1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò của hoạt động trị liệu trong mô hình đơn vị trí nhớ

11 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 379,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều trị dùng thuốc thì các phương thức trị liệu khác cũng có tầm quan trọng tương đương như dinh dưỡng trị liệu, hỗ trợ chăm sóc. Trong đó tầm quan trọng của Hoạt động trị liệu là hỗ trợ giúp bệnh nhân cải thiện các hoạt động liên quan đến thể chất, duy trì các hoạt động sống hàng ngày độc lập hay cải thiện khả năng ghi nhớ, nhận thức thông qua các hoạt động tập luyện kích thích nhận thức. Hiện nay, can thiệp Hoạt động trị liệu đã được chứng minh có hiệu quả trong nhiều nghiên cứu giúp người bệnh cải thiện nhận thức, hành vi thông qua cả 2 hình thức can thiệp nhóm và can thiệp cá nhân, và từ đó xây dựng môi trường an toàn với các tương tác xã hội thích hợp cho người bệnh.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TRỊ LIỆU TRONG MÔ HÌNH ĐƠN VỊ TRÍ NHỚ

Đỗ Ngọc Tùng * , Nguyễn Thị Bình **

TÓM TẮT

Tình hình bệnh nhân sa sút trí tuệ và suy giảm trí nhớ trên thế giới và tại Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng, cứ 3 giây trôi qua thì lại có thêm 1 bệnh nhân mới được chẩn đoán sa sút trí tuệ Chi phí điều trị và chăm sóc cho đối tượng này trở thành ghánh nặng lớn cho gia đình và xã hội do việc điều trị kéo dài, và không thể chữa khỏi hoàn toàn Hiện nay phần lớn đối tượng này thường bị bỏ sót ở giai đoạn sớm và chỉ được chẩn đoán, điều trị

ở giai đoạn muộn khi tình trạng bệnh khó cải thiện Điều này dẫn tới người bệnh mất khả năng thực thi các hoạt động sống cơ bản đồng thời xuất hiện các rối loạn hành vi tâm thần Vì vậy việc hiểu biết đúng về sa sút trí tuệ cũng như nhận biết sớm các dấu hiệu suy giảm trí nhớ, kịp thời tiếp cận các phương thức điều trị đã được chứng minh về hiệu quả là điều hết sức quan trọng Từ những lý do trên gần đây các đơn vị trí nhớ được thành lập tại các bệnh viện lớn nơi tập hợp các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực như bác sĩ thần kinh, tâm lý, dinh dưỡng, phục hồi chức năng, hoạt động trị liệu… nhằm mục đích chẩn đoán, phân loại, điều trị sớm và toàn diện cho các đối tượng trên Ngoài việc điều trị dùng thuốc thì các phương thức trị liệu khác cũng có tầm quan trọng tương đương như dinh dưỡng trị liệu, hỗ trợ chăm sóc Trong đó tầm quan trọng của Hoạt động trị liệu là hỗ trợ giúp bệnh nhân cải thiện các hoạt động liên quan đến thể chất, duy trì các hoạt động sống hàng ngày độc lập hay cải thiện khả năng ghi nhớ, nhận thức thông qua các hoạt động tập luyện kích thích nhận thức Hiện nay, can thiệp Hoạt động trị liệu đã được chứng minh có hiệu quả trong nhiều nghiên cứu giúp người bệnh cải thiện nhận thức, hành vi thông qua cả 2 hình thức can thiệp nhóm và can thiệp cá nhân, và từ đó xây dựng môi trường an toàn với các tương tác xã hội thích hợp cho người bệnh

Từ khóa: hoạt động trị liệu, sa sút trí tuệ, đơn vị trí nhớ, phục hồi chức năng

ABSTRACT

ROLE OF OCCUPATIONAL THERAPY IN MEMORY UNIT MODEL

Do Ngoc Tung, Nguyen Thi Binh

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 5 - 2019: 15 – 25

The number of patients with dementia and memory impairment is on the rise in the world and in Vietnam Every 3 seconds, there’ll be one new patient diagnosed with dementia The cost of treatment and care for this problem becomes a great burden for the family and society due to the prolonged and incurable treatment Currently, most of dementia at an early stage have not been diagnosed and only treated at a later stage when the condition becomes difficult to improve These lead to the patient's inability to perform basic daily living activities and appear some mental behavioral disorders Therefore, the right understanding of dementia, as well as the early recognition of symptoms of memory impairment and timely access to proven treatment methods, is extremely important From the above reasons, memory units have recently been established in center hospitals that including specialists in many fields such as neurologists, psychologists, nutritionists, rehabilitation, occupational therapists, etc aim to diagnose, classify, treat early and comprehensively for dementia In addition to pharmacology, other therapeutic treatments are equally important, such as nutritional therapy, palliative care; which emphasizes the importance of occupational therapy in this unit to help patients improve their physical activities, maintain

*Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh **Bệnh viện 30/4 TP Hồ Chí Minh

Trang 2

independent daily living activities, and improve memory and cognition through cognitive stimulation The therapy proved the effect which is applied in both individual and group interventions to help patients improve their awareness, behavior, and build a safe environment with appropriate social interactions

Keyword: occupational therapy, dementia, memory unit, rehabiliation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tình hình sa sút trí tuệ trên thế giới và tại

Việt Nam

Theo báo cáo của Liên đoàn quốc tế về bệnh

sa sút trí tuệ (SSTT) Alzheimer’s Disease

International, cứ 3 giây thì có một bệnh nhân

SSTT Có khoảng 46,8 triệu người trên toàn thế

giới mắc chứng SSTT vào năm 2015 Con số này

sẽ tăng gấp đôi sau mỗi 20 năm, đạt 75 triệu

người vào năm 2030 và 131,5 triệu vào năm

2050(9) Ở Việt Nam, 4%-8% số người trên 60 tuổi

mắc chứng SSTT và sẽ có khoảng trên 2 triệu

người có vấn đề này vào năm 2050(11,12)

