to improve the quality of life for patients In these types of inhalers, metered dose inhaler (MDI) is the device most commonly used However, studies in the world and in Vietnam showed that many asthma patients use inhalers incorrectly and after the intervention and education programs significant increase in the rate of patients use inhalers properly techniques, compliance with inhalant use in the treatment and control of asthma
*Trường Cao đẳng Sư phạm Trung Ương Nha Trang
**Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh ***University of Northern Colorado – School of Nursing
Tác giả liên lạc: CN Nguyễn Văn Chường ĐT: 0777777359 Email: nvchuong432@gmail.com
Trang 2Objective: Evaluate the effectiveness of the guiding program of inhaler technique and use metered dose
inhaler through the inhalation technique and the levels of asthma control before and after intervention
Subjects and Methods: Quasi-experimental study, sixty-four patients asthma are 18 years or older to be
examined and treated at the Outpatient Department and General Medicine Department at Khanh Hoa General Hospital from February to June 2019 All patients were evaluated technical use of the MDI and the level of asthma control with asthma control test (ACT) before intervention and after 1 month
Results: The proportion of patients practice correctly MDI techniques before intervention accounted for
32.4% lower than 78.1% of patients after intervention, the improvement was statistically significant with p<0.001 (χ 2 ) The mean score level of asthma control before intervention was 17.4 ± 4.6 lower than the mean score level of asthma control after intervention was 20.6 ± 3.1, the difference was statistically significant with p <0.001 (χ 2 )
Conclusions: The guiding program of inhaler technique and use MDI of nurse has significantly improved
the technique of using the correct MDI for asthma patients, contributing to improving the effectiveness of asthma control of patients
Key word: asthma, MDI, inhaler technique, asthma control
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hen phế quản (HPQ) là một bệnh hô hấp
mạn tính thường gặp và nghiêm trọng, phổ biến
trên toàn thế giới, ảnh hưởng đến 1-18% dân số
ở các quốc gia khác nhau(12) Tại Việt Nam, tỷ lệ
mắc HPQ là 4,1%, trong đó ở trẻ em là 3,2% và
người lớn là 4,3%(13) Bệnh HPQ gây nên một
gánh nặng lớn cho người bệnh, gia đình và cộng
đồng, vì gây ra các triệu chứng hô hấp, ảnh
hưởng đến hoạt động, đôi khi xuất hiện các cơn
hen kịch phát cần phải chăm sóc y tế khẩn cấp
và có thể gây tử vong(12)
Thuốc dạng hít là phương pháp điều trị hiệu
quả nhất để giúp kiểm soát triệu chứng của bệnh
HPQ, tránh các cơn hen nặng kịch phát và cải
thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh Ưu
điểm của việc sử dụng thuốc đường hít là thuốc
được phân bố trực tiếp đến đường hô hấp, có tác
dụng nhanh, liều lượng thấp, hạn chế tác dụng
phụ toàn thân và có thể mang theo bên người(6)
Trong các loại thuốc dạng hít, bình xịt định liều
(BXĐL) là thiết bị được sử dụng phổ biến nhất
Theo sáng kiến toàn cầu về hen phế quản
(GINA) năm 2017, 80% người bệnh hen không
sử dụng thuốc hít đúng cách, khoảng 50% người
bệnh kể cả người lớn và trẻ em không tuân thủ
việc dùng thuốc được kê toa để kiểm soát cơn
hen, chính điều này đã làm cho việc kiểm soát
triệu chứng kém và tăng số cơn hen kịch phát(12) Mặc dù hiện nay tại Việt Nam có nhiều bệnh viện đã triển khai các mô hình tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho người bệnh hen như: Câu lạc
