1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đo lường kiến thức, thái độ và thực hành tự chăm sóc của người bệnh có hậu môn nhân tạo tại bệnh viện miền Nam Việt Nam

6 205 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 295,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đo lường kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân về chăm sóc hậu môn nhân tạo (HMNT), mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc HMNT. Cắt ngang mô tả với 118 bệnh nhân có HMNT sau phẫu thuật. Tần suất, tỷ lệ phần trăm, phép kiểm chi bình phương, T-test được sử dụng với phần mềm SPSS16.0 được sử dụng nhằm mô tả, đánh giá mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành tự chăm sóc HMNT của người bệnh.

Trang 1

ĐO LƯỜNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH TỰ CHĂM SÓC

CỦA NGƯỜI BỆNH CÓ HẬU MÔN NHÂN TẠO TẠI BỆNH VIỆN MIỀN NAM VIỆT NAM

Võ Thị Thanh Tuyền *

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Hậu môn nhân tạo (HMNT) thường gặp sau mổ ung thư đại - trực tràng giai đoạn muộn

Việc chăm sóc HMNT đòi hỏi phải có kiến thức, thái độ và thực hành đúng để phòng tránh những biến chứng khi chăm sóc HMNT

Mục tiêu: Đo lường kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân về chăm sóc HMNT, mối liên quan giữa

kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc HMNT

Phương pháp: Cắt ngang mô tả với 118 bệnh nhân có HMNT sau phẫu thuật Tần suất, tỷ lệ phần trăm,

phép kiểm chi bình phương, T-test được sử dụng với phần mềm SPSS16.0 được sử dụng nhằm mô tả, đánh giá mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành tự chăm sóc HMNT của người bệnh

Kết quả: Kiến thức đúng về tự chăm sóc HMNT là 26,3% (31/118), thái độ đúng là 28,8% (34/118) và

thực hành đúng là 16,1% Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc HMNT của người bệnh (p>0.05)

Kết luận: Kiến thức, thái độ và thực hành đúng về chăm sóc HMNT của NB còn thấp Chưa tìm thấy sự

liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành tự chăm sóc HMNT Cần thiết phải có một chương trình giáo dục sức khỏe về chăm sóc HMNT phù hợp cho người bệnh và cộng đồng

Từ khóa: người bệnh, hậu môn nhân tạo

ABSTRACT

ASSESSMENT THE KNOWLEDGE, ATTITUDE AND PRACTICE OF PATIENT SELF-CARE ON

STOMA AT HOSPITALS IN SOUTHERN VIETNAM

Vo Thi Thanh Tuyen

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 5 - 2019: 218 – 223

Background: Stoma usually occur after late step colorectal cancer surgery Patient stomal self-management

requires the approriate knowledge, attitudes and practices to prevent peristomal skin complications

Objective: Assess and find out the relationship between the knowledge, attitudes and practices of stoma patients Methods: This is a cross-sectional study with 118 patients who have the stoma Frequency, percentage, Chi

squared, T-test with SPSS16.0 software were used to describe and evaluate the relationship between knowledge, attitude and practice self-care of stoma

Results: The correct knowledge, attitudes and practices of stoma patients who could take care themself were

26.3% (31/118 cases), 28.8% (34/118 cases) and 16.1% (respectively) No significant difference between the knowledge, attitudes and practices was found (p >0.05) Evaluate the influence of the demographic features, the research’s result points out that the influence of these features on the knowledge, attitudes and practices of the artificial anuses self-care doesn’t have any statistical meaning (p >0.05)

Conclusion: Knowledge, attitudes and proper practice of patient about stoma seft care was still low

*Khoa Ngoại Tiêu hóa, Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: CN Võ Thị Thanh Tuyền ĐT: 0989776274 Email: tuyen.vtt@umc.edu.vn

Trang 2

The relationship between knowledge, attitude and self-care practice of stoma has not been found It is necessary to have an appropriate stoma care education program for patients and the community

Keywords: patient, stoma

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hậu môn nhân tạo (HMNT) tạo thành nhằm