Những bệnh nhân bị SSTT thường đi kèm

các vấn đề khác như nguy cơ té ngã cao, bệnh lý

nhồi máu cơ tim, bệnh lý rối loạn tiêu hóa, và

viêm phổi Một báo cáo năm 2017 về Alzheimer

tại Mỹ người ta nhận thấy bệnh này tạo ra gánh

nặng cho người nhà và người chăm sóc do đa số

xảy ra ở người ở người trên 65 tuổi, còn trên 65

tuổi càng lớn tuổi thì càng tăng Nhóm dân số

này nếu sống đến 85-90 tuổi thì một phần ba bị

SSTT và sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống và chất

lượng chăm sóc của người chăm sóc rất nhiều

Bệnh nhân SSTT sống từ 5 năm trở lên thì gánh

nặng cho người chăm sóc so với không SSTT

tăng lên gấp đôi Thường bệnh nhân SSTT sống

khoảng 10 – 15 năm chính vì vậy điều này sẽ trở

thành gánh nặng lớn cho gia đình và xã hội(9)

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các

báo cáo về bệnh nhân Alzhemer thế giới, năm

2015 chi phí dành cho chăm sóc, điều trị bệnh

nhân SSTT trên toàn cầu ước tính khoảng hơn

800 tỷ USD (tương đương 1% GDP toàn cầu) và

sẽ đạt tới 2.000 tỷ USD vào năm 2030(1) Vì vậy

chúng ta cần nâng cao hiểu biết về SSTT, huấn

luyện tham gia tập thể dục thường xuyên, thay

đổi chế độ ăn tốt, và tập luyện nhận thức tốt sẽ

giúp cải thiện được tình trạng SSTT trên người

cao tuổi(4) Việc điều trị SSTT rất tốn kém và kéo dài

vì không phải là bệnh có thể chữa khỏi hoàn toàn mà chỉ tập trung vào điều trị giảm triệu chứng Việc đưa người bệnh đến cơ sở y tế sớm sẽ giúp cho người bệnh được chẩn đoán đúng và có phác đồ điều trị phù hợp, giúp ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình tiến triển bệnh Đồng thời người bệnh còn được tập thể dục tăng cường vận động và giao tiếp hiệu quả Để đáp ứng nhu cầu đó hiện nay “Đơn vị trí nhớ” ở Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh được hình thành và đi vào hoạt động bước đầu với sự hỗ trợ đa chuyên ngành gồm bác sĩ đa khoa, bác sĩ thần kinh, điều dưỡng, chuyên viên tâm lý, ngôn ngữ trị liệu và hoạt động trị liệu Trong đó hoạt động trị liệu giữ vai trò quan trọng trong điều trị dự phòng, duy trì cái thiện tình trạng cho bệnh nhân SSTT, giúp khuyến khích bệnh nhân giao tiếp, hỗ trợ hoạt động với các bước đơn giản, giúp cải thiện trí nhớ, thể chất, tinh thần và độc lập hơn trong sinh hoạt động hằng ngày

TỔNG QUAN VỀ SA SÚT TRÍ TUỆ VÀ SUY GIẢM NHẬN THỨC

Sa sút trí tuệ

SSTT là tập hợp các triệu chứng gây ra bởi các rối loạn nghiêm trọng trong não, là kết quả của sự thoái hóa trong hệ thần kinh trung ương

Nó là một nhóm bệnh lý (mất trí nhớ mạch máu, mất trí thể lewy, chứng mất trí thùy trán – thái dương) Chứng SSTT phổ biến nhất là Alzhiemer đặc biệt ở người trên 65 tuổi(16)

SSTT cho thấy những thay đổi giải phẫu thần kinh hoặc hóa học thần kinh xảy ra ở những não nhạy cảm về mặt di truyền hoặc môi trường; nhiều tế bào thần kinh chết, ngưng chức năng hoặc mất kết nối với những tế bào thần kinh khác Những thay đổi bệnh lý được tìm thấy

Trang 3

thông qua kính hiển vi mô não có sự tích lũy

amyloid ở khoảng trống giữa các tế bào thần

kinh, tăng bạch cầu trung tính và rối loạn sợi

thần kinh, mất tế bào và synap thần kinh

Chẩn đoán chuẩn của SSTT đòi hỏi phải có

sự sa sút về trí nhớ và các chức năng nhận thức

khác đủ nặng để ảnh hưởng đến sinh hoạt cuộc

sống hằng ngày SSTT được phân làm 3 mức độ

SSTT nhẹ, SSTT vừa, SSTT nặng theo tiến triển

của bệnh

Nguyên nhân SSTT do hậu quả của mất tế

bào thần kinh và mất sự liên kết giữa các tế bào

thần kinh Hiện tại có nhiều cách phân chia

nguyên nhân được thực hiện như theo vị trí;

theo nguyên phát, thứ phát; theo thời gian

Về triệu chứng lâm sàng được phân chia theo

Thay đổi nhận thức

Quên (mới xuất hiện), khó hiểu trong giao

tiếp bằng lời nói và chữ viết, khó khăn trong việc

tìm từ để dùng, rối loạn định hướng, không biết

các sự kiện phổ biến

Các triệu chứng tâm thần

Chứng tự kỷ hoặc lãnh đạm, trầm cảm, nghi

ngờ, lo âu, mất ngủ, chứng sợ, hoang tưởng, ảo

giác hoặc kích động

Thay đổi nhân cách

Các mối quan hệ không thích hợp, bàng

quan, tránh các sinh hoạt xã hội, đùa giỡn hay

tán tỉnh quá mức, dễ thất vọng, có các cơn

giận dữ

Thay đổi về hành vi

Đi lang thang, kích động, làm ồn, đứng ngồi

không yên

Thay đổi các hoạt động hằng ngày

Khó khăn trong chạy xe, bị lạc đường, quên

công thức nấu ăn, thờ ơ chăm sóc bản thân, gia

đình, khó khăn trong quản lý tiền bạc, sai lầm

trong công việc

Suy giảm nhận thức (Mild cognitive

impairment – MCI)