bộ bệnh nhân hen phế quản, phòng khám và tư vấn bệnh hen để nâng cao nhận thức, kỹ năng thực hành sử dụng thực hành thuốc đúng và hỗ trợ kiểm soát cơn hen cho người bệnh HPQ(3) Tuy nhiên, với mục đích đánh giá hiệu quả công tác hướng dẫn kỹ thuật hít và sử dụng bình xịt định liều của điều dưỡng nhằm nâng cao hơn nữa kỹ thuật hít và sử dụng BXĐL trong điều trị
và kiểm soát cơn hen của người bệnh HPQ Chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu hiệu quả chương trình hướng dẫn kỹ thuật hít và sử dụng bình xịt định liều cho người bệnh hen phế quản” với các mục tiêu:
Xác định tỷ lệ người bệnh HPQ sử dụng đúng kỹ thuật BXĐL trước và sau can thiệp Xác định mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh HPQ trước và sau can thiệp bằng test kiểm soát hen ACT (Asthma Control Test)
ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh đủ 18 tuổi trở lên đến khám và điều trị HPQ tại khoa Khám bệnh, khoa Nội tổng quát thần kinh Bệnh viện Đa khoa tỉnh
Trang 3Khánh Hòa, thời gian từ tháng 02/2019 - 6/2019
Tiêu chí chọn vào
Người bệnh đủ 18 tuổi trở lên
Chẩn đoán hen phế quản
Đang sử dụng BXĐL
Không có hoặc đã qua cơn hen nặng
Tiêu chí loại ra
Chưa từng sử dụng BXĐL
Người bệnh không thể thực hiện động tác ấn
xịt thuốc
Người bệnh bị mù hoặc điếc
Đang trong cơn hen nặng
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu bán thực nghiệm đánh giá trước
sau can thiệp với 64 người bệnh HPQ
Phương pháp thu thập số liệu
Chọn mẫu theo tiêu chí chọn vào
Thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng
vấn thông tin cá nhân, quan sát trực tiếp người
bệnh thực hiện kỹ thuật sử dụng BXĐL và người
bệnh tự đánh giá mức độ kiểm soát cơn hen
bằng test kiểm soát hen ACT theo bộ câu hỏi
được thiết kế sẵn
Nghiên cứu viên hướng dẫn kỹ thuật sử
dụng BXĐL đúng cho người bệnh Phương pháp
hướng dẫn gồm:
+ Hướng dẫn từng kỹ thuật bằng lời nói
+ Minh họa kỹ thuật bằng tờ thông tin về
cách sử dụng BXĐL
+ Thực hiện minh họa kỹ thuật động tác cho
người bệnh xem
Sau 1 tháng, đánh giá lại kỹ thuật sử dụng
BXĐL theo bảng kiểm và mức độ kiểm soát cơn
hen bằng test kiểm soát hen ACT
Cách đánh giá:
+ Đánh giá kỹ thuật sử dụng BXĐL (6 bước):
Mỗi bước thực hành kỹ thuật BXĐL của người
bệnh sẽ được đánh giá đúng và sai Đánh giá
thực hiện đúng kỹ thuật khi người bệnh thực
hiện đúng từ 5 bước trở lên
+ Đánh giá mức độ kiểm soát cơn hen dựa
vào test ACT:
25 điểm: Hen được kiểm soát hoàn toàn 20-24 điểm: Hen được kiểm soát tốt
<20 điểm: Hen chưa được kiểm soát
Phân tích dữ liệu
Quản lý số liệu và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 22.0
Y đức
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng Y đức Trường Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh số 37/ĐHYD-HĐĐĐ
KẾT QUẢ
Qua nghiên cứu trên 64 người bệnh HPQ tại khoa Khám bệnh, khoa Nội tổng quát thần kinh bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa trong thời gian từ tháng 02/2019 đến tháng 06/2019 Kết quả nghiên cứu được trình bày như sau:
Đặc điểm người bệnh hen phế quản
Bảng 1 Đặc điểm người bệnh HPQ (n=64)
Đặc điểm người bệnh HPQ Số người
bệnh Tỷ lệ (%)
Tuổi TB ± ĐLC (53,7 ± 13,7)
Giới
Nơi cư trú
Trình độ học vấn
Nghề nghiệp
Số năm mắc bệnh HPQ
Trang 4Đặc điểm người bệnh HPQ Số người
bệnh Tỷ lệ (%)
Thời gian sử dụng BXĐL
Người hướng dẫn kỹ thuật sử dụng BXĐL
Tuổi trung bình của người bệnh trong
nghiên cứu là 53,7 tuổi, nhóm tuổi từ 41-60
chiếm tỷ lệ cao nhất 43,7% Tỷ lệ nữ chiếm 54,7%
