1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự hiểu biết về hoạt động vật lý trị liệu của nhân viên y tế bệnh viện Nhân Dân Gia Định

7 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 339,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hiểu rõ về vật lý trị liệu (VLTL) của các bác sĩ và điều dưỡng sẽ tư vấn người bệnh tiếp cận với dịch vụ VLTL nhằm hỗ trợ điều trị giảm nhẹ tình trạng khuyết tật và phụ thuộc cho người bệnh ở mọi lứa tuổi thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau. Khảo sát sự hiểu biết về hoạt động VLTL của nhân viên y tế tại Bệnh viện (BV) Nhân Dân Gia Định

Trang 1

SỰ HIỂU BIẾT VỀ HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ TRỊ LIỆU CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

Ngô Thị Bích Ly * , Nguyễn Thị Ngọc Phương **

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Sự hiểu rõ về vật lý trị liệu (VLTL) của các bác sĩ và điều dưỡng sẽ tư vấn người bệnh tiếp cận

với dịch vụ VLTL nhằm hỗ trợ điều trị giảm nhẹ tình trạng khuyết tật và phụ thuộc cho người bệnh ở mọi lứa tuổi thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau

Mục tiêu: Khảo sát sự hiểu biết về hoạt động VLTL của nhân viên y tế tại Bệnh viện (BV) Nhân Dân

Gia Định

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 428 nhân viên y tế để khảo sát sự hiểu biết về

hoạt động VLTL qua bộ câu hỏi 20 câu được sử dụng để thu thập thông tin, sau đó xử lí và phân tích số liệu qua phần mềm SPSS 20.0 với các phép kiểm Pearson’s Correlation, Independent - samples T test và one-way ANOVA

Kết quả: Nhận biết đúng của nhân viên y tế cao nhất và thấp nhất ở từng vấn đề như sau: đối tượng bệnh

nhân (người cao tuổi 91,6% - trẻ sơ sinh 61,1%), các dạng bệnh (cơ xương khớp 88,9% - tim mạch 45%), các lĩnh vực ứng dụng trong VLTL (vận động trị liệu 95,5% - âm ngữ trị liệu 23,8%) và các giai đoạn cần can thiệp của VLTL (trước mổ 77% và sau mổ là 96,5%) Tỉ lệ thường xuyên tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL 27% Có mối liên quan thuận giữa độ tuổi (r=0,178, p=<0,0001), thời gian công tác (r=0,157, p=0,001), nhu cầu cần hỗ trợ VLTL (r=0,445, p=<0,0001) với sự tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL Có sự khác biệt giữa tư vấn với sự hiểu biết hoạt động VLTL bao gồm đối tượng bệnh nhân (trẻ sơ sinh p=0,013, người lớn p=0,008, người cao tuổi p=0,028), dạng bệnh (chấn thương chỉnh hình p=0,013, thần kinh p=0,049, hô hấp p=0,034), lĩnh vực VLTL (vận động trị liệu p=0,015, hoạt động trị liệu p=0,024) và VLTL trong phẫu thuật (trước p=0,039, sau p=0,036), nhu cầu cần thêm thông tin VLTL, có trao đổi thông tin VLTL, sự công nhận về vai trò và hiệu quả của VLTL

Kết luận: Sự hiểu biết về hoạt động VLTL của nhân viên y tế BV Nhân Dân Gia Định là khả quan, hầu

hết nhận biết được các đặc điểm và chức năng của VLTL trong hỗ trợ điều trị Tuy nhiên, tỉ lệ thường xuyên

tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL còn thấp Nghiên cứu cũng xác định một số yếu tố về đặc điểm cá nhân, sự hiểu biết về hoạt động VLTL, nhu cầu hỗ trợ VLTL, cũng như sự công nhận về vai trò và hiệu quả của VLTL và sự trao đổi thông tin VLTL có thể tạo ra thay đổi trong sự tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL

Từ khóa: sự hiểu biết, vật lí trị liệu, nhân viên y tế

ABSTRACT

UNDERSTANDING OF PHYSICAL THERAPY ACTIVITIES AMONG MEDICAL STAFF AT GIA DINH PEOPLE'S HOSPITAL

Ngo Thi Bich Ly, Nguyen Thi Ngoc Phuong

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 – No 5 - 2019: 126 – 132

Background: Thorough understanding of physical therapy (PT) among physicians and nurses will counsel