Như chúng ta đã biết một số bệnh mất trí

có liên quan đến tuổi già Như quên tên một ai

đó, quên bỏ chìa khóa ở đâu, quên ngày tháng hay địa danh Tuy nhiên, nếu mất trí nhớ trở nên ngày càng trầm trọng, và ngày càng tiến triển, có thể gọi bệnh này là suy giảm nhận thức nhẹ (MCI)(16)

MCI là một giai đoạn trung gian giữa suy giảm nhận thức lão ở lão hóa bình thường và bệnh Alzheimer hoặc sự suy giảm tương tự Không phải tất cả mọi người bệnh MCI sẽ mắc bệnh mất trí nhớ Và cũng giống như SSTT, MCI không phải là một căn bệnh mà là một nhóm các các triệu chứng làm suy nghĩ trong bạn thay đổi

và khó khăn xử lý thông tin Vấn đề bộ nhớ là chỉ số phổ biến nhất của MCI Một người bệnh MCI cũng có thể gặp khó khăn trong suy nghĩ,

tư duy phản biện và ngôn ngữ hơn là những người trong quá trình lão hóa bình thường Vì lý

do không rõ mà MCI thường ảnh hưởng đến nữ nhiều hơn Các thành viên trong gia đình và bạn

bè những người nhận thấy những vấn đề này có thể không được quan tâm bời vì các triệu chứng sớm khó nhận biết và thường liên quan đến tuổi tác Những người đau buồn do bệnh MCI thường nhận ra rằng họ đang gặp khó khăn nhưng vẫn thực hiện trên hầu hết các hoạt động bình thường của họ và sống độc lập

Nguyên nhân của MCI thường không rõ ràng, nhưng bệnh xuất hiện ở một số có những yếu tố tương tự như bệnh Alzheimer Nguy cơ của bệnh MCI bao gồm những người trên 65 tuổi, có lịch sử gia đình về bệnh MCI, bệnh Alzheimer, hoặc hình thức khác của chứng mất trí Có một số tình trạng về y tế, chẳng hạn như huyết áp cao, tiểu đường, đột quỵ, cholesterol cao, hoặc bệnh tim, lạm dụng thuốc, rượu, thiếu tập thể dục

Hình ảnh não và nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng một số người bị MCI cũng có những mảng, đám rối cơ thần kinh thoát lại ở trung tâm bộ não

và được quan sát thấy như ở những người bị bệnh Alzheimer Một số người bị MCI không trở nên tệ hơn hoặc tiến triển đến bệnh Alzheimer, còn một số sẽ tiếp tục tiến triển các triệu chứng

Trang 4

dẫn đến Alzheimer

Các triệu chứng của MCI

Khó ghi nhớ những điều đơn giản

Khó khăn theo kịp một cuộc trò chuyện hoặc

chỉ dẫn cơ bản

Thường xuyên mất tập trung trong học tập

Quên các cuộc hẹn hoặc các sự kiện theo

lịch trình

Cảm thấy bị choáng khi bạn cố gắng làm kế

hoạch hoặc quyết định

Bị mất phương hướng ngay cả ở những địa

điểm quen thuộc

Với bệnh MCI, những thay đổi này không

xảy ra đột ngột mà tiến triển nặng dần hơn theo

thời gian Ngoài những triệu chứng này, nhiều

người với MCI cũng có triệu chứng về tình cảm

như trầm cảm, khó chịu, lo lắng hoặc thờ ơ

Chẩn đoán SSTT và MCI

Được chẩn đoán thông qua hỏi bệnh sử,

khám lâm sàng, khám tổng quát, cận lâm sàng

Tuy nhiên cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh

khác như:

Hội chứng trí nhớ

Giảm trí nhớ gần đơn độc

Thất ngôn tiếp nhận

Giảm chức năng nhận thức do không hiểu

được ngôn ngữ

Chậm phát triển tâm thần

Khả năng trí tuệ suy giảm, nhưng không

nhất thiết có giảm trí nhớ

Giả SSTT (Hội chứng trầm cảm giả SSTT)

Khoảng 50% bệnh nhân già có hội chứng

trầm cảm giả SSTT sẽ phát triển thành SSTT thật

sự trong vòng 3-5 năm

Giảm nhận thức ở người già

Giảm trí nhớ tuổi già, quên lành tính ở người

già hoặc suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) Các

triệu chứng không gây giảm hoạt động chức

năng hàng ngày Tuy nhiên, khoảng 25-35% tiến

triển thành SSTT trong vòng 18 tháng

Sảng

Giảm ý thức và sự chú ý thường thấy trong SSTT

Tiêu chuẩn chẩn đoán

Trước đây người ta sử dụng DSM – IV nhưng hiện nay sử dụng DSM-V hoặc tiêu chuẩn NIA-AA (2011) Chẩn đoán SSTT theo DSM - V (2013) dựa trên đánh giá 6 nhóm chức năng(2) Tập trung: duy trì,chọn lọc, phân tán và tốc

độ xử lý

Điều hành: lên kế hoạch, ra quyết định trí nhớ công việc, đáp ứng với phản hồi kềm chế và linh hoạt

Học tập và trí nhớ: tự nhớ, gợi nhớ, trí nhớ

mô tả, trí nhớ ngữ nghĩa và hình ảnh, trí nhớ dài hạn, kỹ năng nội sinh

Ngôn ngữ: định danh, tìm từ, trôi chảy, ngữ pháp và cấu trúc câu, hiểu lời hoặc chữ viết Chức năng vận động trí tuệ: nhận biết thị giác, phân tích cấu trúc bằng thị giác, kết hợp vận động trí tuệ

Nhận thức xã hội: nhận biết cảm xúc, lý giải suy nghĩ, phán đoán

Tiêu chuẩn NIA-AA(2011) dùng trên lâm sàng (7)