để bảo vệ thương tổn đoạn đại- trực tràng phía

dưới hoặc bảo vệ đường khâu sau phẫu thuật

Người bệnh thường lo lắng và có nhiều câu hỏi

cần được nhân viên y tế tư vấn và hướng dẫn

Điều quan trọng nhất trong chăm sóc hậu môn

nhân tạo là bảo vệ da khỏi phân, nước tiểu và

hóa chất bằng cách xử lý da nhẹ nhàng và sử

dụng các sản phẩm hỗ trợ đúng cách Điều này

sẽ làm giảm cơ hội cho các vấn đề về da(1)

Việc cung cấp tạm thời hoặc vĩnh viễn hậu

môn nhân tạo có thể gây ra nhiều khó khăn cho

bệnh nhân khi nhập viện và sau khi xuất viện

Vấn đề là cung cấp kiến thức và thực hành chăm

sóc hậu môn nhân tạo cho bệnh nhân nhằm cải

thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, đặc

biệt là đối với những bệnh nhân phải mang hậu

môn nhân tạo vĩnh viễn(5)

Hiện nay, tại Việt Nam nói chung và nhiều

bệnh viện đã phẫu thuật điều trị bệnh đại trực

tràng nói riêng, chưa quan tâm đúng mức đến

vấn đề giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân trước

và sau phẫu thuật có hậu môn nhân tạo Chưa có

nghiên cứu nào về chăm sóc hậu môn nhân tạo

tại nhà cho bệnh nhân được báo cáo Năm 2013,

nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành

chăm sóc bản thân của bệnh nhân có hậu môn

nhân tạo của tác giả Lê Thị Hoàn cho thấy tỷ lệ

bệnh nhân có kiến thức không chính xác: kiến

thức về hậu môn nhân tạo (34,9%), tự chăm sóc

(55,7%), quản lý biến chứng (59,4%) và dinh

dưỡng (25,5%)

Hàng năm, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành

phố Hồ Chí Minh có khoảng 260 trường hợp hậu

môn nhân tạo tạm thời và vĩnh viễn Bệnh viện

đã triển khai “phòng tư vấn chăm sóc hậu môn

nhân tạo cho người bệnh” Nhóm tư vấn là một

đội ngũ điều dưỡng thuộc khoa Ngoại Tiêu hóa

Đối tượng tư vấn chính là bệnh nhân và người

thân có hậu môn nhân tạo sau phẫu thuật trong toàn bệnh viện cũng như các bệnh viện khác có nhu cầu

Để cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và ngăn ngừa các biến chứng sau mở hậu môn nhân tạo đòi hỏi bệnh nhân phải có kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc đúng cách

Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu này

Mục tiêu của nghiên cứu

Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ và thực hành của người bệnh về chăm sóc HMNT

Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái

độ và thực hành của người bệnh, thân nhân người bệnh

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Tất cả người bệnh có chỉ định phẫu thuật đại trực tràng, sau phẫu thuật có hậu môn nhân tạo,

có hậu môn nhân tạo, hậu phẫu ngày thứ 6 trở đi,

có thể đọc, hiểu và đồng ý tham gia nghiên cứu Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Từ 25/2/2019 đến 30/4/2019 tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu định lượng, mô tả cắt ngang Công cụ thu thập dữ liệu

Nhập dữ liệu bằng phần mềm Dữ liệu Epi 3.1 Phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Đa số đối tượng trong nghiên cứu là nam (52,5%), tuổi trung bình là 55,55 tuổi, nhỏ nhất là

25 tuổi và cao nhất là 71 Dân tộc Kinh chiếm 94,9% Người bệnh không có tôn giáo chiếm 50% Người bệnh có trình độ trung học phổ thông (12/12) là 56,8%, một lượng nhỏ người bệnh có trình độ từ cao đẳng trở lên (19,5%) và không có người bệnh nào mù chữ (0%) Về tình trạng hôn