cao hơn so với nam chiếm tỷ lệ 45,3% Số người
bệnh có thời gian sử dụng BXĐL trên 5 năm
chiếm tỷ lệ cao nhất 59,4% và phần lớn người bệnh được bác sĩ hướng dẫn sử dụng BXĐL
chiếm 64,1% (Bảng 1)
Tỷ lệ người bệnh hen phế quản thực hiện đúng
kỹ thuật sử dụng BXĐL trước và sau can thiệp
Trước can thiệp, người bệnh thực hiện đúng
bước 5 (Hít vào chậm và sâu qua miệng đồng thời ấn bình xịt) chiếm tỷ lệ thấp nhất là 39,1% Sau can thiệp, tỷ lệ người bệnh thực hiện đúng bước 5 tăng lên 76,7%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p <0,001 (χ2) (Bảng 2)
Tỷ lệ người bệnh thực hiện đúng kỹ thuật BXĐL trước khi được can thiệp chiếm 32,4% thấp hơn so với 78,1% người bệnh sau khi can thiệp, sự cải thiện có ý nghĩa thống kê với p<0,001 (χ2) (Bảng 3)
Bảng 2 Tỷ lệ người bệnh hen phế quản thực hiện đúng từng bước kỹ thuật sử dụng BXĐL
Số NB (n=64) Tỷ lệ (%) Số NB (n=64) Tỷ lệ (%)
Bảng 3 Tỷ lệ người bệnh hen phế quản sử dụng
đúng kỹ thuật BXĐL
Stt Sử dụng kỹ
thuật BXĐL
Trước can thiệp Sau can thiệp
P
Số NB (n=64)
Tỷ lệ (%)
Số NB (n=64)
Tỷ lệ (%)
Mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh hen
phế quản theo ACT
Điểm trung bình kiểm soát cơn hen trước can
thiệp là 17,4±4,6 thấp hơn so với điểm trung bình
kiểm soát cơn hen sau can thiệp là 20,6±3,1, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,001 (Bảng 4)
Bảng 4 Điểm trung bình giữa điểm kiểm soát cơn
hen trước can thiệp và sau can thiệp (n=64)
Điểm kiểm soát cơn hen
p Trước can thiệp
(TB ± ĐLC)
Sau can thiệp (TB ± ĐLC)
Tỷ lệ người bệnh kiểm soát hen hoàn toàn trước can thiệp là 7,8% thấp hơn so với 17,2% sau can thiệp, tỷ lệ người bệnh không kiểm soát cơn hen giảm từ 67,2% trước can thiệp xuống 35,9% sau can thiệp Sự cải thiện về mức độ kiểm soát hen hoàn toàn và không kiểm soát có ý
nghĩa thống kê với p <0,001 (Bảng 5)
Bảng 5 Mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh hen phế quản theo ACT
Số NB(n=64) Tỷ lệ(%) TB±ĐLC Số NB(n=64) Tỷ lệ(%) TB±ĐLC
Trang 5BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, người bệnh
HPQ có tuổi trung bình là 53,7 ± 13,7, tuổi thấp
nhất là 22 tuổi và cao nhất là 82 tuổi Tỷ lệ nữ
chiếm 54,7% cao hơn so với nam chiếm tỷ lệ
45,3% và đa số người bệnh cư trú ở Thành phố
Nha Trang với tỷ lệ 82,8% Người bệnh có trình
độ THPT trở lên chiếm đa số 65,6%, đây là một
điểm thuận lợi cho việc hướng dẫn kỹ thuật hít
và sử dụng BXĐL cho người bệnh
Số người bệnh có thời gian sử dụng BXĐL
trên 5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất 59,4% và phần
lớn người bệnh được bác sĩ hướng dẫn sử dụng
BXĐL chiếm 64,1%, chỉ có 10,9% người bệnh
được điều dưỡng hướng dẫn sử dụng BXĐL
Điều này cho thấy, việc hướng dẫn kỹ thuật sử
dụng thuốc hít cho người bệnh chủ yếu đến từ
bác sĩ, điều dưỡng có hướng dẫn cho người bệnh
nhưng còn thấp, trong khi đó điều dưỡng có
nhiều thời gian tiếp xúc với người bệnh trong
quá trình tiếp nhận bệnh và theo dõi chăm sóc
Tỷ lệ người bệnh hen phế quản thực hiện đúng
kỹ thuật sử dụng BXĐL trước và sau can thiệp
Trước can thiệp
Trên 64 người bệnh tham gia nghiên cứu
không có người bệnh nào thực hiện đúng hoàn
toàn các bước kỹ thuật sử dụng BXĐL theo
bảng kiểm nghiên của chúng tôi Trong các
bước kỹ thuật sử dụng BXĐL, tỷ lệ người bệnh
thực hiện đúng kỹ thuật bước 5 (hít vào chậm
và sâu qua miệng đồng thời ấn bình xịt) là
thấp nhất chiếm 39,1%, lỗi người bệnh hay
mắc phải là hít vào nhanh và nông, ấn và hít
không đồng bộ Chỉ có 56,3% người bệnh thực
hiện đúng kỹ thuật bước 6, do người bệnh