Giảm nhận thức, rối loạn hành vi ảnh hưởng đến hoạt động sống hằng ngày

Giảm so với trước đây

Không do sảng hoặc rối loạn tâm thần gây ra Suy giảm nhận thức được phát hiện và chẩn đoán qua việc kết hợp hỏi bệnh sử người thân và khám trạng thái tâm thần kinh Test đánh giá được sử dụng khi bệnh sử và khám không cung cấp một chẩn đoán tin cậy

Suy giảm nhận thức hoặc hành vi ảnh hưởng

ít nhất 2 nhóm trong 5 nhóm sau:

(1): Giảm trí nhớ

(2): Giảm chức năng điều hành

(3): Giảm chức năng thị giác không gian (4): Giảm chức năng ngôn ngữ

(5): Thay đổi cá tính hành vi

Trang 5

Khám thực thể bao gồm khám thần kinh

Khám thực thể một cách toàn diện bao gồm

cả khám thần kinh tìm các dấu hiệu của tai biến

mạch máu não, Parkinson

Trắc nghiệm thần kinh tâm lý

Các trắc nghiệm thần kinh tâm lý cung cấp

các bằng chứng khách quan giúp chẩn đoán

SSTT, giúp phân biệt các thể SSTT cũng như theo

dõi tiến triển của bệnh

Các trắc nghiệm sàng lọc

Trắc nghiệm đánh giá trạng thái tâm thần tối

thiểu (MMSE): là trắc nghiệm sàng lọc SSTT

được sử dụng rộng rãi nhất Thời gian để làm

trắc nghiệm này khoảng 7 phút Điểm tối đa của

trắc nghiệm MMSE là 30 điểm, dưới 24 điểm gợi

ý SSTT Phân loại SSTT dựa trên điểm số đạt

được với các mức nhẹ, trung bình (18-24 điểm),

nặng (10-17 điểm), rất nặng (dưới 10 điểm)

Trong đó người bệnh có khả năng bị MCI là từ

25-27 điểm Với điểm ngưỡng là 24, MMSE có độ

nhạy 87% và độ đặc hiệu 82% Tuy nhiên trắc

nghiệm này không nhạy với suy giảm nhận thức

nhẹ (MCI), và bị ảnh hưởng bởi tuổi và trình độ học vấn, ngôn ngữ, vận động và thị lực(6).

Mini-Cog(14): trắc nghiệm Mini-Cog bao gồm

vẽ đồng hồ và nhắc lại 3 từ không liên quan (không có gợi ý) Vẽ đồng hồ được xem là bình thường nếu tất cả các chữ số đúng vị trí và kim đồng hồ chỉ đúng

Cách cho điểm như sau: không nhắc lại được

từ nào coi như SSTT; nhắc đúng cả 3 từ coi như không SSTT; nếu nhắc được 1-2 từ thì dựa vào kết quả vẽ đồng hồ (bất thường = SSTT; bình thường = không SSTT)

Ưu điểm của Mini-Cog là có độ nhạy cao dự đoán tình trạng SSTT, thời gian làm trắc nghiệm ngắn hơn so với MMSE, dễ quản lý và giá trị chẩn đoán không phụ thuộc vào trình độ học vấn và ngôn ngữ Mini-Cog có độ nhạy và độ đặc hiệu tương tự như MMSE

Các trắc nghiệm đánh giá nhận thức toàn

diện: khi các trắc nghiệm sàng lọc nghi ngờ

SSTT/MCI cần tiến hành các trắc nghiệm đánh

giá sâu từng lĩnh vực nhận thức

Bảng 1 Công cụ đánh giá và tập luyện cho bệnh nhân SSTT

Chú ý tập trung

Trắc nghiệm đọc xuôi dãy số (digit span forward)

Trắc nghiệm nối dãy số-chữ (ví dụ Trail making Test A (TMT- A)

Chú ý tập trung

Trắc nghiệm nối dãy số-chữ (ví dụ Trail making Test A

(TMT- A) Trắc nghiệm nối dãy số-chữ (ví dụ Trail making Test B

(TMT- B)

Trí nhớ

Trí nhớ là lĩnh vực nhận thức bị ảnh hưởng nhiều nhất trong SSTT Có

ba loại trí nhớ: trí nhớ tức thì (immediate memory), trí nhớ gần (recent

memory) và trí nhớ xa (remote memory) Trong giai đoạn đầu của bệnh

Alzheimer, bệnh nhân thường có giảm trí nhớ gần, tức là khả năng học

thông tin mới Để đánh giá trí nhớ, có thể sử dụng các trắc nghiệm thần

kinh tâm lý như Nhớ lại câu chuyện: đọc một đoạn, yêu cầu bệnh nhân nhắc lại những ý

chính (nhắc lại ngay và nhắc lại sau 5 phút)

Nhớ hình ảnh: cho xem 10 hình ảnh, yêu cầu bệnh nhân nhắc lại ngay

và nhắc lại sau 5 phút

Trắc nghiệm gọi tên Boston có sửa đổi (Modified Boston Naming test):

cho bệnh nhân xem 1 tập gồm 15 hình vẽ in sẵn Yêu cầu bệnh nhân

gọi tên tức thì những hình vẽ này

Delayed Recognition: nhận biết muộn Đọc lại danh sách 20 từ để bệnh

nhân nhận biết những từ đã nghe trước đây

Thang đánh giá nhận thức: Motreal (MOCA) Bao gồm những khía cạnh nhận thức khác nhau: Chú

ý và tập trung, chức năng đều hành, trí nhớ, ngôn ngữ, kỹ năng kiến tạo, tư duy khái niệm, tính toán,