Trang 3

nhân, đối tượng nghiên cứu đa số đã lập gia

đình (93,2%) Nghề nghiệp lao động chân tay và

nghỉ hưu chiếm tỷ lệ lần lượt là 29,7% và 25,4%,

bên cạnh đó cũng có 1 lượng nhỏ (2,5%) người

bệnh đang trong tình trạng thất nghiệp phải

sống phụ thuộc người thân Nguồn thông tin

chủ yếu người bệnh nhận được từ nhân viên y tế

chiếm 50,8% (60/118) (Bảng 1)

Bảng 1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Dân tộc

Tôn giáo

Trình độ

Cao đẳng, đại học, sau

Tình trạng

hôn nhân

Nghề nghiệp

Nguồn tiếp

nhận thông

tin chủ yếu

Thân nhân và các bệnh

Sách, báo, tờ rơi, ti vi 21 17,8

Thời gian

mang

HMNT

Người chăm

sóc chính

Loại hậu môn nhân tạo của đối tượng nghiên cứu chủ yếu là hậu môn nhân tạo đại tràng chiếm 74,6% (88/118), còn lại 25,4% là hậu môn nhân tạo hồi tràng Về thời gian mang hậu môn nhân tạo, đa số người bệnh mở hậu môn nhân tạo chỉ mang tạm thời chiếm 85,6% (101/118), trong khi đó tỷ lệ này ở hậu môn nhân tạo vĩnh viễn là 14,4%

Người chăm sóc chính cho người bệnh sau phẫu thuật là con cái (39,8%) và vợ/chồng (37,3%), có 20,3% bản thân người bệnh tự chăm sóc, chỉ 1 lượng nhỏ 2,5% là đối tượng khác chăm sóc người bệnh như cha/ mẹ, bạn

bè, họ hàng

Kết quả kiến thức và thái độ của người bệnh

Bảng 2 Kết quả kiến thức của người bệnh

Có 73,7% người bệnh có kiến thức chưa

đúng (87/118) (Bảng 2)

Bảng 3 Kết quả thái độ của người bệnh

Có 71,2% NB có thái độ chưa đúng về chăm sóc hậu môn nhân tạo (Bảng 3)

Bảng 4 Kết quả về thực hành tự chăm sóc hậu môn

nhân tạo

Kết quả khảo sát cho thấy có đến 83,9% người bệnh thực hành tự chăm sóc hậu môn

nhân tạo không đạt (Bảng 4)

Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ của người bệnh tự chăm sóc hậu môn nhân tạo

Như vậy kiến thức liên quan không có ý nghĩa thống kê đến thái độ của người bệnh có

hậu môn nhân tạo (p=0,975>0,05) (Bảng 5)

Trang 4

Bảng 5 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ

của người bệnh

Thái độ

Kiến

thức

0,975

Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của

người bệnh tự chăm sóc hậu môn nhân tạo

Bảng 6 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành

của người bệnh

Thực hành

Kiến

thức

0,996

Như vậy, kiến thức liên quan không có ý

nghĩa thống kê đến thực hành của người bệnh có

hậu môn nhân tạo (p=0,996>0,05) (Bảng 6)

Mối liên quan giữa thái độ và thực hành của

người bệnh tự chăm sóc hậu môn nhân tạo

Bảng 7 Mối liên quan giữa thái độ và thực hành của

người bệnh

Thực hành

0,055

Như vậy, thái độ liên quan không có ý nghĩa

thống kê đến thực hành của người bệnh có hậu

môn nhân tạo (p=0,055>0,05) Tuy nhiên,

p=0,055 nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận

được, vì vậy tác giả khuyến cáo nên xem xét mối

quan hệ này và có thể chấp nhận rằng thái độ

đúng có thể ảnh hưởng đến thực hành chăm sóc

hậu môn đúng của người bệnh (Bảng 7)