không nín thở lại hoặc nín thở ít hơn Tỷ lệ
thực hiện đúng ở bước 3 là 59,4%, lỗi gặp phải
do người bệnh không thở ra trước khi hít
Tỷ lệ người bệnh hen phế quản thực hiện
đúng từng bước kỹ thuật sử dụng BXĐL trước
can thiệp trong nghiên cứu của chúng tôi
tương đồng với tác giả Phạm Thị Thanh
Thúy(7), tuy nhiên có sự khác biệt với các tác
giả Jolly(5), Sanchis(10), Sodhi(11) Sự khác biệt này có thể lý giải do sự khác nhau về địa điểm nơi nghiên cứu, độ tuổi và trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu Do đó khi hướng dẫn kỹ thuật sử dụng BXĐL nhân viên y tế cần chú ý nhấn mạnh các bước hay sai và lỗi người bệnh hay gặp để họ có thể thực hành chính xác
và đạt hiệu quả cao
Sau can thiệp
Kỹ thuật sử dụng BXĐL của 64 người bệnh trong nghiên cứu của chúng tôi đã cải thiện rõ ở từng bước kỹ thuật Cụ thể: tỷ lệ người bệnh thực hiện đúng bước 2 tăng từ 64,1% lên 89,1%,
tỷ lệ người bệnh thực hiện đúng bước 3 tăng từ 59,4% lên 82,8%, tỷ lệ thực hiện đúng bước 4 tăng từ 65,6% lên 87,5%, tỷ lệ người bệnh thực hiện đúng kỹ thuật BXĐL ở bước 5 tăng từ 39,1% lên 76,6%, người bệnh thực hiện đúng kỹ thuật bước 6 sau khi được hướng dẫn tăng lên 78,1%
và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Phạm Thị Thanh Thúy(7) và Al-Kalalde(1) cho thấy các lỗi sai thường gặp của người bệnh khi sử dụng BXĐL
có sự cải thiện đáng kể sau khi nhận được chương trình giáo dục sức khỏe
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy tỷ lệ người bệnh thực hiện đúng kỹ thuật BXĐL sau khi được can thiệp chiếm 78,1% cao hơn so với 32,4% người bệnh trước khi can thiệp,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,001 Kết quả này tương đồng với tác giả Phạm Thị Thanh Thúy(7), Harnett(4) tuy nhiên cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Rodrigue(9)
Như vậy, qua các nghiên cứu đã khẳng định rằng tỷ lệ người bệnh sử dụng thuốc hít đúng kỹ thuật sẽ giảm dần theo thời gian nếu người bệnh không được thường xuyên kiểm tra, đánh giá lại, ngay cả ở những người bệnh đã có kinh nghiệm lâu năm sử dụng thuốc hít(4,5) Vì vậy cần thiết phải giáo dục thường xuyên, giáo dục lại kỹ thuật sử dụng thuốc hít trong suốt cuộc đời của người bệnh
Trang 6Mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh hen
phế quản theo ACT
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
mức độ kiểm soát hen hoàn toàn của người bệnh
trước can thiệp là 7,8% thấp hơn so với 17,2%
sau can thiệp Tương tự, mức độ kiểm soát hen
tốt của người bệnh trước can thiệp là 25% tăng
lên 46,9% sau khi can thiệp Tỷ lệ người bệnh
không kiểm soát cơn hen giảm từ 67,2% trước
can thiệp xuống 35,9% sau can thiệp Sự cải thiện
về mức độ kiểm soát hen hoàn toàn và không
kiểm soát có ý nghĩa thống kê với p <0,001
Điểm trung bình kiểm soát cơn hen trước
can thiệp là 17,4 ± 4,6 thấp hơn so với điểm trung
bình kiểm soát cơn hen sau can thiệp là 20,6 ±
3,1, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001
Mức độ kiểm soát cơn hen của người bệnh theo
ACT trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so
với tác giả Yildiz(14) nhưng cao hơn so với nghiên
cứu của Rodrigues(9), tuy nhiên đều cho thấy
người bệnh HPQ có sự cải thiện mức độ kiểm
soát cơn hen sau các chương trình giáo dục về kỹ
thuật hít và sử dụng BXĐL
Các nghiên cứu cũng khẳng định kỹ thuật
hít không đúng cách và không chính xác làm
phức tạp việc kiểm soát hen, giáo dục người
bệnh sử dụng đúng kỹ thuật thuốc hít không
chỉ cải thiện việc kiểm soát các triệu chứng của