*Khoa Vật Lí Trị Liệu – Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

**Bộ môn Điều dưỡng, khoa Điều dưỡng – Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: CN Ngô Thị Bích Ly ĐT: 0937261600 Email: ngothibichly29011983@gmail.com

Trang 2

patients to access PT services to help kinds of medical treatments to alleviate the conditions of disability and dependence for patients of all ages from many different specialties

Objectives: To survey the current levels of understanding about PT activities among medical staff in Gia

Dinh People's Hospital

Methods: A cross-sectional descriptive research was conducted on 428-member medical staff to suvey the

understanding of PT activities through a set of twenty questions to collect information whose data has then been complied, processed and analyzed by using SPSS 20.0 software with Pearson’s Correlation, Independent-samples

T test and one-way ANOVA.

Result s: Correct understanding of medical staff with the highest and lowest rate in each issue was as follows: patient subjects (elderly 91.6%-infants 61.1%), types of diseases (musculoskeletal 88, 9% - cardiovascular 45%), areas of application in PT (therapeutic exercise 95.5%-speech therapy 23.8%) and stages of intervention of PT (preoperative 77% and postoperative 96.5%) The rate of regular counseling or referring patients to the PT department was 27% There was a positive relationship between age (r=0.178, p=<0.0001), working time (r=0.157, p=0.001), need for PT support (r=0.445, p=<0.0001) with counseling or referring patients to the PT Department There were differences between the counseling or the referring and the understanding of PT activities including patient subjects (infant p=0.013, adult p=0.008, elderly p=0.028), types of diseases (orthopedic p=0.013, neurological p=0.049, respiratory p=0.034), areas of application in PT (therapeutic exsercise, p=0.015, occupational therapy p=0.024), stages of intervention of PT ((preoperative p=0.039, postoperative p=0.036), the need for more information on PT or the exchange of information to and from physiotherapists, recognition of the role and effectiveness of PT.

Conclusion: The understanding of PT activities among the medical staff of Nhan Dan Gia Dinh Hospital is

positive Most of all are aware of the characteristics and functions of PT in supplemental treatment However, the rate of regular counseling or referring patients to the PT department is low The study also identifies a number of factors about personal characteristics, understanding of PT activities, the need for PT support , the exchange of information to and from physiotherapists and recognition of the role and effectiveness of PT that could create a change in counseling or referral of patients to the PT Department

Keywords: understanding, physical therapy, medical staff

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vật lý trị liệu (VLTL) đã được công nhận là

phương thức điều trị trong những năm qua và

đang phát triển nhanh chóng thành một chuyên

khoa, đặc biệt ở các nước đang phát triển(10,15)

Các chuyên ngành của VLTL giúp điều trị giảm

nhẹ tình trạng khuyết tật và phụ thuộc(12) cho

bệnh nhân ở mọi lứa tuổi(18) thuộc nhiều chuyên

khoa như: tim mạch, hô hấp, chỉnh hình, thần

kinh, thể thao(19) Điều này nhấn mạnh nhu cầu

tổ chức và phát triển các hoạt động của Vật lý trị

liệu – Phục hồi chức năng (VLTL-PHCN) trong

cơ cấu y tế đa ngành

Để chuyên nghiệp hóa ngành VLTL và đem

dịch vụ của VLTL đến được với người có nhu

cầu, cần sự hỗ trợ của các thành viên tham gia

chăm sóc sức khoẻ(16) Trong đó, các BS, ĐD cần hiểu khả năng VLTL có thể tham gia hỗ trợ điều trị bệnh nhân, ngăn ngừa sự tăng thêm của các biến chứng, giảm thời gian nằm viện xuống mức thấp nhất(16,18) và giảm gánh nặng cho hệ thống y

tế Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã phản ánh về thái độ, cùng với sự hiểu biết và niềm tin của các nhân viên y tế đối với VLTL(1,2,3,4,7,16) Tuy nhiên, đối với các tài liệu nghiên cứu trong nước còn hạn chế, chưa có sự đánh giá về hiểu biết của nhân viên y tế đối với hoạt động VLTL Do

đó, nghiên cứu khảo sát sự hiểu biết của nhân viên y tế đối với hoạt động VLTL tại BV Nhân Dân Gia Định là cần thiết