BÀN LUẬN

Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Kết quả khảo sát về đặc điểm người bệnh

tương tự và một số khác biệt nhỏ so với kết quả

của tác giả Lê Thị Hoan nghiên cứu tại bệnh viện

Chợ Rẫy (2013)(3) Điều này phù hợp với đặc

điểm người bệnh khác nhau của từng bệnh viện

Kiến thức của người bệnh tự chăm sóc hậu môn nhân tạo

Khảo sát 118 người bệnh có hậu môn nhân tạo đang nằm viện qua 29 câu hỏi đánh giá kiến thức tự chăm sóc hậu môn nhân tạo, chúng tôi nhận thấy: đa số người bệnh chưa có kiến thức đúng về hậu môn nhân tạo (73,7%) Phần lớn người bệnh tham gia nghiên cứu đều biết hậu môn nhân tạo là lỗ mở chủ động ở ruột già, để thoát phân, thay thế hậu môn thật Giải thích về điều này, tác giả cho rằng người bệnh trước khi được phẫu thuật đã được bác sĩ giải thích kỹ về tình trạng hậu môn trước và sau mổ, đồng thời giải đáp thắc mắc của người bệnh

Tỷ lệ người bệnh không có kiến thức đúng

về hậu môn nhân tạo tương đồng kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hoan(3) (48,1%) Đây là vấn đề chúng ta cần quan tâm trong thời gian tới, vì tại sao người bệnh đã được nhân viên y tế giải thích những lợi ích và nguy cơ có thể xảy ra trong và sau mổ nhưng sao kiến thức của người bệnh về chăm sóc hậu môn nhân tạo chưa đạt vẫn chiếm

tỷ lệ cao Điều này được giải thích rằng, do người giải thích trước phẫu thuật chủ yếu là về điều trị, trong khi đó vai trò của điều dưỡng chưa được phát huy khi chuẩn bị người bệnh trước phẫu thuật Một số điều dưỡng, đặc biệt là những điều dưỡng trẻ còn thiếu tự tin, e ngại và rụt rè khi giải thích cho người bệnh, điều dưỡng mới chỉ thực hiện chức năng phụ thuộc còn chức năng độc lập và phối hợp chưa được phát huy triệt để

Giáo dục sức khỏe cho người bệnh trước và sau phẫu thuật rất quan trọng, cần thiết cho sự phục hồi và thành công của người bệnh có hậu môn nhân tạo(2) Mục tiêu cuối cùng của nhân viên y tế là giúp cho người bệnh có kỹ năng thực hành tốt(7) Để có thể thực hiện được điều này, nhân viên y tế đặc biệt là điều dưỡng rất quan trọng Tuy nhiên để có thể thực hiện được nhiệm

vụ truyền tải thông tin đến cho người bệnh, điều dưỡng cần có kiến thức đúng Thực tế, một nghiên cứu được tiến hành tại Đài Loan trên hai

Trang 5

trăm năm mươi điều dưỡng làm việc trong một

trung tâm y tế ở miền trung đã được chọn bằng

cách lấy mẫu ngẫu nhiên 248 câu hỏi đã hình

thành cơ sở phân tích dữ liệu Những phát hiện

chính của nghiên cứu này là: 258 điều dưỡng

(94,2%) có kinh nghiệm chăm sóc hậu môn nhân

tạo, chỉ có 2,5% điều dưỡng đã tham gia các

khóa học về chăm sóc hậu môn nhân tạo với

tổng số hơn tám giờ(6)

Thái độ của người bệnh về hậu môn nhân tạo

Hậu môn nhân tạo là một phẫu thuật

nhằm giảm triệu chứng tiêu hóa và ngăn ngừa

tiến triển bệnh, nhưng những thay đổi không

thể tránh khỏi về ngoại hình dẫn đến rối loạn

chức năng cơ thể và sự gián đoạn một số khía

cạnh cuộc sống người bệnh Người bệnh có

hậu môn nhân tạo thường có tâm lý tự ti, mặc

cảm và muốn cách ly khỏi mọi người xung

quan nếu không có thái độ đúng Nhân viên y

tế cần đưa ra lời khuyên liên quan đến việc giữ

gìn phẩm giá và nếu có thể thì tự chăm sóc độc

lập Cũng cần hỗ trợ tâm lý và cảm xúc cho

người bệnh có hậu môn nhân tạo, có thể giới

thiệu người bệnh đến chuyên gia tâm lý để trị

liệu nếu nhận thấy thái độ của người bệnh quá

tiêu cực đến tình trạng của họ nhằm tăng

cường khả năng quản lý phân một cách

chuyên nghiệp, tránh để người bệnh rơi vào

trạng thái căng thẳng dẫn đến trầm cảm(2)