bệnh HPQ mà còn cho phép giảm liều trong
thời gian dài(2,8)
KẾT LUẬN
Chương trình hướng dẫn kỹ thuật hít và sử
dụng BXĐL của điều dưỡng đã cải thiện đáng kể
kỹ thuật sử dụng BXĐL đúng cho người bệnh
HPQ, góp phần nâng cao hiệu quả mức độ kiểm
soát hen của người bệnh
Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ lớn người
bệnh sử dụng BXĐL chưa đúng kỹ thuật, đặc
biệt là các bước quan trọng quyết định đến
hiệu quả sử dụng thuốc Do đó, nhân viên y tế
đặc biệt là điều dưỡng thường xuyên kiểm tra
và hướng dẫn kỹ thuật sử dụng thuốc hít của
người bệnh mỗi lần tái khám hoặc nhập viện
để đảm bảo người bệnh có kỹ thuật sử dụng thuốc hít thuần thục
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Al-Kalaldeh M, El-Rahman M A, El-Ata A (2016) "Effectiveness
of nurse-driven inhaler education on inhaler proficiency and compliance among obstructive lung disease patients: A
quasi-experimental study" Canadian Journal of Nursing Research,
48(2):48-55
2 Arora P, Kumar L, Vohra V, et al (2014) "Evaluating the technique of using inhalation device in COPD and bronchial
asthma patients" Respiratory Medicine, 108(7):992-8
3 Bùi Thị Hương, Bùi Văn Dân, Hoàng Thị Lâm (2016) "Đánh giá mức độ kiểm soát hen bằng ACT đối với bệnh nhân câu lạc bộ
hen bệnh viện đại học Y Hà Nội" Tạp chí Nghiên cứu Y học,
99(1):131-136
4 Harnett CM, Hunt EB, Bowen BR, et al (2014) "A study to assess inhaler technique and its potential impact on asthma control in
patients attending an asthma clinic" Journal of Asthma, 51(4):440-5
5 Jolly GP, Mohan A, Guleria R, et al (2015) "Evaluation of metered dose inhaler use technique and response to educational
training" Indian Journal of Chest Diseases and Allied Sciences,
57(1):17-20
6 Neininger M P, Kaune A, Bertsche A, et al (2015) "How to improve prescription of inhaled salbutamol by providing standardised feedback on administration: a controlled
intervention pilot study with follow-up" BMC Health Services
Research, 15:40
7 Phạm Thị Thanh Thúy (2018) "Hiệu quả giáo dục sức khỏe của điều dưỡng nâng cao kiến thức về bệnh và thực hành sử dụng dụng cụ hít ở người lớn mắc bệnh hen" Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
8 Purohit AN, Patel PP, Gandhi AM, et al (2017) "An evaluation
of impact of educational interventions on the technique of use of
metered-dose inhaler by patients" Indian Journal of Pharmacology,
49(2):194-200
9 Rodrigues C D B, Pereira R P, Dalcin PTR (2013) "Effects of an outpatient education program in patients with uncontrolled
asthma" Jornal Brasileiro de Pneumologia, 39(3):272-279
10 Sanchis J, Gich I, Pedersen S (2016) "Systematic review of errors
in inhaler use: Has patient technique improved over time?"
Chest, 150(2):394-406
11 Sodhi MK (2017) "Incorrect inhaler techniques in Western India:
still a common problem" International Journal of Research in
Medical Sciences, 5(8):3461-3465
12 The Global Strategy for asthma management and prevention global innitiative for asthma (2017) Pocket guide for asthma Management and Prevention (for Adults and children older
than 5 years) GINA, pp.1-135
13 Trần Thúy Hạnh, Nguyễn Văn Đoàn (2011) "Dịch tễ học và tình
hình kiểm soát hen ở người trưởng thành Việt Nam" Tạp chí Y
tế Công cộng, 4(2):123
14 Yildiz F (2014) "Importance of inhaler device use status in the control of asthma in adults: the asthma inhaler treatment study"
Respiratory Care, 59(2):223-30
Ngày nhận bài báo: 30/07/2019 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/10/2019