định hướng

Tối đa là 30 điểm thêm 1 điểm nếu bệnh nhân có học

vấn dưới 12 năm

Tổng điểm trên 26 được coi là bình thường

Thời gian thực hiện 10 phút

Trang 6

Đánh giá của bác sĩ Đánh giá của HĐTL

Ngôn ngữ

Bệnh nhân SSTT thường có thể nói được công dụng của một vật nhưng không thể nói tên vật đó Có thể đánh giá bằng trắc

nghiệm gọi tên của Boston (Boston Naming Test)

Nói lưu loát (Verbal fluency), là khả năng nói các từ hoặc câu liên tục không bị gián đoạn Các trắc nghiệm đánh giá nói lưu loát bao gồm nói lưu loát theo các ký tự hoặc âm vị: trong vòng một phút nói được càng nhiều từ bắt đầu bằng một ký tự nhất định Hoặc nói lưu loát theo loại hoặc ngữ nghĩa: nói các từ thuộc một loại nhất định (ví dụ các con vật) Bệnh nhân Alzheimer

thường giảm khả năng nói lưu loát

Đọc xuôi dãy số - Digit span forward

Đọc ngược dãy số - Digit span Backward

Thị giác không gian hay chức năng kiến trúc thị giác

(visuoconstructional functioning)

Thường được đánh giá trên lâm sàng, sử dụng những hình vẽ

chuẩn cho bệnh nhân vẽ lại (ví dụ đồng hồ, hình khối, hình chữ thập)

Hình vẽ của bệnh nhân Alzheimer thường là đơn giản hoá quá

mức, mất các góc, phối cảnh xa gần kém Hơn nữa, cách bố trí và trình

bày của họ thường thể hiện sự lên kế hoạch kém; điều này có thể phản

ánh sự phối hợp giữa thiếu hụt về thị giác không gian với kỹ năng điều

hành

Sự phối hợp này có thể dẫn đến những lỗi khác nhau khi bệnh

nhân làm trắc nghiệm vẽ đồng hồ

Một trong các trắc nghiệm được sử dụng phổ biến để đánh giá kiến

trúc thị giác là dưới test xếp hình (Block Design subtest) trong trắc

nghiệm Wechsler Người khám yêu cầu bệnh nhân ghép các hình khối

theo hình mẫu có sẵn

Đánh giá nhận thức hoạt động trị liệu LOTCA đo lường các kỹ năng nhận thức cơ bản và nhận cảm thị giác ở người lớn có suy yếu về thần kinh

Gồm 26 test nhỏ trong 6 lĩnh vực: định hướng, nhận cảm thị giác, nhận cảm không gian, lập kế hoạch vận động, tổ chức vận động thị giác, hoạt động tư duy

Tổng điểm từ 26 – 115 điểm

Kết quả được cung cấp dưới dạng tiểu sử cho từng test nhỏ, trong đó điểm số cao hơn cho thấy suy giảm

nhận thức hơn Thời gian thực hiện : 30 – 90 phút

Chức năng điều hành

Sử dụng các trắc nghiệm thần kinh tâm lý liên quan đến kỹ năng

giải quyết vấn đề mới

Thực hành động tác

Mất dùng động tác (Apraxia) là mất khả năng thực hiện các động tác đòi

hỏi kỹ năng phức tạp, không phải do những bất thường về vận động

Bệnh nhân không thực hiện được các động tác theo yêu cầu mà trước

kia họ có thể thực hiện một cách tự phát và dễ dàng Ngoài ra, họ có thể

không thực hiện được một chuỗi động tác hướng tới một mục tiêu cụ

thể Mặc dù là một trong các biểu hiện của SSTT giai đoạn muộn, mất

dùng động tác thường ít gặp trong bệnh Alzheimer giai đoạn sớm Để

đánh giá khả năng dùng động tác, người ta cho bệnh nhân làm các

động tác thông thường (ví dụ đánh răng, chải đầu) theo mệnh lệnh bằng

lời nói hoặc bắt chước động tác

Đánh giá hành vi tâm thần: Trầm cảm (GDS), rối loạn tâm thần (NPI)

Đánh giá cá tính và cảm xúc: Các bộ trắc nghiệm như Beck Depression

Inventory-II, Inventory of Depressive Symptomatology, và Quick

Inventory of Depressive Symptomatology có thể được sử dụng để đánh

giá các triệu chứng trầm cảm Một số bộ trắc nghiệm khác như Geriatric

Depression Scale và Cornell Scale for Depression in Dementia đã được

phát triển để sử dụng ở người già

Hoạt động sống hàng ngày (ADLs, IADLs)

Đánh giá khả năng hoạt động chức năng hàng ngày: các trắc nghiệm

thường dùng là thang điểm đánh giá hoạt động hàng ngày có sử dụng

dụng cụ (Instrumental Activities of Daily Living Scale; Lawton và Brody),

Independent Living Scales, và Daily Activities Questionnaire

Những trắc nghiệm này giành cho người nhà (hoặc người chăm sóc)

báo cáo, hoặc yêu cầu bệnh nhân thực hiện các nhiệm vụ tương tự như

hoạt động hàng ngày (ví dụ trang điểm, quay số điện thoại)

Hoạt động sống hàng ngày (ADL, IADL)

Công cụ đánh giá tình trạng hoạt động cùa Canada (COPM) thông qua việc phỏng vấn để xác định vấn đề đối với tình trạng vận động hiện tại mối lo ngại và các vấn đề, liệt kê các hoạt động hàng ngày muốn thực hiện, cần phải thực hiện, kỳ vọng thực hiện trong các hoạt động ADLs (ăn uống, mặc quần áo, tắm gội,vệ sinh,…), IADLs (đi lại, mua sắm, tài chính,…) Đánh giá qua việc thực hiện tác vụ trong ADLs, IADLs tại môi trường lâm sàng mô phỏng thực tế hoặc tại môi trường thực tế của khách hàng