Kết quả nghiên cứu của tôi cho thấy tỷ lệ

điều dưỡng có thái độ đúng đạt 28,8% (34/118)

trường hợp, thái độ chưa đạt là 84/118 (71,2%)

Trong khi kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thị

Hoan thấp hơn ở thái độ chưa đúng (41,5%) và

cao hơn ở thái độ đúng (58,5%)(3) Sự chênh lệch

này được giải thích do cách chọn mẫu, tác giả

chọn mẫu toàn bộ tất cả người bệnh có chỉ định

mở hậu môn nhân tạo ngày thứ 6, còn tác giả Lê

Thị Hoan chọn mẫu thuận tiện tức là có cả

những người bệnh đã có hậu môn nhân tạo và

được tái khám cũng đưa vào đề tài nghiên cứu

Sự giao tiếp trong xã hội là nhu cầu tất yếu

của con người, đối với những người có hậu môn

nhân tạo họ trải qua các giai đoạn cảm xúc nặng

nề từ không chấp nhận sự thật, đến chấp nhận nhưng mặc cảm và từ chối giao tiếp(4) Vì vậy, nhân viên y tế đặc biệt là điều dưỡng cần gần gũi, quan tâm và hướng dẫn giúp đỡ người bệnh

tự tin để hòa nhập xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống Vì vậy, tại bệnh viện nghiên cứu đã thành lập câu lạc bộ những người có hậu môn nhân tạo nhằm tạo điều kiện cho họ được tiếp xúc, giao lưu với những bệnh nhân cùng cảnh ngộ để có thể dễ dàng chia sẻ kinh nghiệm

và từ đó có thái độ đúng hơn, đồng thời cũng thay đổi thái độ của những người xung quanh đối với đối tượng bệnh nhân này

Thực hành tự chăm sóc của người bệnh có hậu môn nhân tạo

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ người bệnh thực hành đúng chiếm tỷ lệ thấp (16,1%), chỉ có 19/118 bệnh nhân thực hành tự chăm sóc hậu môn nhân tạo đạt, còn lại 99 người bệnh trong nhóm nghiên cứu thực hành không đạt (83,9%)

Tỷ lệ người bệnh thực hành đúng trong nghiên cứu của tác giả tương đối thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hoan 3,3 lần Điều này được giải thích do người bệnh sau mở hậu môn nhân tạo mệt mỏi thậm chí một số người bệnh còn đau nhiều nên khi thực hiện kỹ thuật chưa tập trung Đồng thời, người bệnh còn cảm giác lo lắng sau phẫu thuật nên khi thực hiện kỹ thuật

sẽ quên nhiều bước trong bảng kiểm

Mối quan hệ giữa kiến thức, thái độ và thực hành tự chăm sóc hậu môn nhân tạo

Liên quan giữa kiến thức và thái độ của người bệnh, giả thuyết cho rằng khi người bệnh

có kiến thức đúng thì thái độ sẽ thay đổi theo xu hướng tích cực Từ kết quả nghiên cứu của mình tác giả Lê Thị Hoan đã kết luận rằng khi người bệnh có kiến thức đúng thì thái độ của người bệnh sẽ tăng gấp 1,89 lần so với kiến thức không đúng với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,002) Tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi thấy không có sự khác biệt với điểm trung bình 2 nhóm kiến thức đúng và không đúng lần lượt là 0,29±0,46, 0,287±0,455 Sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu được tác giả giải