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả sự hiểu biết về hoạt động VLTL của

Trang 3

nhân viên y tế BV Nhân Dân Gia Định

Xác định tỷ lệ tư vấn hoặc giới thiệu bệnh

nhân đến khoa VLTL

Xác định mối liên quan giữa việc tư vấn hoặc

giới thiệu bệnh nhân (BN) đến khoa VLTL với sự

hiểu biết của nhân viên y tế về hoạt động VLTL

và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bác sĩ (BS), Điều dưỡng (ĐD) đang làm việc

tại các khoa có bệnh nhân nội trú tại BV Nhân

Dân Gia Định

Tiêu chí đưa vào

BS, ĐD đang làm việc ở các Khoa có bệnh

nhân nội trú và đồng ý tham gia nghiên cứu sau

khi được nhà nghiên cứu giải thích về mục đích

nghiên cứu

Tiêu chí loại ra

BS, ĐD đang nghỉ hậu sản hay đang đi học

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả có phân tích

Cỡ mẫu

Có 428 nhân viên

Kỹ thuật chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện, phân tầng ngành nghề

Công thu thập số liệu

Bộ câu hỏi tự điền, gồm 5 câu về thông tin

nền (tuổi, giới tính, khoa công tác, công việc

đảm nhiệm, thâm niên công tác), 2 câu về nhu

cầu và tư vấn VLTL và 13 câu về sự hiểu biết,

cảm nhận về VLTL được xây dựng dựa vào 2

bộ câu hỏi của Al-Eisa(4), Alshehri(15) Bộ câu

hỏi đã được dịch 2 chiều và rút gọn dựa vào

tình hình của Bệnh viện Gia Định và kiểm

định độ tin cậy qua nghiên cứu thử 20 trường

hợp với Cronbach’s là 0,724

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Bằng phần mềm SPSS 20.0, kết quả nghiên

cứu được trình bày theo tần số, tỷ lệ phần trăm

cho biến định tính và trung bình (độ lệch chuẩn)

cho biến định lượng

Kiểm định các yếu tố liên quan: phép kiểm Pearson’s Correlation, Independent T-test và One-way ANOVA

KẾT QỦA

Trong số 428 người tham gia nghiên cứu, chỉ

có 404 người trả lời bảng câu hỏi hợp lệ Kết quả

được trình bày qua các bảng sau:

Các đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu

Bảng 1 Các đặc điểm chung: (N=404)

Tuổi

Giới tính

Khoa công tác

Công việc đảm nhiệm

Thời gian công tác

Trước tiên, kết quả cho thấy về tuổi (đa số còn trẻ ≤35 tuổi, chiếm 62%) và thâm niên công tác (≥5 năm chiếm 67,8%) của nhân viên y tế là một điều kiện thuận lợi vì kinh nghiệm làm việc rất cần thiết trong công tác điều trị và chăm sóc người bệnh nhưng tuổi trẻ có thể là một yếu tố tốt vì dễ dàng cập nhật và tiếp thu những điều mới Ngoài ra, phần lớn nhân viên là nữ (74,8%)

và là ĐD (69,6%) sẽ đáp ứng tốt trong công tác chăm sóc bệnh nhân Nghiên cứu cũng thể hiện rằng, số lượng nhân viên y tế chủ yếu đang làm tại các Khoa Nội (42,3%) và Ngoại (39,9%) là những nơi mà thực tế có số lượng bệnh nhân

Trang 4

đông và có sự can thiệp của VLTL nhiều, phù

hợp với báo cáo mỗi ngày tại khoa VLTL Điều

này có thể giải thích vì BV Nhân Dân Gia Định là

một BV đa khoa nên số lượng bệnh nhân của

khối Sản và Nhi không chiếm nhiều so với các

chuyên khoa Nội và Ngoại

Mô tả sự hiểu biết của nhân viên y tế đối với

hoạt động VLTL

Bảng 2 Đối tượng, dạng BN của VLTL, các lĩnh vực

được VLTL ứng dụng và sự hỗ trợ của VLTL cho BN

giai đoạn trước mổ và sau mổ

VLTL có thể hỗ trợ những đối tượng BN nào?

VLTL có thể hỗ trợ những dạng BN nào?

Các lĩnh vực mà VLTL tại BV Nhân Dân Gia Định ứng dụng?