Trang 7

Tuy nhiên rất nhiều trường hợp sa sút trí tuệ

không được chẩn đoán Trong một nghiên cứu

taị Châu Âu cho thấy khoảng trống giữa triệu

chứng đầu tiên và điều trị là 10 – 32 tháng(8) 74%

bệnh nhân tiếp cận bác sĩ đa khoa khi có tình

trạng hay quên và giảm nhận thức(5) Bác sĩ đa

khoa là người có nhiều cơ hội phát hiện sa sút trí

tuệ, tuy nhiên bác sĩ đa khoa bỏ qua đến 91%

trường hợp sa sút trí tuệ nhẹ(4,9) Nhận diện rối

loạn trí nhớ và SSTT: 5% người trên 60 tuổi bị

SSTT, 25 – 40% bệnh nhân đột quỵ bị SSTT,

25-50% bệnh nhân đái tháo đường nhập viện bị

SSTT, 16% người trên 60 tuổi than phiền về trí

nhớ trên 6 tháng bị SSTT.Vì vậy phát hiện sớm rất quan trọng

VAI TRÒ CỦA ĐƠN VỊ TRÍ NHỚ

Tiếp nhận những bệnh nhân có dấu hiệu nghi ngờ SSTT, suy giảm nhận thức (MCI) Đồng thời đánh giá y khoa, đánh giá sức khỏe tổng quát (bệnh sử, thăm khám, cận lâm sàng), chẩn đoán bệnh xác định yếu tố gây bệnh Nhân viên

y tế tham gia bao gồm bác sĩ lão khoa tổng quát, chuyên gia thần kinh và sa sút trí tuệ tâm thần, điều dưỡng, kỹ thuật viên (Hoạt động trị liệu, Ngôn ngữ trị liệu, Vật lý trị liệu), chuyên gia tâm

lý, hoạt động xã hội, người chăm sóc (Hình 1)

Hình 1 Sơ đồ hoạt động đa chuyên ngành của đơn vị trí nhớ

Đánh giá chức năng từ các chức năng từ cơ

bản đến nâng cao (test, hỏi bệnh) định hướng

cho chẩn đoán (MCI, Dementia), định hướng cho

điều trị (Phục hồi chức năng, Hoạt động trị liệu

và Nghề nghiệp trị liệu (âm nhạc trị liệu, hội họa

trị liệu, vườn trị liệu) Ngoài ra, còn đánh giá về

xã hội bao gồm cả người chăm sóc, cân nhắc về

luật pháp, can thiệp nội khoa, can thiệp tâm lý,

các liệu pháp điều trị không dùng thuốc, liên lạc

với các tổ chức xã hội khác, phục hồi chức năng,

sức khỏe cộng đồng, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu

Hiện tại, vẫn chưa tìm được phương pháp điều trị dứt chứng SSTT Do vậy, can thiệp chủ yếu tập trung vào nâng cao việc phòng ngừa thông qua việc loại bỏ yếu tố nguy cơ bao gồm:

có chế độ ăn uống tốt, chống béo phì, ổn định huyết áp, bỏ thuốc lá, ổn định đường huyết, tập thể dục tăng cường thể chất(8)

Nghiên cứu Okonkwo thực hiện năm 2014

Trang 8

cho thấy đối với nhóm người cao tuổi có hoạt

động thể chất, ít có các thay đổi liên quan đến

tuổi tác đối với Aβ, sự chuyển hóa đường máu,

thể tích hồi hải mã, trí nhớ ngắn hạn, năng lực

thị giác trong không gian so với nhóm người cao

tuổi không hoạt động thể chất đủ(13) Chính vì

vậy tập thể dục là một phương pháp có giá trị

lúc nào cũng dương tính trên các nghiên cứu

phòng ngừa ngăn ngừa chuyển từ tình trạng suy

giảm trí nhớ suy giảm nhận thức nhẹ sang SSTT

tỉ lệ rất tốt(8)

Liệu pháp can thiệp nhận thức (Cognitive

Interventions)

Được chia làm 3 nhóm:

Tập luyện nhận thứ c (Cognitive Training)

Sử dụng cho những người chưa bị quên,

chưa bị suy giảm nhận thức hoặc rất nhẹ những

bài tập ví dụ như chơi cờ, game trên máy tính

chuyên về trí nhớ MindMate

Phục hồi nhận thức (Cognitive Rehabilitation)

Điều trị cho những người bắt đầu giảm chức

năng nhận thức, việc điều trị dựa trên khám xét

xem chức năng nào bị giảm để tập luyện cho

phù hợp ví dụ như bệnh nhân giảm chú ý tập

trung thì cho những bài tập chú ý tập trung,

bệnh nhân giảm khả năng tính toán điều hành sẽ

có bài tập riêng

Kích thích nhận thứ c (Cognitive Stimulation)

Đối với bệnh nhân bị SSTT nhẹ vừa nặng

Những người bệnh sẽ ngồi chung với nhau và

hỗ trợ cho nhau thực hiện những bài tập kích

thích nhận thức phương pháp này được sử

dụng rất nhiều trên thế giới với những nhóm

“Day care center” - trung tâm điều trị ban ngày

hay nhà trẻ dành cho người già để người già

được đưa đến hàng ngày để thực hiện chức năng

nhận thức

Hiện nay người ta nhận thấy rằng kích thích

nhận thức là phương pháp cải thiện chức năng

nhận thức dành cho bệnh nhân SSTT như một

phân tích năm 2012 trên tạp chí Cochrane thì

việc kích thích nhận thức này cải thiện thang

điểm đánh giá nhận thức trên thang ADAS-cog

và thang MMSE Chính vì vậy kết luận cho thấy chương trình kích thích nhận thức có lợi cho nhận thức ở những người SSTT từ nhẹ đến trung bình hơn và hơn bất kỳ tác dụng thuốc nào(17) Hoạt động trị liệu tham gia điều trị thông qua 2 phương thức: trị liệu cá nhân, trị liệu nhóm với mục đích và cách tiếp cận tương đối khác nhau(15)