Trang 6

thích do đối tượng chọn mẫu của mỗi nghiên

cứu khác nhau nên sẽ cho kết quả khác nhau

Liên quan giữa kiến thức và thực hành,

trong nghiên cứu của chúng tôi không có sự

khác biệt Mặc dù không có ý nghĩa về mặt

thống kê, nhưng chúng ta cũng cần khuyến

khích người bệnh luôn tìm hiểu thông tin về hậu

môn nhân tạo để có thể tiếp cận với những dụng

cụ tiên tiến sẽ giúp thực hành tốt hơn và phòng

ngừa được biến chứng trong chăm sóc hậu môn

Liên quan giữa thái độ và thực hành, trong

nghiên cứu của chúng tôi không có sự khác biệt

Kết quả nghiên cứu này phù hợp với một số kết

quả nghiên cứu công bố trong nước(3)

Mặc dù trong nghiên cứu của chúng tôi,

chưa tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức, thái

độ và thực hành tự chăm sóc hậu môn nhân tạo

của người bệnh, nhưng chúng tôi vẫn luôn

khuyến khích người bệnh cần cập nhập kiến

thức, có thái độ tích cực và tuân thủ thực hành

nhằm giúp cho người bệnh chăm sóc hậu môn

nhân tạo tốt hơn, tự tin hơn, giảm các biến

chứng, giảm khả năng nhập viện và giảm chi phí

điều trị, nâng cao chất lượng cuộc sống và hòa

nhập cộng đồng

KẾT LUẬN

Đầu tiên, khẳng định rằng nghiên cứu đã

đưa ra những kết quả đánh giá kiến thức, thái độ

và thực hành của người bệnh tương đồng với

các tác giả khác Tỷ lệ người bệnh có kiến thức,

thái độ và thực hành chăm sóc hậu môn nhân

tạo thấp tương ứng như sau 26,3% (31/118 NB),

28,8% (34/118 NB) và 16,1% (19/118) Nghiên cứu

cho thấy rằng nhân viên y tế cần cung cấp thông tin một cách hiệu quả cho người bệnh bằng các hình thức khác nhau Mặc dù nghiên cứu chưa tìm ra mối tương quan giữa nhân khẩu học và kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc hậu môn nhân tạo cùng một lúc Tuy nhiên có một số yếu

tố cần cân nhắc như dân tộc, tuổi và nghiề nghiệp có thể ảnh hưởng đến thực hành của người bệnh Nghiên cứu có thể là cơ sở khoa học

để chúng tôi lựa chọn giải pháp cung cấp thông tin sức khỏe phù hợp cho đối tượng người bệnh

có hậu môn nhân tạo nhằm giảm biến chứng, nâng cao chất lượng sống và hòa nhập với xã hội

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Danielsen AK, Burcharth J, Rosenberg J (2013) Patient education has a positive effect in patients with a stoma: A

systematic review Colorectal Disease, 15(6):276–284

2 Junkin J, Beitz JM (2005) Sexuality and the Person with a Stoma

Journal of Wound, Ostomy and Continence Nursing, 32(2):121–128

3 Lê Thị Hoan (2013) Kiến thức, thái độ và thực hành của người

bệnh tự chăm sóc hậu môn nhân tạo Y học Thành phố Hồ Chí

Minh, 4(17):209–216

4 Lo SF, Wang YT, Wu LY, Hsu MY, Chang SC, Hayter M (2011) Multimedia education programme for patients with a stoma:

Effectiveness evaluation Journal of Advanced Nursing, 67(1):68–

76

5 Mansour EA, Alenezi AN (2016) Impact of Stoma Care Education in Minimizing the Incidence of Stoma Skin

Complications Bahrain Medical Bulletin, 38(3):151–153

6 Martins LM, Sonobe HM, Vieira FDS, De Oliveira MS, Lenza NDFB, Da Silva Teles AA (2015) Rehabilitation of individuals

with intestinal ostomy British Journal of Nursing, 24(S22):S4–S11

Considerations for the Ostomate Clinics in Colon and Rectal

Surgery, 30(3):157–161

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/10/2019

Ngày đăng: 24/10/2020, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w