VLTL có thể hỗ trợ cho bệnh nhân trước mổ không?

VLTL có thể hỗ trợ cho bệnh nhân sau mổ không?

Qua Bảng 2 cho thấy, các nhân viên y tế nhận

biết được các đối tượng bệnh nhân của VLTL với

tỉ lệ chọn cao trên 60% và người cao tuổi chiếm tỉ

lệ cao nhất (91,6%) Đây là một con số khả quan

cho thấy nhân viên hiểu về đối tượng của ngành

VLTL Người cao tuổi là đối tượng thường gặp

các bệnh lí mạn tính và các biến chứng của nó

như bệnh lý cơ xương khớp, đột quỵ do đái tháo

đường hay cao huyết áp, COPD và đây là những

bệnh lý rất cần đến sự can thiệp hỗ trợ của VLTL Với kết quả nhận biết các đối tượng bệnh nhân của VLTL như đã bàn luận, cũng phù hợp với kết quả trên 70% phản hồi cho thấy tình trạng bệnh lý cần hỗ trợ của VLTL là cơ xương khớp, chấn thương chỉnh hình, thần kinh và hô hấp Tuy nhiên chỉ có 45% phản hồi cho rằng bệnh lý tim mạch là dạng bệnh mà VLTL cần can thiệp Điều này cũng khá hợp lí với điều kiện cơ

sở vật chất tại khoa VLTL BV Nhân Dân Gia Định, vì thực chất VLTL cho bệnh nhân tim mạch là một chuyên môn sâu và đòi hỏi phải có đầy đủ các thiết bị theo dõi Tại BV Nhân Dân Gia Định, đối với bệnh nhân Tim mạch thì chủ yếu được hướng dẫn tập VLTL hô hấp Ngoài

ra, nghiên cứu ghi nhận, vận động trị liệu và hoạt động trị liệu là 02 lĩnh vực được cho rằng đang áp dụng tại Khoa VLTL với tỉ lệ chọn cao lần lượt là 95,5% và 60,4% Tuy nhiên, tỉ lệ được lựa chọn thấp nhất là Âm ngữ trị liệu (23,8%).Với những sự chọn lựa này một phần nào phản ánh được sự hiểu biết của số đông nhân viên y tế đối với hoạt động VLTL tại BV Nhân Dân Gia Định là đúng, vì Âm ngữ trị liệu chỉ có một số BV tại Việt Nam đã đang áp dụng như: BV An Bình, BV Chợ Rẫy, BV Bạch Mai và đây là chuyên ngành còn mới và đang được đào tạo một vài năm gần đây tại Việt Nam Mặt khác, tỉ lệ các nhân viên y tế cho rằng sự hỗ trợ của VLTL ở giai đoạn sau mổ (96,5%) cao hơn giai đoạn trước mổ (77%) Sự hỗ trợ VLTL ở giai đoạn trước và sau mổ có thể tạo thuận cho quá trình hồi phục của bệnh nhân nhanh hơn, giảm thời gian nằm viện, ngăn ngừa các biến chứng(6,9,14,17)

Một vài nghiên cứu cho rằng việc tập VLTL trước mổ thời gian nên kéo dài khoảng 1-2 tuần

để đạt hiệu quả tối đa(8,9) Vấn đề tập VLTL trước

mổ cũng được thực hiện tại BV tuy nhiên việc chỉ định, giới thiệu bệnh nhân của các BS với VLTL chỉ khoảng 1-2 ngày Do đó có thể ảnh hưởng đến hiệu quả VLTL và làm chậm sự hồi

phục của người bệnh sau mổ

Trang 5

Bảng 3 Thông tin về VLTL

Thảo luận với đồng nghiệp về sự cần thiết

Từng nói chuyện với nhân viên VLTL về vấn

Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận đa

số nhân viên y tế được học VLTL tại trường Y,

cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến

sự hiểu biết đối với VLTL(1,3,16) nhưng vẫn còn

18,3% chưa phân biệt được rằng VLTL và Y Học

Cổ Truyền là 2 chuyên ngành khác nhau Việc

không hiểu rõ về VLTL có thể gây trì hoãn hoặc

thực hiện giới thiệu VLTL không phù hợp(13)