Trị liệu cá nhân

Là hoạt động cộng tác với khách hàng (KH) trong việc xác định các lĩnh vực đang khó khăn, khuyến khích hoạt động thể chất và hành vi khỏe mạnh Đối với KH có các vấn đề nhẹ về trí nhớ và mất chú ý giúp KH và người chăm sóc thiết lập thói quen hằng ngày và dán

nó ở vị trí trung tâm Nếu KH giảm sút hiệu suất công việc khám phá ý nghĩa của những hoạt động và những thay đổi vai trò đối với khách hàng và người chăm sóc Xác định các môi trường phù hợp, hoặc thích nghi cho những hoạt động mà nó là một thử thách hiện tại của khách hàng Các hoạt động huấn luyện được cá nhân hoá phù hợp theo tình trạng sức khoẻ, các khiếm khuyết hiện có cũng như tận dụng các thế mạnh của KH

Để hoạt động trị liệu có hiểu quả và giúp KH không rút lui khỏi cuộc điều trị người kỹ thuật viên cần giải thích cho người chăm sóc và người bệnh sự quan trọng của môi trường trong việc

xử lý chứng mất trí Hướng dẫn người bệnh duy trì các thói quen và thiết kế hỗ trợ môi trường (vd: danh sách, áp phích, và tranh ảnh) và mức

độ hỗ trợ (những tín hiệu, gợi ý)

Đối với những KH có khuynh hướng mất trí nhớ trung bình như mất các vật có giá trị như chìa khóa nhà, khó khăn trong việc học các nhiệm vụ mới và giải quyết vấn đề Cần hỗ trợ người bệnh thông qua phân tích và hướng dẫn các hoạt động thích nghi có ý nghĩa để tăng cường sự tham gia một cách an toàn, tránh các nhiệm vụ liên quan đến việc học điều mới, đơn giản hóa môi trường xung quanh và nhiệm vụ,

Trang 9

làm các đồ vật có thể tiếp cận được, đơn giản hóa

sự hướng dẫn

Đối với các KH suy yếu vừa phải trong ADL

cao cấp (mua sắm, tài chính) thiết kế các cách để

thích nghi với các hoạt động, cung cấp các hỗ trợ

nhận thức (bằng lời) cho các hoạt động IADL

Duy trì sự tham gia về các hoạt động có ý nghĩa

và những vai trò phản ứng thay thế Để xử lý

hành vi tấn công dạy cho chăm sóc cách xác định

vấn đề, hiểu các nguyên nhân có thể có của hành

vi đó (ví dụ: cảm nhận, các sự kiện trước đây, ai,

ở đâu, khi nào,vấn đề y tế, nhiệm vụ hoặc môi

trường, vấn đề giao tiếp) Giúp người bệnh thích

nghi hành vi bản thân hoặc thay đổi môi trường

Đối với những KH không thể thực hiện hầu

hết những IADL cao cấp Về ADL, sự hỗ trợ là

cần thiết cho các hoạt động đi vệ sinh, vệ sinh cá

nhân, ăn uống và mặc quần áo Dạy học các kỹ

thuật như định hình (khuyến khích cũng cố dần

dần để tạo ra hành vi mục tiêu), xâu chuỗi hoạt

động trong các phương pháp huấn luyện chuỗi

ngược, chuỗi xuôi (liên kết các kỹ năng thành

phần để dạy một hành vi phức tạp, làm mẫu

(học thông qua sự quan sát và bắt chước)

Đối với những KH bắt đầu các dấu hiệu của

mất kiểm soát tiêu tiểu, có các hành vi đi lang

thang Người chăm sóc hay gia đình cần đảm

bảo sự an toàn ở nhà và ở những môi trường

khác thông qua sự thích nghi Các ví dụ có thể

dùng là báo thức giúp xác định thời điểm cho

từng hoạt động thường ngày, tránh sử dụng các

thiết bị nhiệt và những dụng cụ sắc nhọn; chốt

phòng lại và ban đêm, đeo vòng tay nhận dạng;

sử dụng những tín hiệu gợi ý thị giác để định vị

vị các đồ vật, khuyến khích sự di chuyển dự

phòng hoặc được hỗ trợ và tập thể dục thường

xuyên Ở môi trường mới, gợi ý và hỗ trợ khách

hàng trong việc định hướng, cung cấp thêm ánh

sáng và những biểu thị bằng hình ảnh để gợi ý,

duy trì sự nhất quán của thối quen sinh hoạt

hàng ngày để tạo điều kiện thuận lợi cho sự

tham gia vào những tác vụ

Đối với những KH suy yếu trí nhớ trầm

trọng có thể quên đi tên các thành viên trong gia đình, trở nên bối rối với những điều quen thuộc xung quanh Trong thực hiện các hoạt động ADL (vệ sinh, cho ăn) hướng dẫn người chăm sóc về những điều cần thiết cho như thực hiện các giao tiếp đơn giản, khẩu lệnh ngắn, gợi ý bằng lời từng bước hướng dẫn thể chất; khuyến khích người chăm sóc sử dụng chương trình nghỉ ngơi và duy trì các hoạt động vui chơi cá nhân

Trong trường hợp KH không thể giao tiếp ngoại trừ lẩm bẩm hoặc nói những từ đơn Không thể đi hoặc ăn có thể cần trợ giúp từ cơ sở điều dưỡng tại nhà thì nên sử dụng các kỹ thuật

về khó nuốt để thúc đẩy nuốt, ngăn ngừa sặc, khuyến khích ăn; hướng dẫn gia đình các kỹ thuật dịch chuyển, phòng ngừa co rút bằng đặt

vị thế đúng và các bài tập ROM, hướng dẫn gia đình kiểm tra da, cung cấp sự kích thích cảm giác có kiểm soát bao gồm âm thanh, sờ chạm, thị giác để duy trì sự tiếp xúc với thực tại