Nhưng mặt khác của nghiên cứu cho thấy, các

nhân viên y tế có thái độ tích cực đối với VLTL

vì tỉ lệ cao (trên 80%) các nhân viên y tế có sự

thảo luận với đồng nghiệp của mình về sự cần

thiết của can thiệp VLTL trong điều trị và đã

từng nói chuyện với các nhân viên VLTL về vấn

đề chăm sóc bệnh nhân Tỉ lệ này cao hơn so với

nghiên cứu của Alshehri, chỉ 59,3% đã làm việc

với một nhóm VLTL hoặc PHCN và 79,6% đã

thảo luận về nhu cầu can thiệp VLTL với các

đồng nghiệp của họ(3) Kết quả cũng hợp lí khi có

97,5% nhân viên y tế vẫn muốn biết thêm thông

tin về VLTL Đây là một tín hiệu đáng mừng vì

nhân viên y tế của bệnh viện luôn mong muốn

nâng cao kiến thức của mình để giúp người

bệnh hồi phục tốt nhất Điều này gần giống với

nghiên cứu Alshehri, 83,3% các BS hài lòng biết

thêm về các dịch vụ VLTL(3), cũng phù hợp

nghiên cứu của Al Mohammedali Z, có 75,2%

các BS tin rằng họ cần thêm thông tin về vai trò

VLTL trong chăm sóc hô hấp(2)

Cảm nhận về VLTL tại BV Nhân Nhân Gia Định

Kết quả của nghiên cứu ghi nhận, tỉ lệ những

người cho rằng VLTL có hiệu quả tốt (87,9%) và

có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc thứ

cấp (97,3%) Kết quả này gần giống với nghiên

cứu của Al Mohammedali Z, hầu hết các BS và

ĐD (90,4%) cho rằng VLTL là một thành viên

quan trọng của khoa săn sóc đặc biệt ICU(2)

nhưng cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Alshehri chỉ 11% các BS cho rằng VLTL có vai

trò quan trọng trong chăm sóc thứ cấp(3) Ngoài

ra, kết quả còn cho thấy lí do được chọn nhiều nhất khiến vai trò của VLTL chưa được công nhận là vì VLTL chỉ hỗ trợ thêm thuốc của BS, tương ứng nghiên cứu của Al-Eisa(1)

Xác định tỉ lệ tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến khoa VLTL

Bảng 4 Nhu cầu hỗ trợ VLTL tại khoa đang công tác

và sự tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL của nhân viên y tế

Câu hỏi

Tỉ lệ Không

bao giờ

Hiếm khi

Thỉnh thoảng

Thường xuyên

Nhu cầu BN cần đến sự

hỗ trợ điều trị VLTL tại Khoa

Tư vấn hoặc giới thiệu

So với nhu cầu cần hỗ trợ VLTL thường xuyên tại khoa (chiếm 55,2%) thì tỉ lệ tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân thường xuyên là 27%, cao hơn so với nghiên cứu của Al-Eisa, tỉ lệ này là 11%(1) Tuy nhiên tỉ lệ tư vấn hoặc giới thiệu này còn thấp so với nhu cầu cần hỗ trợ VLTL thường xuyên Điều này cho thấy có thể BS và ĐD chưa thật sự hiểu hết khả năng mà VLTL có thể hỗ trợ điều trị và chăm sóc nhằm đem lại sức khỏe tốt nhất cho người bệnh Vì vậy, VLTL cần tạo ra sự nhận thức tốt hơn về ngành nghề của mình Trong nghiên cứu của Alshehri cho thấy, hầu như tất cả các BS (92,6%) đều tự tin giới thiệu bệnh nhân của họ cho các nhà VLTL nhưng 50% trong số họ cho rằng VLTL không tạo ra nhận thức tốt về dịch vụ VLTL(3), tương đương với báo cáo của Karthikeyan và Jones, chỉ thấy 44,1% chuyên gia y tế tin rằng các nhà VLTL tạo ra nhận thức về VLTL(11)

Xác định mối liên quan giữa việc tư vấn, giới thiệu BN đến khoa VLTL với sự hiểu biết của nhân viên y tế đối với hoạt động VLTL và các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Xem xét Bảng 5, tuổi càng cao, thâm niên