Trị liệu nhóm

Thường áp dụng cho một nhóm KH có cùng một đặc điểm về nhận thức hay khó khan khi thực hiện hoạt động Mục tiêu sử dụng phuơng thức này giúp tạo sự gắng kết liên hệ giữa các thành viên ,tương tác giao tiếp với nhau; cung cấp hy vọng cho sự thay đổi tích cực, giúp họ nhận ra rằng mình không phải là người duy nhất có vấn đề, tăng giá trị bản thân, phát triển

kỹ năng hòa nhập xã hội, tạo điều kiện học tập các hành vi tích cực thông qua bắt chước; giúp các thành viên học tập lẫn nhau có thể trải nghiệm, cung cấp phản hồi ngay lập tức Các hình thức tập luyện được áp dụng rất đa dạng tuy nhiên chương trình học tập thường lặp đi lặp lại để giúp KH hình thành trí nhớ, thói quen giúp duy trì, tăng kỹ năng xử lý phản xạ, tăng kỹ năng vận động, hỗ trợ sinh hoạt độc lập trong ADL và IADL Thông thường một buổi học trong trị liệu nhóm gồm nhiều phần khác nhau tuy nhiên luôn luôn có các phần cơ bản như sau: Kích thích nhận thức

Trang 10

Hoạt náo trí óc

Vận động tay chân

Chơi vận động theo nhóm

Tập luyện nhận thức dãy số

Cung cấp vốn từ

Khéo tay xếp giấy

Tập hát

Bài tập về nhà

Hỗ trợ người chăm sóc

Phòng ngừa bệnh

Ngoài ra hiện nay trên thế giới đang áp dụng

một số cách can thiệp mới, được nghiên cứu cho

thấy có kết quả bệnh nhân SSTT và suy giảm

nhận thức Trong năm 2015-2017 liệu pháp kích

thích não bằng điện hoặc từ trường của Nguyen

thực hiện với phương pháp cho bệnh nhân làm

những bài học rồi trong quá trình tập nhận thức

sẽ kích thích bằng từ trường hoặc kích thích điện

bằng những điện cực gắn bên ngoài não rồi sau

đó lặp lại liên tục trong liệu trình 5 tuần, 5 ngày 1

tuần Sau 6 tháng kiểm tra đánh giá lại MMSE,

thang điểm ADAS-Cog score có sự cải thiện

điểm rõ rệt Kết quả nghiên cứu này mở ra cách

điều trị mới cho bệnh nhân Đây là phương pháp

mới trong việc hỗ trợ hiệu quả điều trị(10) Một

nghiên cứu khác về một hương pháp tiếp cận đa

ngành đối với bệnh Alzheimer và chứng SSTT

đánh giá tường thuật về điều trị không dùng

thuốc của tác giả ZucchellaC năm 2018 về điều

trị phi dược lý (NPT) Nghiên cứu bao gồm một

loạt các phương pháp và kỹ thuật, có thể đóng

một vai trò trong điều trị Alzheimer (AD) và

chứng mất trí Mục đích để xem xét, với một

cách tiếp cận tường thuật, bằng chứng hiện tại

về NPT chính cho AD và SSTT Kết quả cho thấy

NPT có vai trò lớn trong điều trị AD và chứng

SSTT Các loại NPT chính đã được xem xét bao

gồm tập thể dục và phục hồi chức năng vận

động, phục hồi nhận thức NPT gồm công nghệ

thông tin và truyền thông, hỗ trợ công nghệ và

domotics, thực tế ảo, chơi game và điện ảnh(18)

Trên tạp chí Chăm sóc sức khỏe cộng đồng

2018 nghiên cứu của tác giả Avila có tên là “Thúc đẩy độc lập chức năng ở những người mắc bệnh Alzheimer: kết quả của một can thiệp Hoạt động trị liệu tại nhà ở Tây Ban Nha” Hoạt động trị liệu đang hứa hẹn là một phương thức các thiệp

có hiệu quả cho những người mắc bệnh Alzheimer (AD) Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng cho thấy can thiệp hoạt động trị liệu tại nhà chuyên sâu có ảnh hưởng tích cực đến các hoạt động hàng ngày và một số chức năng nhận thức, cho thấy chương trình này có thể có ích như một công cụ bổ sung phi phẫu thuật trong chăm sóc sức khỏe và xã hội cho những người mắc AD sống trong cộng đồng(3)

KẾT LUẬN

Việc điều trị SSTT không chỉ dựa vào một số khía cạnh đơn thuần như thuốc và chế độ ăn mà phải kết hợp tập luyện não bộ và tập thể dục tăng cường thể chất thường xuyên thông qua tiếp cận các phương thức trị liệu đa chuyên ngành Mặc dù điều trị không dùng thuốc (NPT) thường được áp dụng theo cách tiếp cận đa ngành đối với SSTT, nhưng bằng chứng hỗ trợ cho việc sử dụng chúng vẫn còn sơ bộ Các nghiên cứu tập trung ở các nước trên thế giới thực hiện trên dân số của họ hiện tại chưa có ở Việt Nam Một số nghiên cứu cho thấy tác dụng

có ý nghĩa thống kê của điều trị không dùng thuốc đối với một số kết quả, nhưng ý nghĩa lâm sàng của chúng là không chắc chắn Cần thiết có các nghiên cứu ngẫu nhiên có nhóm chứng để khám phá hiệu quả của NPT trong SSTT, các nghiên cứu sâu hơn để đưa ra cơ sở sinh học thần kinh về tác dụng của NPT và so sánh hiệu quả chi phí của nó ở những bệnh nhân mắc chứng SSTT

Có thể thấy hiện trạng người bị SSTT không ngừng gia tăng trên thế giới và cả ở Việt Nam nhưng hiện tại ở nước ta việc chẩn đoán và điều trị còn mới, số lượng người được khám và điều trị còn hạn chế bên cạnh những người chưa được khám và được điều trị Đơn vị trí nhớ ra đời có vai trò thiết thực để hỗ trợ bệnh nhân

Ngày đăng: 24/10/2020, 10:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w