Trang 6

càng lâu có mối tương quan thuận với việc tư

vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến khoa VLTL

Điều này là phù hợp vì khi tiếp xúc lâu năm với

nhiều dạng bệnh nhân, nhân viên y tế sẽ hiểu rõ

hơn nhu cầu của người bệnh trong đó có nhu

cầu về VLTL

Bảng 5 Mối liên hệ giữa các yếu tố tuổi, thời gian

công tác, nhu cầu hỗ trợ VLTL và sự tư vấn, giới

thiệu bệnh nhân đến khoa VLTL

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của

Al-Eisa, những người trả lời thường xuyên giới

thiệu bệnh nhân đến Khoa VLTL làm việc có

kinh nghiệm từ 11-15 năm(1) Ngoài ra, BS và ĐD

khi nhận thấy nhu cầu người bệnh cần hỗ trợ VLTL tại khoa càng cao thì sẽ có xu hướng tư vấn hoặc giới thiệu người bệnh đến khoa VLTL nhiều hơn Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Feburger chỉ ra rằng sự khác biệt trong việc giới thiệu VLTL cho người bệnh không chỉ là do nhu cầu sức khỏe mà còn do nhiều yếu tố khác tác động có thể là do không tiếp cận được, hay tiếp cận không đúng với dịch vụ VLTL(7)

Bảng 6 cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về việc tư vấn hoặc giới thiệu bệnh nhân đến khoa VLTL dựa trên sự khác biệt về hiểu biết hoạt động VLTL như: nhận biết các đối tượng bệnh nhân, dạng bệnh, các lĩnh vực VLTL, VLTL trong phẫu thuật, muốn biết thêm thông tin về VLTL, có thảo luận về VLTL hay nói chuyện với nhân viên VLTL

Bảng 6 Mối liên hệ giữa sự hiểu biết và sự cảm nhận về hoạt động VLTL với sự tư vấn, giới thiệu bệnh nhân

đến khoa VLTL

Đối tượng bệnh nhân của VLTL

Dạng BN của VLTL

Lĩnh vực được ứng dụng của VLTL

Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của

Alshehri, sự hạn chế kiến thức về dịch vụ VLTL

của các BS và thiếu sự hợp tác giữa các BS và

VLTL là yếu tố ảnh hưởng đến sự tư vấn sử

dụng dịch vụ VLTL(3) Bên cạnh đó, việc cho

rằng VLTL có vai trò quan trọng trong việc chăm

sóc thứ cấp và có hiệu quả tốt trên bệnh nhân có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong việc tư vấn hoặc giới thiệu VLTL Sự khác biệt trong nhận định về hiệu quả của VLTL cũng cho thấy

sự khác nhau có ý nghĩa thống kê trong việc tư vấn giới thiệu người bệnh sử dụng VLTL Kết

Trang 7

quả này tương tự với nghiên cứu của Archer, các

BS giới thiệu bệnh nhân đến VLTL, chủ yếu dựa

trên kỳ vọng về kết quả thể chất và vận động mà

VLTL tạo ra(4)

KẾT LUẬN

Thông qua nghiên cứu cho thấy, sự hiểu biết

về hoạt động VLTL của nhân viên y tế tại BV

Nhân Dân Gia Định là khả quan, hầu hết nhận

biết được các đặc điểm và chức năng của VLTL

trong hỗ trợ điều trị Tuy nhiên, tỉ lệ thường

xuyên tư vấn hoặc giới thiệu BN đến Khoa VLTL

chưa cao chỉ ở mức 27%

Nghiên cứu cũng xác định một số yếu tố về

đặc điểm cá nhân, sự hiểu biết về hoạt động

VLTL, nhu cầu hỗ trợ VLTL, cũng như sự công

nhận về vai trò và hiệu quả của VLTL và sự

trao đổi thông tin VLTL có thể tạo ra thay đổi

trong sự tư vấn hoặc giới thiệu BN đến khoa VLTL

KIẾN NGHỊ

Nghiên cứu cần được thực hiện ở nhiều

bệnh viện khác nhau và đồng thời trong phương

pháp lấy mẫu nên chọn là ngẫu nhiên thay vì

thuận tiện để tăng tính đại diện Đối với VLTL

cần có trách nhiệm quảng bá nghề nghiệp của

mình thông qua việc tổ chức các buổi tập huấn,

hội thảo hay chuyên đề nhằm tăng cường sự

hiểu biết về VLTL, từ đó giới thiệu người bệnh

tiếp cận với dịch vụ VLTL nhiều hơn để hỗ trọ

tăng khả năng hồi phục hay duy trì chức năng

cho người bệnh ở mức cao nhất Bên cạnh đó,

việc tăng hiểu biết về VLTL của nhân viên y tế sẽ

tăng hiệu quả của hợp tác đa ngành nhằm chăm

sóc sức khỏe tối ưu nhất cho người bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Al-Eisa ES, Al-Hoqail H, Al-Rushud A, et al (2016) Awarness,

perception and beliefs about physiotherapy held by physicians

working in Saudi Arabia Journal of Physical Therapy Science,

28:3435–3439

2 Al Mohammedali Z, O'Dwyer TK, Broderick JM (2016) The

emerging role of respiratory physiotherapy: A profile of the

attitudes of nurses and physicians in Saudi Arabia Ann Thorac

Med, 11(4):243-248

3 Alshehri MA, et al (2018) Factors affecting the extent of

utilization of physiotherapy services by physicians in Saudi

Arabia J Phys Ther Sci, 30(2):216-222

4 Archer KR, et al (2009) Factors associated with surgeon referral for physical therapy in patients with traumatic lower-extremity injury: results of a national survey of orthopedic trauma

surgeons Phys Ther, 89(9):893-905

5 Atif M, et al (2018) Association between the Vicious Cycle of Diabetes-Associated Complications and Glycemic Control

among the Elderly: A Systematic Review Medicina, doi:

10.3390/medicina54050073

6 Boujibar F, Bonnevie T, Debeaumont D, et al (2018) Impact of Prehabilitaion on morbidity after pulmonarylobectomy by

minimally invasive surgery: a cohort stydy J Thorac Dis,

10(4):2240–2248

7 Freburger JK, Carey TS, Holmes GM (2005) Physician referrals

to physical therapists for the treatment of spine disorders Spine

J, 5(5):530-41

8 Frésard I, Adler D, Bhatia C, et al (2013) Should cardiopulmonary rehabilitation be provided to patients with

lung cancer? Rev Med Suisse, 9(381):760–763

9 Gao K, Yu PM, Su JH, et al (2015) Cardiopulmonary exercise testing screening and pre-operative pulmonary rehabilitation reduce postoperative complications and improve fast-track

recovery after lung cancer surgery: A study for 342 cases Thorac

Cancer, 6:443-9

10 James JJ, Stuart RB (1975) Expanded role for the physical

therapist Screening musculoskeletal disorders Phys Ther,

55:121–131

11 Karthikeyan P, Jones A (2015) Knowledge of physiotherapy services among hospital-based health care professionals in

Papua New Guinea PNG Med J, 58:55–60

12 Kerssens JJ, Groenewegen PP (1990) Referrals to physiotherapy: the relation between the number of referrals, the indication for

referral and the inclination to refer Soc Sci Med, 30: 797–804

13 Lee K, Sheppard L (1998) An investigation into medical students’ knowledge and perception of physiotherapy services

Aust J Physiother, 44:239–245

14 Licker M, et al (2017) Short-Term Preoperative High-Intensity Interval Training in Patients Awaiting Lung Cancer Surgery: A

Randomized Controlled Trial J Thorac Oncol, 12(2):323-333

15 Murphy BP, Greathouse D, Matsui I (2005) Primary care

physical therapy practice models J Orthop Sports Phys Ther,

35:699–707

16 Odebiyi OD, Aiyejusunle CB, et al (2011) Comparison of the knowledge and perception of physiotherapy by medical students of the institutions with and without physiotherapy

training programme Nigerian Postgraduate Medical Journal,

18(4):282-287

17 Santa MD, et al (2014) Effect of total-body prehabilitation on postoperative outcomes: a systematic review and meta-analysis

Physiotherapy, 100(3):196-207

18 Silva DM, Clark SD, Raymond G (1981) California physician’s

professional image of therapists Phys Ther, 61:1152–1157

19 Sran MM, et al (2009) Postgraduate physiotherapy training: interest and perceived barriers to participation in a clinical

master’s degree programme Physiother Can, 61:234–243

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/08/2019 Ngày bài báo được đăng: 10/10/2019

Ngày đăng: 24/10/2020, 10:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w